Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Nông dân đi... ở trọ

04/11/2010 10 phút đọc Đặng Trung Kiên
Đã có những nông dân rời bỏ cuốc cày ra thành phố làm công nhân, cũng có nhiều công nhân ồ ạt chia tay các khu công
Nông dân đi... ở trọ

Đã có những nông dân rời bỏ cuốc cày ra thành phố làm công nhân, cũng có nhiều công nhân ồ ạt chia tay các khu công nghiệp để về quê khi nhà máy mọc lên bên nhà mình. Còn một dòng lao động khác, không ngược mà cũng chẳng xuôi, họ từ đồng ruộng vượt hàng nghìn cây số để lại đến... ruộng đồng.

 

Với họ, ngày kiếm được năm bảy chục nghìn đồng, không thất nghiệp quá mười ngày mỗi tháng, đừng ốm đau phải thuốc thang, là đủ. Họ chính là lý do để những khu nhà trọ tạm bợ mọc lên dưới chân đèo Prenn - nơi cách TP.Đà Lạt 20km về hướng TPHCM.

 

Tuy không như Đà Lạt, song vùng Hiệp Thạnh, Hiệp An thuộc huyện Đức Trọng, ngay dưới chân đèo Prenn vẫn được thiên nhiên ban tặng cho đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ để hình thành những làng hoa, làng rau trù phú. Dân địa phương khá giàu, con em đa phần đều có học, không nhất thiết phải bám ruộng như thế hệ cha anh.

 

Nghề trồng rau, trồng hoa ở đây không cần nhiều đất, nhưng lại cần rất nhiều lao động cho những chu kỳ làm đất, gieo trồng, thu hoạch vốn quay vòng như chong chóng. Đó là nơi hàng nghìn nông dân từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An... theo nhau vào gửi phận kiếm cơm. Hai ngày theo họ ra đồng trong nắng sớm, cùng họ về góc tạm cư sau cơn mưa chiều xối xả, tôi ghi được vô số những chuyện buồn, vui của đời nông dân ở trọ - làm thuê.

 

Những dãy nhà trọ lụp xụp dành cho nông dân dưới chân đèo Prenn.
Những dãy nhà trọ lụp xụp dành cho nông dân dưới chân đèo Prenn.

 

Không được làm công nhân

 

Trong căn phòng trọ 6m2, cặp vợ chồng trẻ Nguyễn Thành Vinh - Bùi Thị Hồng (quê Ý Yên, Nam Định) chỉ có mấy tấm ván ghép làm giường, một bếp gas mini, ba cái nồi nhỏ cùng chén sứt, đũa cong. Cái bếp gas đã xếp xó từ lâu, khi chủ nhân của nó biết rằng mỗi bình gas 6.000 đồng chỉ nấu được một nồi cơm với một nồi canh nhỏ. Thay cho nó là cái bếp lò để trước cửa phòng trọ, vợ chồng Vinh tranh thủ nhặt cành cây, củi vụn về đun, y như hồi còn ở quê. Vinh nằm dài ngắm bức ảnh người mẫu trên tường, Hồng tách hạt mấy quả ngô, đứa con hai tuổi nghịch nước mưa ngoài hiên.

 

Dù vậy, Vinh vẫn hài lòng với cuộc sống hiện tại: “Nếu làm đủ 20 ngày thì em được một triệu sáu, vợ em một triệu hai, như thế là sống được rồi. Anh biết chỗ nào dễ kiếm sống hơn không?”. Tôi chỉ đại mấy khu công nghiệp lớn ở Bình Dương, Đồng Nai, TPHCM. Vinh cười: “Em trình độ lớp ba, vợ em lớp năm thì ai nhận? Bọn em cưới nhau ở quê, không ruộng đất, làm thuê cũng chẳng ai thuê, được như thế này là may mắn lắm rồi”. Sáng ra, vợ chồng mỗi người đi mỗi hướng, con gửi nhóm trẻ tư nhân - cũng do những người tha hương lập ra trong những phòng trọ chật hẹp, ẩm thấp. Con ốm thì Hồng ra quán tạp hóa mua thuốc cho uống, hết bệnh thì hết, không hết thì... từ từ cũng hết, chẳng dám bỏ việc ngồi nhà ôm con. Các bà giữ trẻ cũng chẳng phải kỳ công, chỉ việc xúc cho mỗi đứa một bát cơm, bỏ ít mắm rồi chúng sẽ tự ăn. Thậm chí quần áo cũng mặc chung, chẳng cần phân biệt của con ai. Trời thương, những đứa trẻ vẫn cứ lớn vù vù, chẳng hay ốm như con nhà giàu.

 

Có rất nhiều cặp vợ chồng nông dân trẻ như thế, họ đều ít học, hoặc không biết chữ nên không thể vào nhà máy làm công nhân. Tiền làm thuê kiếm được không nhiều, nhưng bù lại họ sinh hoạt giản đơn như ở quê nhà. Vẫn giặt quần áo bằng tay không cần bột giặt, cuốc bộ cả chục cây số đến chỗ làm, chỉ khoản gửi con và thuê phòng trọ là tốn tiền đáng kể - tiền trọ 300.000 đồng/tháng, tiền gửi trẻ 400.000 đồng/tháng cho mỗi đứa. Cơm tối xong, nhu cầu duy nhất của họ là đánh ngay một giấc, để rồi sáng hôm sau lại ra đồng... bán sức. Cuộc đời của họ cứ thế cuốn theo vòng đời cây hoa, cây rau, hết năm này qua năm khác.

 

Người già, con trẻ tha hương

 

Chẳng ai buồn thống kê xem có bao nhiêu nông dân ly hương đang làm thuê trên những cánh đồng rau - hoa bất tận dưới chân đèo Prenn, song ước tính có đến 4.000 - 5.000 người trong những dãy trọ lụp xụp thuộc các xã Hiệp Thạnh, Hiệp An. Những nông dân này nằm ngoài sự quan tâm của chính quyền sở tại, chỉ trừ việc kiểm tra đăng ký tạm trú. Trong đó, trai tráng chỉ chiếm một phần rất nhỏ, còn lại là phụ nữ, người già, trẻ em bỏ học. Bà Nguyễn Thị Hoa (quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh) vào Hiệp An từ năm 46 tuổi, 10 năm rồi vẫn chưa có ý định hồi hương. Bà chỉ về quê mỗi năm một lần, ở với chồng con vài tuần cho bõ những ngày đơn chiếc, xong lại khăn gói vào Đức Trọng.

 

Nông dân miệt mài làm thuê trên những cánh đồng rau.
Nông dân miệt mài làm thuê trên những cánh đồng rau.

 

Bà kể: “Nhà có ba sào ruộng, mỗi năm mần hai vụ, nếu không mất mùa thì chỉ đủ gạo ăn. Vào đây mỗi tháng tui mần được triệu rưỡi, ăn uống tiết kiệm là gửi về được năm trăm, ở nhà không dễ kiếm mô. Chỉ cực là cái nhà trọ không hợp với nông dân mình, dù tui đã ở đó cả chục năm rồi”. Bà Trần Thị Hương - người bạn đồng hương, ở cùng phòng trọ với bà Hoa - thì nói ngược về khoản thu nhập kia: “Ngày được 60 nghìn đồng. Trừ tiền trọ, tiền ăn, điện nước với mấy thứ lặt vặt thì chỉ còn 10 nghìn thôi. Cứ 10 ngày không có việc là tháng nớ coi như âm cháu nờ”. Bà Hương với tôi xưng hô o - cháu, chuyện khá lâu mới biết bà chỉ mới 40 tuổi, không chồng con.

 

Như một công chức nghèo chỉ biết mỗi đồng lương, bà nhớ như in những lần công thuê tăng giá: “Hồi o mới vô là 30 nghìn đồng một ngày, chừ tăng gấp đôi rồi mà nỏ có dư”. Thấm thoắt đã 12 năm gửi phận đồng rau, cuộc đời bà Hương vẫn không có gì thay đổi, ngoài “cái tuổi nó đuổi xuân đi”.

 

Trên cánh đồng Hiệp Thạnh, chị Đỗ Thị Xế (quê Triệu Sơn, Thanh Hóa) cần mẫn làm một mạch từ 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều, đủ 8 tiếng mới về ăn cơm. Chị bảo ai cũng thế, ngày chỉ ăn hai bữa sáng - tối. Vừa nhổ cỏ trên luống hoa hồng, chị kể với tôi rất nhiều chuyện, như chuyện chồng chị mất sớm, hai con gái cũng theo mẹ làm thuê. Chị nói đứa lớn 22 tuổi, đứa nhỏ 19 tuổi. Một người khác nói nhỏ với tôi rằng, con gái lớn của chị mới 14 tuổi, còn đứa nhỏ chỉ 12. Không phải chị ngại vì con bỏ học sớm mà sợ chủ vườn chê con chị nhỏ, sức làm việc không bằng người lớn, sợ những người làm thuê khác so bì. Còn cụ bà Lê Thị Phấn (quê Thái Thụy, Thái Bình) đã 65 tuổi mà vẫn còn bám trụ đồng hoa. Cụ ráng dành dụm tiền để lo hậu sự vì không muốn phiền đến con cháu, dù con cụ ở quê chẳng đến nỗi nghèo. Cụ bảo: “Tôi làm tốt hết mọi việc, không thua gì lớp trẻ đâu, cô chủ vườn cũng khen thế”. Tôi nhận ra, những người lao động làm thuê ở đây, dù người già hay con trẻ, cũng đều rất tự trọng với đồng tiền nhận được.

 

Mơ một con đường khác  

 

Tất cả những người nông dân làm thuê dưới chân đèo Prenn đều có chung một niềm mơ ước, đó là thoát khỏi kiếp làm thuê phập phù nơi đất khách, được về quê làm nông dân đúng nghĩa trên mảnh ruộng của mình. Người già ước cho con cháu, người trẻ ước cho mình. Nhưng đó là mơ ước xa vời. Hơn 6 năm dắt díu nhau vào Hiệp Thạnh, mẹ con chị Đỗ Thị Xế vẫn chỉ xác định “làm kiếm bát ăn rồi về”, nhưng bao giờ kiếm đủ “bát ăn” để về thì chưa biết. Cũng có người không mơ ước về quê, mà một con đường kiếm sống khác tốt hơn, ít ra cũng xứng danh là kẻ đã “thoát ly đồng ruộng”. Song, những đứa trẻ ở đây đều bỏ học nửa chừng, muốn có một cái nghề ổn định, hay một chân công nhân cho “oách” cũng không phải dễ.

 

Tôi lang thang khắp các dãy nhà trọ ở Hiệp An, Hiệp Thạnh chỉ thấy một niềm hy vọng trong căn phòng của chị Nguyễn Thị Hà (quê Diễn Châu, Nghệ An). Chị Hà tự hào có hai con gái khỏe mạnh, xinh đẹp, đang học cấp ba như hai ngôi sao sáng trong dãy trọ tối tăm. Nhưng chính chị cũng đang lo một ngày, khi những đồng tiền bán sức lao động không còn kham nổi chi phí học hành ngày một nhiều hơn của các con. Thật khó để tìm câu trả lời cho chị, cho thân phận những nông dân ở trọ - làm thuê, ly hương mà bất ly nông, bất ly nông mà không có đất.

 

Tôi đã tự hỏi liệu mình có “quá đáng” không, khi cuộc sống này ai cũng phải mưu sinh, mỗi người chọn một cách. Dẫu biết vậy, vẫn không khỏi bùi ngùi khi rời những túp nhà tạm bợ ngập nước thải, bốc mùi hôi, tù mù đèn bởi tiết kiệm điện, muỗi bay như vãi trấu khi đêm xuống dưới chân đèo Prenn. Những nông dân già không hợp với nhà trọ như bà Nguyễn Thị Hoa chắc là... chịu đựng.

 

ĐẶNG TRUNG KIÊN (Lao động)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu