Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Chảy máu tài nguyên: tường trình từ điểm nóng - Bài 4

24/06/2010 7 phút đọc BBT
Bài 4: Tan hoang núi đá trắng ở Quỳ Hợp, Nghệ An Trở lại Quỳ Hợp, Nghệ An vào những ngày nắng nóng, không khí khoét
Chảy máu tài nguyên: tường trình từ điểm nóng - Bài 4

Bài 4: Tan hoang núi đá trắng ở Quỳ Hợp, Nghệ An

 

Trở lại Quỳ Hợp, Nghệ An vào những ngày nắng nóng, không khí khoét núi, san đồi ở đây còn nóng hơn cả thời tiết. Hàng trăm công nhân hì hục kẻ khoan, người đục. Những chiếc máy xúc gầm rú, từng đoàn xe ben nặng hàng chục tấn nối đuôi nhau chở đá về những nẻo đường miền xuôi…

 

“Đi coi người ta phá núi thì vô Liên Hợp!”, Lò Văn L., người dân tộc Thái, khẳng định rồi dẫn đường chúng tôi.

 

Những đỉnh núi tại huyện Quỳ Hợp bị xới tung để lấy đá.

Đua nhau phá núi

 

Con đường huyết mạch vào vựa đá vòng vèo, cứ cách một đoạn lại bị những cơn lốc bụi, hay bị bầm giập vì đống đá dăm do xe tải đổ lại giữa đường. Người chạy xe ôm này cho hay, xã Liên Hợp độ mười năm trước đã làm quen với cảnh tượng người ta mang máy ủi, máy xúc vào đây lấy đá. Rồi tiếng nổ mìn, tiếng máy ngày đêm gầm rú vang cả núi rừng. Từng đoàn xe tải, xe công trình nối đuôi nhau chở đá từ mỏ ra, cày nát con đường nhựa.

 

Đi khoảng 30km đường núi, chúng tôi có mặt tại mỏ đá của T. “đen”. Tiếng máy xúc, tiếng khoan máy gầm rú đinh tai nhức óc. Tuấn, một phu đá quê Quỳnh Lưu, cho biết 1m3 đá trắng có giá từ 20 triệu đồng trở lên, mỗi xe đá dăm hơn 20 triệu đồng. Xe “ăn” đá xong thì chạy về Cửa Lò, Thanh Hoá, Đà Nẵng…

 

Cách mỏ T. “đen” không xa, những chiếc xe tải mang biển số 37, 77 nối đuôi nhau chờ tới lượt vào mỏ. Một công nhân người Diễn Châu bảo: “Muốn biết nhiều, anh đi vô trong nớ mà hỏi, trong nớ nhiều mỏ hơn”. Chúng tôi đi theo hướng người công nhân chỉ, ở đây, các mỏ nằm san sát nhau. Có khi, trên một ngọn đồi, nhưng có hai chủ mỏ khác nhau. Trần Văn Hiền, công nhân quê Quỳ Hợp, cho biết mỗi ngày có cả chục xe tải vào chở đá. Các chủ mỏ, hoặc quản lý mỏ đá ở đây đều khẳng định họ có giấy phép khai thác đá. Nhưng, khi chúng tôi đề nghị chụp ảnh thì họ từ chối vì “sợ đưa lên báo, bên môi trường biết xuống kiểm tra”.

 

Rời Liên Hợp, chúng tôi tới các xã Châu Cường, Châu Tiến, Châu Lộc. Ở những nơi này, tuy ít mỏ hơn, nhưng cảnh khai thác đá cũng rầm rộ không kém. Theo giấy phép khai thác do bộ Tài nguyên và môi trường cấp ở tỉnh Nghệ An, riêng Quỳ Hợp có 12 mỏ đang khai thác đá vôi trắng, đá hoa trắng. Trong đó, những mỏ khai thác đá hoa trắng có thời hạn đến 30 năm, trữ lượng hơn 4 triệu m3, 15 triệu tấn bột carbonat như ở Châu Quang, Châu Tiến, Liên Hợp...

 

Những khối đá khổng lồ đang chở về xuôi.

“Khó trả lời”

 

Theo sở Tài nguyên và môi trường, đá trắng ở Nghệ An có trữ lượng gần 200 triệu tấn. Đá trắng được xếp vào dạng tài nguyên quý hiếm của Việt Nam. Bột siêu mịn đá trắng dùng làm phụ gia công nghiệp. Đá trắng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị sang Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan.

 

Vì lợi nhuận lớn nên nhiều doanh nghiệp lấy danh nghĩa khai thác đá xây dựng làm bình phong để khai thác đá trắng. Theo phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh, tình trạng vi phạm trong việc khai thác khoáng sản, đặc biệt là đá trắng chiếm tới hơn 70%. Còn theo kết luận ngày 20.1.2010 của Thanh tra Chính phủ, từ tháng 1.2003 đến tháng 5.2009, UBND tỉnh Nghệ An cấp phép 54 điểm mỏ khai thác đá xây dựng thông thường ở huyện Quỳ Hợp, nhưng thực tế sản phẩm khai thác là đá vôi trắng.

 

Ông Hồ Phan Long, phó phòng tài nguyên khoáng sản, sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nghệ An cho biết, mỗi năm, có vài đoàn về kiểm tra chấn chỉnh tình trạng khai thác đá trắng, tuy nhiên chưa tổ chức được đoàn kiểm tra liên ngành nào. Ông Trần Nhật Minh, phó chủ tịch UBND huyện Quỳ Hợp khẳng định, nguồn thu ngoài quốc doanh, đặc biệt từ khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn chiếm tỷ lệ cao cho ngân sách.

 

Tuy nhiên, ông Long cho rằng, do mới làm phó chủ tịch huyện nên chưa nắm rõ tình hình việc quản lý, khai thác đá trắng. Trả lời việc người dân tại các mỏ đá hoạt động đang phải chịu cảnh sống chung với tình trạng ô nhiễm, thiếu nước, đi lại khó khăn, ông Minh nói: “Câu này khó trả lời”.

 

bài và ảnh: Trung Dũng (SGTT)

 

Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến, Quảng Trị: Thiệt hại ngân sách hàng trăm tỉ đồng (*)

 

Ngày 14.5 vừa qua tại hội nghị Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam, viện Tư vấn phát triển cho biết việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, các nguồn năng lượng của chúng ta còn rất lãng phí và kém hiệu quả.

 

Hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản đang bộc lộ nhiều bất cập từ khâu cấp phép đến quản lý, khai thác, sử dụng. Trước hết là dễ dãi, tràn lan trong việc cấp phép. Từ 427 doanh nghiệp năm 2000 đã lên tới 1.500 doanh nghiệp hiện nay, tăng gấp 3,5 lần. Đó là chưa kể hàng ngàn băng nhóm khai thác tự do, không giấy phép mà các cơ quan quản lý dường như bất lực, bó tay.

 

Hậu quả là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm như vàng, đá quý, titan, đồng, thiếc, than, sa khoáng v.v... thất thoát, lãng phí, cạn kiệt, môi trường bị tàn phá, kéo theo những hệ luỵ về mặt xã hội như tội phạm và tệ nạn xã hội hoành hành, băng hoại về đạo đức, mất an ninh, an toàn xã hội.

 

Trước đây chúng ta từng nghe về hải tặc, lâm tặc, nay xuất hiện thêm nhiều tặc mới, đó là vàng tặc, thiếc tặc, quặng tặc, than tặc, đá tặc, cát tặc, titan tặc v.v... Chúng ta không khỏi giật mình khi cơ quan điều tra tổn thất, lãng phí về khai thác tài nguyên công bố: tổn thất, lãng phí trong khai thác than hầm lò là 40 – 60%, apatit là 26 – 43%, quặng kim loại từ 15 – 30%, dầu khí lên đến gần 50% v.v... các thất thoát lãng phí này làm mất đi hàng trăm tỉ đồng ngân sách nhà nước.

 

Đại biểu Quốc hội Dương Kim Anh, Trà Vinh: Cấp phép nhiều, kiểm soát không được (*)

 

Tại các kỳ họp Quốc hội trước, đại biểu cũng đã nhiều lần đề nghị Chính phủ tăng cường quản lý, chấn chỉnh việc khai thác khoáng sản, hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, nhưng tình trạng nhiều địa phương cấp giấy phép khai thác khoáng sản tràn lan vẫn diễn ra ngày càng nhiều không quản lý được, không kiểm soát được gây lãng phí tài nguyên, tàn phá môi trường và làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

 

Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam đã báo động từ năm 2013 trở đi Việt Nam sẽ phải nhập than đá, nhưng năm 2009 chính tập đoàn này lại xuất khẩu 29 triệu tấn than đá và tiếp tục đề nghị cho xuất tiếp 18 triệu tấn than trong năm 2010.

 

(*) Những ý kiến trên được các đại biểu nêu ra tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII từ 20.5 đến 19.6.2010

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu