Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Bản có nhiều thiếu phụ không chồng

30/01/2010 7 phút đọc Thiện Chí
Có một bản người Thái, chỉ từ năm 2004 đến giữa 2009 đã có 37 người, chủ yếu là thanh niên, chết vì nhiễm HIV, trong
Bản có nhiều thiếu phụ không chồng
Có một bản người Thái, chỉ từ năm 2004 đến giữa 2009 đã có 37 người, chủ yếu là thanh niên, chết vì nhiễm HIV, trong đó nhiều người vợ trẻ đã chết oan vì chồng tiêm chích. Đó là bản Poọng, xã Tam Chung, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa - nơi chỉ cách trung tâm huyện 7km. Cùng với bản Poọng thì bản Kéo Té, xã Pù Nhi cũng không sáng sủa gì hơn khi đặt chân đến biên cương Mường Lát xa xôi này.

Mẹ và đàn con thơ trên rẫy

- Ai?

- Tôi ở dưới xuôi lên.

Trong ánh sáng thập thò hắt lên từ bếp lửa, tôi thấy một thiếu phụ gầy gò, chân không đi dép, bước ra. Chị rón rén đón tôi với nụ cười ngượng nghịu. Hai lúm đồng tiền như hai cái xoáy nước, mớ tóc mai xỏa xuống tận mi mắt như cố níu lại bóng dáng tuổi xuân đang chậm rãi đi qua trên khuôn mặt u buồn. Đứa con hơn một tuổi của chị, mắt vàng như củ nghệ cắt đôi, ho hanh hách, nước mắt choèn nhoẹt ướt đôi má xanh phù, ọng nước. Căn phòng hũ nút lờ mờ hiện ra một chiếc giường choán gần nửa diện tích. Căng mắt lên một chút có thể thấy nồi niêu, dao rựa lổn nhổn giữa đống hòm xiểng lăn lóc ở xó nhà. Tôi rón rén ngồi vào mép giường. Mùi ẩm mốc, nước đái trẻ con bốc lên.

- Sao chị không bật điện lên?

- Ở đây không dùng điện. Một tháng dùng điện đổi được mấy gùi ngô. Dầu cũng vừa hết xong. Mùa này có trăng cũng đỡ tiền dầu.

Chị đưa tôi cốc nước. Tôi hớp một ngụm, mùi tanh thình lình ập vào khứu giác. Nhổ đi thì sợ chị ái ngại, tôi đành cho trôi vào cổ trong cảm giác gai gai. Chị cho biết tên là Thao Thị Kía, sinh năm 1989 và có 17 anh chị em ruột. Mẹ của Kía là bà Chá Thị Pa, được mệnh danh là mắn đẻ nhất bản. Trong lúc Kía đang nói chuyện với chúng tôi thì mấy mẹ con bà Pa đi làm rẫy về, trời mưa tầm tã nên ai cũng ướt lướt thướt. Vợ chồng Kía và đứa con thơ đang ở cùng mẹ. Nói chuyện với tôi, bà Pa không nhớ mình sinh năm nào, chỉ biết là hai người chung sống với nhau có con rồi mới được bố mẹ làm mâm cỗ mời dân làng đến ăn. Bà Pa kể hoàn cảnh gia đình làm anh xe ôm phiên dịch không kịp: Nhà ta nghèo khổ lắm. Chồng ta bị bắt giam ở dưới xuôi rồi vì nghiện hút gì đó ta không biết. Chỉ khổ cho ta và đàn con.

Xung quanh bếp lửa, mười mấy đứa con của bà đang háo hức chờ đợi một sự sống nào đó từ cái nồi bự kia. Ngọn lửa bốc cao hơn, mùi sắn dây chui qua khe hở của vung thơm lựng làm bụng tôi cũng cồn cào huống hồ chi bọn trẻ.

- Sắn cháy! Tôi buột miệng.

Cháy một chút mới ngon, bà bảo thế và nhắc nồi xuống rồi đổ úp vào một tấm phên bằng nứa. Bà Pa nói: “Nhà hết gạo lâu rồi, bấy lâu nay lũ trẻ đều ăn sắn và ngô như thế cả, chú ăn sắn thì ăn”. Không ăn thì sợ họ trách, đồng bào dân tộc là vậy, đói nhưng sẵn sàng san sẻ. Tôi nhìn bọn trẻ, khuôn mặt chúng như sáng hẳn lên trong ánh lửa nồng đượm ấy. Anh xe ôm vốn hiểu tập tính ở đây nên không chần chừ, lấy một khúc sắn bẻ đôi trao cho tôi một nửa.

Gần trưa chúng tôi đến nhà trưởng bản Kéo Té thuộc xã Pù Nhi. Nhà trưởng bản nằm bên một ngọn đồi, quanh vườn là những nương lúa rẫy. Trong căn nhà tềnh toàng ấy, chẳng có gì đáng giá ngoài xoong nồi, bát đĩa, dao rựa và mấy cái gùi đựng ngô. Bảy đứa con của ông cũng đang đi làm rẫy. Rít điếu thuốc lào xong, trưởng bản chậm rãi kể: “Cả bản có 40 hộ với 242 nhân khẩu, hiện giờ chủ yếu là phụ nữ ở nhà, đa phần nam giới bị bắt do nghiện ngập và buôn bán ma túy. Đói nghèo nên lũ trẻ ít được đi học, cả bản chỉ có khoảng bốn chục em đi học từ mẫu giáo cho đến lớp 4 mà lại thường xuyên ốm đau”.

Mùa đông nhưng trẻ con nơi đây không có áo ấm

 

Tạm biệt Kéo Té, chúng tôi đến bản Poọng, xã Tam Chung cách đó không xa. Bản Poọng vào một buổi chiều tà khi kết thúc một ngày làm việc, chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ em. Chị Lò Thị Hiệu vừa tất bật gùi măng từ rẫy về vừa tự tay chẻ củi để chuẩn bị cho bữa tối. Năm nay mới 35 tuổi nhưng nhìn chị già hơn nhiều so với tuổi thực. Trong căn nhà gỗ xiêu vẹo của ba mẹ con chị, có lẽ không có vật dụng gì đáng giá quá 100.000 đồng. Nhà có bốn miệng ăn nhưng số ngô dự trữ cũng chẳng còn là bao. Hỏi về những ngày sắp tới, chị cũng chỉ lắc đầu và cười trừ thay câu trả lời. Chồng chị, anh Hà Văn Sờn vì dính vào nghiện ngập nên trong nhà có gì đáng giá cũng lần lượt ra đi theo làn khói của “nàng tiên nâu”. Anh chết để lại cho chị hai đứa con thơ và một bà mẹ già. Gắng gượng lắm thì bữa cơm gia đình chị cũng chủ yếu là rau rừng và măng tre - những thứ có thể kiếm được mỗi lần lên nương làm rẫy. Đau lòng nhất là hai đứa con 13 và 11 tuổi đều phải nghỉ học. Chồng chị Hiệu là một trong ba người con trai của ông Lò Văn Pọm (anh Sờn là con nuôi từ bé) đều bị chết do ma túy. Xót xa hơn nữa là sau khi đứa con trai út của ông Pọm qua đời, cô con dâu út cũng “ra đi” để lại cháu Lò Văn Thiều mới hơn một tuổi.

Theo thống kê từ UBND xã Tam Chung, trong hơn một năm từ đầu 2008 đến tháng 3-2009, tại bản này đã có 22 người chết do ma túy và HIV. Trong đó có hai trường hợp cùng một gia đình có ba người con trai đều chết vì ma túy. Trong hai trường hợp trên, có một trường hợp ba người chồng “ra đi”, để lại ba người vợ góa và bảy đứa trẻ. Những người chết do ma túy và HIV, phổ biến ở độ tuổi từ 18 đến 45. 22 người đàn ông chết đi, đồng nghĩa với việc sẽ có 22 thiếu phụ mất chồng, 22 mái nhà mất đi trụ cột, mất đi chỗ dựa vững chắc nhất. Đó cũng chính là lý do khiến không khí của bản thêm đìu hiu vắng vẻ, những người phụ nữ ở bản phải đảm đương mọi công việc nặng nhọc và chống chọi với cuộc mưu sinh.

Nỗi đau ma túy ở nhiều bản làng trên địa bàn Mường Lát vẫn âm ỉ cháy. Ngoài việc phá bỏ cây thuốc phiện, phòng chống ma túy trực tiếp, vấn đề nâng cao trình độ dân trí, giúp người dân biết phát huy những tiềm năng của rừng, đất rừng nhờ trồng trọt, chăn nuôi để phát triển kinh tế cũng là biện pháp đẩy lùi ma túy nơi đây, nhưng xem ra giải pháp của mọi giải pháp vẫn còn đang bỏ ngỏ.

 

THIỆN CHÍ (CATP)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu