Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Hồn và xác lễ hội

08/02/2012 24 phút đọc BBT
Những vần thơ đầy nuối tiếc của thi sĩ Hoàng Cầm nay vẫn ám ảnh chúng ta về một miền ký ức mà tâm thức người
Hồn và xác lễ hội

Những vần thơ đầy nuối tiếc của thi sĩ Hoàng Cầm nay vẫn ám ảnh chúng ta về một miền ký ức mà tâm thức người Việt chưa hề sao nhãng. Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên/Những hội hè đình đám/ Trên núi Thiên Thai/ Trong chùa Bút Tháp/ Giữa huyện Lang Tài/ Gửi về may áo cho ai/ Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?

Những trang ký ức

Tuy đã có câu ca Tháng giêng là tháng ăn chơi, nhưng có lẽ người Việt có quá ít thời gian “ăn chơi” so với nhiều dân tộc khác trên thế giới. Trong hoàn cảnh ấy, nông dân đành nói túng: “Chơi đâu không bằng chơi nhà, quà đâu không bằng quà cơm”.

Trong 7.966 lễ hội (*) một năm có tới 7.039 lễ hội dân gian, nghĩa là do dân một làng, thậm chí một xóm hay cũng có thể một tổng, một huyện tổ chức để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của chính mình. Dân không có điều kiện chơi xa thì đến lễ hội ngay trong làng mình, huyện mình, không chỉ để vui chơi mà còn thỏa mãn những khát vọng và tín ngưỡng của tâm linh vốn là đòi hỏi phần hồn rất chính đáng của họ.

Nhiều lễ hội có từ ngàn xưa đi cùng sự trường tồn của dân tộc. Đó là những trang ký ức sinh động của nhân dân về quá khứ thịnh suy, cay đắng, ngọt bùi. Từ trong gen, trong máu thịt, nhân dân quen cảm nhận bài học và kỷ niệm cũng như những triết lý thâm hậu nhất của cha ông qua lễ hội và những loại hình văn hóa dân gian khác.

Thời xa xưa hồn nhiên “một con một của chẳng ai từ”, cha ông đã ca ngợi tín ngưỡng phồn thực và có không ít lễ hội với những cách thể hiện độc đáo. Bộ sinh thực khí cách điệu bằng gỗ hay đá được rước công khai và chạm vào nhau sau tiếng trống “tùng gí” hay tiếng hô của lão làng trong lễ hội trò trám (12 tháng giêng) của một xóm ở Phú Thọ, lễ hội Đồng Kỵ (6 tháng giêng) của một xã hay lễ hội đền Hùng (10 tháng ba) của cả nước.

Hội trò trám có hẳn cả cuộc lễ linh thiêng nhất vào lúc nửa đêm cho nam nữ diễn trò “linh tinh tình phộc”, đưa “nõ nường” chạm vào nhau trong đêm tối và sau đó là trò “tháo khoán” táo bạo mang vẻ hồn nhiên hoang dã cho nam nữ dự hội.

Sự nghiệp sản xuất lúa nước luôn được đề cao trong một loạt lễ hội khắp Bắc Trung Nam với những trò diễn, trò chơi mô phỏng nghệ thuật cuộc sống lao động nhà nông hay phong tục của làng xã như hội đua bò (miền Nam) chọi trâu (miền Bắc). Hầu như địa phương nào cũng có lễ hội ca ngợi chiến công và anh hùng giữ nước. Đó là những trang ký ức lễ hội đậm nhất, được duy trì bền bỉ nhất trong mọi thời, kể cả thời Bắc thuộc hay Pháp thuộc.

http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/998/545998.jpg
Múa lân trong lễ hội làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) - Ảnh: Nguyễn Việt Cường

Du lịch và lễ hội ngày nay

Hồn của lễ hội vẫn là tín ngưỡng hay minh triết của cộng đồng. Nhưng nhu cầu thư giãn cũng rất lớn nên bên cạnh việc thờ cúng hay thể hiện triết lý tín ngưỡng, lễ hội nào cũng phải có trò chơi, âm nhạc (thường là hát chầu văn, quan họ...) kèm nhảy múa để lôi cuốn đông đảo quần chúng không chỉ trong phạm vi một xóm, một xã mà còn cả tỉnh, cả nước như hội chùa Hương, Yên Tử hay hội Bà Chúa Xứ.

Và từ thuở xa xưa, lễ hội nào cũng có một “phiên chợ” ăn theo, chẳng kém sôi nổi so với phần “hội”, đặc biệt đối với trẻ con. Vì hễ có đông người là có chợ để thỏa mãn nhu cầu ăn uống, mua sắm và du khách thường không bỏ lỡ dịp mua vật lưu niệm hay đặc sản địa phương.

Vì thế mà lễ hội thường gắn với du lịch. Nhiều địa phương tìm cách quản lý lễ hội để dễ dàng làm du lịch. Nhưng lễ hội hay du lịch, chợ hay hội, cái nào là chính, ai tìm đến ai đây? Trong bản chất, tổ chức lễ hội là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Cũng trong bản chất, du lịch là kỹ nghệ xanh nhằm “moi” tiền du khách, tăng trưởng kinh tế bằng văn hóa. Nếu kết hợp không khéo hai thứ phần hồn và phần xác ấy thì có khi thất thu cả hai, như thường thấy trong nhiều lễ hội ở nước ta.

Dẫu biết vai trò Nhà nước là quan trọng, vì với một lễ hội lớn có hàng triệu lượt người tham gia trong mấy tháng liền như hội chùa Hương, thì không thể phó thác cho xã hay buông trôi cho tư nhân. Nhưng đã bao năm nay, câu chuyện các nhà nước cấp tỉnh quản lý (như ở hội chùa Hương hay Bà Chúa Xứ) lại thấy có vẻ như càng quản càng lắm rối rắm và bất cập.

Nguyên nhân căn bản của sự bất lực nhiều năm mà ít người muốn thừa nhận là: quản lý nhà nước đậm phần hành chính đã làm mờ nhạt hoặc lấn át phần tâm linh của lễ hội. Khi phần tín ngưỡng trong lễ hội không được từng người tham gia tự giác coi trọng thì phần vui chơi sẽ lấn lướt, không có công cụ nào có thể thay thế thánh thần và đức tin để lập lại trật tự mong muốn. Mà nhân dân thường sợ trời Phật hơn dùi cui cảnh sát.

Thảm hại hơn là những lễ hội được khoán trắng cho các công ty du lịch. Bởi việc thu tiền và lợi nhuận sẽ được đưa lên hàng đầu, phần hồn của lễ hội bị bỏ quên, bị triệt tiêu cũng thường thấy. Nhiều người nay đến hội để “vui là chính”, để “nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh”, để mua hàng lưu niệm, để có thú vui ẩm thực, cũng đi rước, cũng thắp hương, khấn vái nhưng không biết mình đang khấn vái, cầu xin ai.

Hội chùa Hương, Yên Tử cũng như ở rất nhiều chùa chiền miếu mạo có lễ hội trên đất nước, nơi dân chúng tìm đến để được cầu xin bằng an, đang bị xâm lấn bởi chợ - nơi năm nào cũng bày đầy những thứ hàng lưu niệm nghèo nàn và tẻ nhạt...Phần “hồn” còn bị nhũng nhiễu bởi đội quân bán quà vặt và thầy cúng dỏm vụ lợi. Mà sự đam mê trần tục chỉ có hiệu quả trong thời gian ngắn, kết cục là lễ hội mỗi ngày một teo tóp lại. Vẻ đẹp thiêng liêng cũ đã mất, cái đẹp mới thì vẫn chưa tìm thấy.

Kết hợp một thứ rất cũ (lễ hội) với một thứ rất mới (du lịch) đòi hỏi hiểu biết văn hóa thâm sâu. Nhưng khi chưa tìm đủ sự thâm sâu ấy trong quản lý lễ hội, cái lợi nhất thời có mùi đồng tiền vẫn lấn át cái hồn lâu đời của lễ hội. Cuộc tấn công của du lịch và quảng cáo vào lễ hội xảy ra liên tục, thường xuyên với những hình thức có khi đến lố bịch như chai rượu khủng hay bánh chưng xốp cống vua Hùng năm nào... vẫn đang lớn lên như một nguy cơ.

Khơi lại suối nguồn trong trẻo

Sự thật thì lối ra ở ngay trong tầm tay tầm mắt nếu người ta thật sự muốn nhìn, muốn có, chịu gõ cửa và... muốn bước ra. Bước đầu tiên là phải thật sự tôn trọng phần hồn của một số lễ hội. Cái phần hồn ấy, như tín ngưỡng phồn thực với hình thức biểu hiện có một không hai ở một số lễ hội miền Bắc, miền Trung như sự tôn vinh nghề trồng lúa nước, sự thờ cúng anh hùng liệt sĩ lịch sử... khẳng định và nhắc nhở thuần phong mỹ tục không thể tính thành tiền, càng không phải là cơ hội để cho ai đó, nhóm nào đó kiếm chác.

“Lợi nhuận” của những lễ hội này là cả tương lai của dân tộc, nguồn suối nuôi dưỡng sinh khí và “nguyên khí” của một vùng, một xứ. Du lịch chỉ nên kết hợp vừa đủ để thanh khoản chi phí quản lý. Cái lợi văn hóa của phần “hội” sẽ lớn hơn rất nhiều lần phần “chợ”.

Có người sẽ hỏi: vậy lấy tiền đâu để tôn tạo, trùng tu di tích? Tiền quan trọng bậc nhất nhưng không quyết định được phần hồn của một người huống gì một lễ hội. Không đủ tiền duy trì lễ hội chỉ đáng buồn chứ không đáng sợ.

Bao đời nay, chùa Hương, Yên Tử, các chùa Tây Phương, chùa Mía, nơi có hàng trăm bức tượng cổ mấy trăm năm tuổi vẫn là danh lam, thắng cảnh, lễ hội vẫn diễn ra đều đặn hằng năm kể cả trong thời chiến. Nhưng nay thật đáng sợ khi ngắm lại dãy tượng lừng danh của chùa Mía được “trùng tu” sau một dự án lớn của Bộ VH-TT&DL, đáng sợ khi lễ ban ấn đền Trần vốn là nghi thức giao trách nhiệm công quyền sau Tết Nguyên đán của các vua sáng đời Trần đã biến thành cuộc chạy chức ảo của một số ông quan béo bụng ngày nay.

Cũng thật buồn khi ngắm hệ thống cáp treo chạy trên đầu con đường mòn thái thượng hoàng Trần Nhân Tông từng khăn gói quả mướp lận rừng tìm đường lên suối nguồn Trúc Lâm Thiền phái. Không hiểu vì sao tám trăm năm sau, đàn con cháu đại lãn lại phải ngồi cáp treo để lên núi thắp hương viếng đấng minh quân trong lễ hội Yên Tử, như thể không còn bám được vào từng tấc đất mà thượng hoàng đã di chúc là “không thể để mất”? “Hãy tùy duyên mà vui với đạo”, câu thơ của bậc khai sáng nhắc rằng nếu ngại cả việc leo núi thì đi hội Yên Tử làm gì?

Và hãy trở về với hơn bảy ngàn cái hội làng, tùy cơm gắp mắm, đơn sơ, bình dị nhưng phần hồn ấy của ngày hội vẫn ngàn lần nặng hơn phần xác ồn ào.

http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/997/545997.jpgẢnh: Cấm Thủy

 

Hội làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) - một làng quê Kinh Bắc cổ có nghề mộc danh tiếng - không chỉ hấp dẫn ở lễ rước pháo mà còn ở tục chọn và tung ông Đám - một nghi lễ độc đáo tái hiện hình ảnh bốn vị tướng từng theo thành hoàng làng là Đức Thánh Thiên Cương đời vua Hùng thứ 6 đánh giặc.

Diễn ra trong ba ngày (mồng 3-4 và 5 tết), bốn giáp của Đồng Kỵ chọn mỗi giáp một “ông Đám” - là một người đàn ông có uy tín, đều 50 tuổi, sức khỏe tốt, gia đình êm ấm, trong năm làm ăn phát đạt và không có tang.

Sau khi được chọn, các trai tráng trong làng mặc quần cộc đỏ, cởi trần nhấc bổng ông Đám lên cao, bắt đầu cuộc đua tung các ông Đám. Ông Đám của giáp nào được giữ vững trên những cánh tay giơ cao kết lại thành khối săn chắc của các tráng đinh giáp đó trong một đám rước cuồng nhiệt quanh sân đình.

Ông Đám vừa giữ thăng bằng vừa thể hiện nét mặt vui vẻ và những động tác múa, đấu võ đầy vẻ hùng dũng để khích lệ tinh thần người dân trong giáp. Ông Đám nào trụ vững lâu nhất trên tay các tráng đinh sẽ mang về niềm vui may mắn cho cả giáp năm đó.

NGUYỄN QUANG THÂNTuổi trẻ

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu