Đập Ba Nương lớn nhất Minh Hoá không còn khả năng phục vụ thuỷ lợi.
Bị ông phó chủ tịch huyện… “đuổi”
Ông Diện tròn xoe mắt khi thấy chúng tôi bước vào phòng. “Tôi đã bảo đừng lên rồi mà! Ở đây người ta đua nhau chạy nắng, còn các chú lại mò lên. Có việc gì làm nhanh mà về trong ngày, chứ ở lại không nước, không điện chịu không nổi đâu” - Ông Phó Chủ tịch huyện lo lắng cho cánh nhà báo.
Thông tin nhanh của ông Phó Chủ tịch: hàng trăm héc-ta lúa đông - xuân trên địa bàn huyện Minh Hoá mất trắng. Nắng nóng kéo dài khiến các hồ, đập mất năng lực tưới tiêu, báo hiệu một vụ hè - thu khó khăn nhất trong nhiều năm gần đây.
Vừa cầm tập giấy quạt phành phạch, ông Diện vừa than thở: “Nông nghiệp Minh Hóa vẫn dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên. Các hồ, đập nói là để chủ động nước tưới nhưng cũng phải nhờ đến trời mưa. Trước tình trạng thời tiết khắc nghiệt, vụ hè - thu này, nhiều diện tích đất phải bỏ hoang vì cày không xuống. Đói kém đã nhìn thấy trước mắt mà không thể làm được gì, Minh Hoá lại phải sớm xin gạo cứu trợ của Chính phủ để chống đói thôi”.
Ông Đinh Trọng Yên - Phó trưởng Phòng NN&PTNT huyện thông tin cụ thể hơn: Sản lượng lương thực vụ đông - xuân chưa đủ đáp ứng một nửa nhu cầu lương thực của khoảng 45.000 dân huyện Minh Hóa.
Ông Yên cho biết: “Toàn huyện Minh Hóa có 39 hồ, đập nhưng hầu hết đều trong tình trạng cạn kiệt. Đập Ba Nương, đập thủy lợi lớn nhất huyện, sức chứa 5 triệu m3 nước cũng đã hạ xuống mức nước “chết”, không còn khả năng phục vụ thủy lợi. Mất mùa đồng nghĩa với việc Minh Hoá tiếp tục khó khăn và đói kém”.
Trước khi nghỉ hè, trường dân tộc nội trú của huyện Minh Hóa đóng ở thị trấn Quy Đạt, hàng trăm học sinh không có nước để tắm rửa. Các thầy cô giáo ở đây đã tìm mọi cách nhưng cũng chỉ dừng ở mức “luân phiên” vài ba ngày mỗi em chỉ tắm được một lần.
Thầy giáo Đoàn Ngọc Thanh (hiệu trưởng) cho biết: Hai cái giếng to của nhà trường phục vụ các em tắm rửa bị cạn khô nước từ mấy tháng nay. Để khắc phục, nhà trường đã thuê người về nạo vét, nhưng được một thời gian lại cạn. Không còn cách nào khác nhà trường đành hướng dẫn các em xuống tắm ở con suối gần đó. Sợ các em gặp tai nạn và kẻ xấu, đặc biệt là các em nữ, hằng đêm nhà trường phải cử các giáo viên nữ đi cùng các em để trông chừng cho các em tắm. Được một thời gian, con suối này cũng cạn khô, không còn nước. Không lẽ để các em ở bẩn, nhà trường đã phải đi đến các nhà dân xung quanh để xin cho các em tắm. Mặc dù rất chia sẻ với các cháu, nhưng những nhà dân xung quanh cũng chẳng chiều được lâu vì giếng của họ cũng kiệt nước. “Bọn cháu phải chia nhau luân phiên để tắm giặt. Nhanh nhất cũng phải 3 ngày cháu mới được tắm một lần. Khổ lắm, khó chịu lắm nhưng bọn cháu không còn cách nào khác” - một học sinh mà chúng tôi gặp tâm sự.
Một trong hai cái giếng ở trường Dân tộc nội trú Minh Hóa.
Khát giữa mênh mông nước
Quốc lộ 12A chảy nhựa trong nắng nung dẫn chúng tôi về huyện Quảng Trạch. Không hơn gì Minh Hoá, huyện này cũng vừa trải qua một vụ mùa thất bát vì nắng nóng. Ông Đậu Minh Ngọc, Chủ tịch huyện Quảng Trạch lo lắng khi chúng tôi hỏi về tình hình hạn hán trên địa bàn.
| "Bọn cháu phải chia nhau luân phiên để tắm giặt. Nhanh nhất cũng phải 3 ngày cháu mới được tắm một lần. Khổ lắm, khó chịu lắm nhưng bọn cháu không còn cách nào khác" - Một học sinh trường Dân tộc Nội trú Minh Hóa |
“Nhờ những chương trình, dự án trong và ngoài nước mà hầu hết các hộ dân ở đây đều được đầu tư bể cạn hoặc chum lu để chứa nước mưa. Nhưng do nắng hạn kéo dài, bể cạn, chum lu trở thành vô dụng. Biết là dân đang rất khổ nhưng đành chịu” - Ông Ngọc tâm sự.
Cồn Nâm, xã Quảng Minh - một trong 10 cồn nổi giữa sông Gianh xơ xác, bạc trắng trong nắng hạn. Đón chúng tôi ở bến đò ngang, anh Nguyễn Văn Sơn (trưởng thôn) thảng thốt: “Đã mấy tháng nay, người dân chúng tôi không làm được gì vì phải tập trung chống chọi với những cơn khát. Người khát, trâu bò khát, ruộng đồng khát... khát chưa từng thấy. Tiếng là ở giữa bốn bề sông nước nhưng không có lấy một giọt nước ngọt. Có giếng đó, nhưng nước không dùng được vì bị nhiễm phèn và mặn”.
Anh Sơn cho biết thêm, bao đời nay người dân ở đây phải chèo thuyền đi lấy nước ngọt cách làng hơn 10km. Mỗi nhà luôn thường trực một nhân lực cho việc lấy nước. Nhưng nay thì đành chịu vì các nguồn nước ngọt ít ỏi chảy ra từ những hẻm núi đã bị người ta khoanh vùng, chặn lại để sản xuất nước bình. Họ không cho lấy nước tự do như ngày xưa nữa. Vậy là phải mua nước từ các thuyền dịch vụ với giá cắt cổ, hơn trăm ngàn đồng cho 1 m3 nước. Nước ngọt đắt, người dân chỉ dám dùng để uống, còn lại nấu nướng là dùng nước giếng bị nhiễm phèn và mặn.
Không chỉ thế, cả cồn có đến hơn 3.500 nhân khẩu mà chỉ có hơn 20ha đất canh tác nhờ trời. Không chủ động được nước tưới, đa phần có làm mà không có thu. Đói nghèo lạc hậu bám riết lấy cư dân làng nổi mãi không tha. Hơn 50% dân số của làng phải rời làng phiêu bạt đi làm thuê.
Sông Cuội trơ đáy.
Bi hài dòng sông Cuội
Trong cái nắng hầm hập, chúng tôi ngược dòng sông Cuội (một nhánh của sông Son) không phải bằng thuyền mà bằng đi bộ. Đáy sông giờ chỉ còn lại vô số đá sỏi nằm ken đặc kéo dài hàng chục kilômét. Đã mấy tháng nay, dòng sông này cạn khô, không còn một vũng nước.
Sông Cuội bắt nguồn từ những khe suối trong vùng núi đá vôi của Di sản Thiên nhiên Thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, đi qua xã Xuân Trạch, Phúc Trạch (Bố Trạch) rồi đổ ra sông Son. Chị Nguyễn Thị Hoa (45 tuổi) ở xã Xuân Trạch chăn trâu dọc sông Cuội kể: “Đầu hạ, con nít, bọn tui thường ra đây tắm và bắt cá về bán. Cá ở đây nhiều lắm, chỉ cần thả lưới xuống vài chục phút là đầy ắp. Nhiều nhất ở đây vẫn là cá mát, cá chình. Đặc biệt là loài cá gáy tía, nghe nói chỉ có duy nhất ở sông Cuội”.
Theo các cụ cao niên ở xã Xuân Trạch, xưa con sông này nước ngọt và trong. Dòng sông đủ sâu để buộc con người phải đi lại bằng thuyền. Những năm gần đây, cứ đến mùa hè là dòng sông bị cạn, nhưng cũng không đến nỗi như năm nay.
Sông Cuội “chết”, hàng ngàn cư dân sống dọc sông phải gánh chịu không ít hậu quả. Cả trăm héc-ta diện tích đất trồng lúa 2 vụ phải chuyển sang trồng loại cây khác. Nước giếng cũng theo mực nước sông mà cạn dần, rồi trơ đáy. Nước sinh hoạt ngày càng hiếm, phải đi bộ sâu vào rừng mới lấy được ít nước về dùng. Mọi người cho rằng, nạn chặt phá rừng đầu nguồn tràn lan đã bức tử con sông này.
Ở Xuân Trạch, mọi người vẫn không nín được cười khi nhớ về đám cưới có một không hai của anh Tùng lấy chị Mai làng bên. Anh Tùng chị Mai yêu nhau đã khá lâu và lỡ “ăn cơm trước kẻng”. Trước tình yêu chân thành của con trẻ, hai gia đình đã làm đầy đủ thủ tục, nhưng ngày cưới thì không thể định được.
Số là, nhà anh Tùng và chị Mai cách nhau con sông Cuội. Lâu nay hai làng qua lại duy nhất chỉ có phương tiện là bằng thuyền, đường bộ thì không thể vì bị núi non bao bọc xung quanh. Nước sông Cuội cạn dần, thuyền bè không thể lưu thông. Chả lẽ bà con hai họ lại đi bộ qua sông để đưa dâu. Hai gia đình đành trì hoãn ngày cưới để chờ trời mưa, may ra có thể đưa dâu bằng thuyền.
Chờ mãi trời không mưa, nước sông Cuội ngày một kiệt, còn bụng của chị Mai thì ngày một đầy hơn. Không thể trì hoãn, hai gia đình quyết định lội bộ đưa dâu. Bộ váy cưới xúng xính, đôi giày cao gót đi trên lòng sông đầy đá sỏi đã khiến chị Mai sấp ngã trên đường về nhà chồng. Thương vợ và lo cho đứa con tương lai trong bụng, anh quyết định cõng chị qua sông. Cái bụng lùm lùm của chị Mai khiến anh Tùng không thể xoay xở. Hai họ đành dừng lại giữa sông để tìm phương án.
Hàng trăm cái “đầu uyên bác” xúm lại vẫn không có cách gì khả dĩ. Cuối cùng em trai của anh Tùng xung phong cùng anh trai nắm tay nhau làm kiệu rước chị Mai về nhà. Là những sơn tràng lực lưỡng, hai anh em nhà Tùng mặt tái nhợt, thở dốc khi đưa chị Mai sang đến bờ sông. Bà con hai họ lại phải tiếp tục chờ anh em Tùng lấy lại sức mới tiếp tục lên đường...
Hoàng Nam (Tiền phong)