
Ảnh Lăng Vua Hùng „Dù ai đi ngược về xuôiNhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”.
Hàng năm cứ đến mồng mười tháng ba âm lịch hàng vạn người trên mọi miền đất nước lại về đền Hùng dự lễ hội, tưởng niệm các vua đầu tiên của dân tộc. Vậy mảnh đất này đối với nước Việt thiêng liêng biết nhường nào. Riêng tôi khi còn sống ở trong nước rất nghèo khổ, chẳng có điều kiện đi được đến đâu, những đợt hồi hương sau này cũng đều vội vã cả. Mãi đến mùa xuân năm nay, tôi đưa vợ về nước và nhất thiết cùng cả gia đình lên đền Hùng trình diện.
Đền Hùng, đúng hơn là quần thể Đền Hùng, nằm trên núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ. Núi Nghĩa Lĩnh không cao, lối lên thoai thoải, có bậc thang rất dễ leo. Hai bên cây cối um tùm, những cây to đều có đính biển đề tên Việt và tên khoa học bằng tiếng La Tinh. Cạnh các đền có những cây hoa đại cổ thụ, cành cong queo như những con rồng, nặng đến mức phải chống cho khỏi gẫy. Tiếc rằng khi chúng tôi đến, hoa đại còn chưa nở. Trước cửa chùa Thiền Quang cò có cây thiên tuế (hay vạn tuế) lâu đời. Tương truyền năm 1954 Hồ chủ tịch trên đường về thủ đô đã từng ngồi nghỉ dưới gốc cây và nói với các cán bộ, bộ đội câu nói nổi tiếng: „Các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải cố gắng giữ gìn”. Nghe nói cây thiên tuế (hay vạn tuế) bẩy tám trăm tuổi, nhưng trông bé nhỏ lắm, chưa chắc đã đúng sự thực. Rừng núi ở đây rậm rạp, chứng tỏ được bảo vệ chu đáo. Nhưng chim chóc thì tuyệt nhiên không thấy, có thể bị người ta săn bắt làm đặc sản hết cả, hoặc cũng có thể vì đông người quá nên chúng sợ, bay đi chỗ khác chăng?
Quần thể đền Hùng có thể chia ra ba kiểu kiến chúc không đồng bộ. Chùa Thiền Quang, đền Hạ, đền Trung… nghe nói được xây vào đời hậu Lê và Nguyễn trên nền cũ, trông rêu phong cổ kính; riếng Ngọc (nơi công chúa Tiên Dung soi bóng), riếng Tiên (nơi mẹ Âu Cơ tắm cho các con, thành được làm bằng đá chạm trổ rồng phượng chim chóc), đấy là trường phái không cổ không kim; cổng đền (Nghe nói được xây vào năm Khải định thứ 2, tức năm 1917), mặt trước của đền Thượng… được tô mầu xanh đỏ tím vàng, đấy là trường phái hiện đại.
Khách viếng thăm đông nghịt, đền đài thì bé nhỏ, phải vất vả lắm mới chen được vào trong. Khói hương bay mù mịt, không thể thở được. Hương đốt nhiều đến mức người ta phải để một chậu nước, thỉnh thoảng ông canh đền đến vơ cả nắm, quay đầu những nén hương đang cháy dở xuống, dúi đánh xèo một cái vào chậu rồi đánh đống ngay bên cạnh. Mà cũng lạ, tại sao không mỗi người chỉ đốt một nén để tỏ cái lòng thành, lại cứ phải năm bẩy nén liền? Thần thánh dẫu có muốn phù hộ thì cũng phải xét đến cái đạo đức phẩm giá của ta, đâu phải là vì hương nhiều hay ít mà tranh nhau đốt, vừa vô ích vừa lãng phí. Trông cái cung cảnh như vậy, tôi chán quá, đã định không thắp hương, nhường cho thiên hạ cả. Nhưng bà chị gái tôi đứng đằng sau cứ thúc vào mạng sườn, dục: „Cậu cũng phải thắp”. Nể chị lắm, tôi đành đốt một nén. Không hiểu trong số hàng vạn người đến đây, bao nhiêu phần trăm vì tấm lòng thành hay đi thăm quan di tích lịch sử, bao nhiêu phần trăm chỉ cầu được lắm bạc nhiều tiền, thăng quan tiến chức? Tôi kêu đông người quá thì một anh đi cùng nói:
- Nhưng đấy là vẫn còn thiếu các „VIP” to.
- Các “VIP” thì vô thần, cúng tế cái gì? – Tôi nhận xét.
- Đâu có thế, vô thần là ngày xưa thôi. Bây giờ các ngài cúng tế cầu cạnh ở đền Mẫu, chứ không ở đây!
- Thế à? – Tôi sửng sốt – Nhưng Mẫu nào? Có phải Mẫu Liễu Hạnh không? – Tôi quan tâm đến đền Mẫu Liễu Hạnh là vì lần này về nước quyết xem nhẩy đồng. Ngày tôi ra đi, những trò ấy đều bị cấm tiệt cả, chưa hề được xem. Nay nghe nói là rất phổ biến, lại được xem các VIP nhẩy đồng thì buồn cười lắm.
- Không – anh bạn trả lời. - Đền Mẫu ở đây tức là Mẫu Âu Cơ chứ không phải là Mẫu Liễu Hạnh, mới được xây dựng ở núi Ốc Sơn. Đấy không có nhẩy đồng. Vả lại nếu họ đến thì dân thường bị người ta nhẹ nhàng ngăn, chứ đâu có được vào đấy mà xem.
Nhưng thực ra đền Hùng dạo này vẫn chưa đông nhất, vì chưa phải lễ hội.
- Nếu đúng vào dịp lễ hội - cha tôi bảo - những hạng ngây ngô như vợ chồng bác cả -- tức là vợ chồng tôi - chỉ đến cách núi Nghĩa Lĩnh vài cây số, cắm hương ven đường rồi về, không tài nào mà chen được.
Nhiều người lễ bái xong giở cơm đùm cơm nắm ra ăn uống. Cái khoản vệ sinh công cộng dân mình hơi kém. Bà con ăn xong, xương xẩu, giấy má, túi bóng… vất lung tung bừa bãi. Thậm chí một chị đi cùng học vị quá đại học, trưởng khoa, nhà giáo ưu tú hẳn hoi, bóc cái kem ra thì vất luôn giấy xuống đất.
- Sao chị lại vất đấy? - Tôi lưu ý.
- Không vất đấy thì vất đâu? Sẽ có người người ta dọn. - Chị trả lời. Song thực ra chị ứng xử như thế là hợp lý. Tôi để ý tìm mỏi mắt cũng không thấy một thùng rác nào. Lát sau quả nhiên có mấy bà lao công đẩy xe đi quét dọn thật.
Từ đỉnh núi đi xuống phải theo đường khác. Người như đàn kiến nối đuôi nhau. Bỗng một bà tạt ngang, đứng ngay cạnh lối đi, vén quần lên xả nước cứ tồ tồ xuống đám lá khô. Ai nấy đều giả vờ không trông thấy gì. Riêng tôi thì không thể nhịn được, nhăn răng ra cười. Một ông đi cạnh, chắc là người nhà của bà, nhìn bọn tôi vẻ khó chịu, nói: „Các người cười gì? Nước Việt Nam là của người Việt Nam, chúng tôi muốn làm gì thì làm. Ở nước ngoài không thích về thì thôi”!
Trương Đình Toe