Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Lê Thiệu Huy: Thần đồng Đông Dương, Tham mưu trưởng Việt-Lào

22/12/2009 8 phút đọc Minh San
Đậu 3 bằng cử nhân tại Pháp nhưng ông về nước tham gia cách mạng, rồi hy sinh để lại bao ấp ủ về sự nghiệp còn
Lê Thiệu Huy: Thần đồng Đông Dương, Tham mưu trưởng Việt-Lào

Đậu 3 bằng cử nhân tại Pháp nhưng ông về nước tham gia cách mạng, rồi hy sinh để lại bao ấp ủ về sự nghiệp còn dang dở.

 

Vào những thập kỷ 30 - 40 của thế kỷ trước, giới trí thức của cả nước không ai không biết đến Lê Thiệu Huy (1921 -1946)  quê xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh - Người được mệnh danh là thần đồng Đông Dương huyền thoại.

 

Ông từng đậu một lúc 3 tấm bằng cử nhân tại nước Pháp, mà theo như giới học giả thời đó đánh giá chưa có một người nước ngoài nào đạt được. Từ trường hợp của ông, nhiều người Pháp đã dần dần xóa bỏ thái độ kỳ thị xem khinh người Việt là An-nam-mít.

 

Thần đồng Đông Dương

 

Lê Thiệu Huy là con trai trưởng của vị giáo sư sử học nổi tiếng Lê Thước, học giỏi vượt bậc nên người cùng thời đánh giá xuất chúng, siêu phàm. Ngay các trường thực dân thời đó cho phép ông học vượt cấp 2 năm 3 lớp. Mặc dù học vượt cấp nhưng năm nào cũng xếp loại cao nhất và đứng đầu các lớp, vì vậy bạn bè, thầy cô thường gọi ông là “vô địch, không có đối thủ”.

 

Tiếng tăm học giỏi của Lê Thiệu Huy đến nỗi tên toàn quyền Đông Dương phải đích thân mời mẹ ông ra Hà Nội gặp mặt để: “Tìm hiểu xem người phụ nữ Việt Nam như thế nào, mà đã sinh ra một người con thông minh, kiệt xuất đến như vậy”.

 

Lê Thiệu Huy  đứng giữa cùng đồng đội chụp trước khi lên đường đi Lào (ảnh tư liệu) 

 

Lê Thiệu Huy không chỉ nổi tiếng học giỏi trong trường mà ông còn có hiểu biết sâu rộng về các môn học khác như: Lịch sử dân tộc; thơ ca yêu nước và ca dao; tục ngữ; hò vè… cũng như một số giáo trình nghiên cứu khoa học cao cấp (bị kiểm duyệt).

 

Năm 1938, Lê Thiệu Huy được Chính phủ Pháp cấp học bổng toàn phần sang du học, mà không đòi hỏi, bắt buộc bất cứ một điều kiện gì.

 

Trong bức thư gửi mẹ ngày 16/6/1944, ông viết: “Không ai dám thi cả hai bằng cùng một lúc, phần nhiều chẳng đậu được cái nào cả...”. Thực ra, để đậu được bằng cử  nhân tại Pháp ngày đó là vô cùng khó khăn, vì vào thời đó, mỗi trường chỉ lấy 5 - 6 sinh viên, thậm chí có trường lấy ít hơn. Vậy mà ông không chỉ đậu một trường mà 3 trường khi chưa tròn hai mươi tuổi, môn nào ông cũng đậu nhất, cách thí sinh thứ nhì hàng chục điểm.

 

Đến nỗi nhà toán học lừng danh người Pháp gốc Do Thái, giáo sư BurCher đã từng phải thốt lên: “Tôi chưa bao giờ thấy có sinh viên nào xuất chúng hơn Lê Thiệu Huy, và cũng khhông dám mơ thấy được người thứ hai tài ba đến nhường vậy”.

 

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người từng dạy ông cũng đã nhận xét: “Tôi có hai người học trò, đều quê ở Đức Thọ. Một là Lê Văn Thiêm, hai là Lê Thiệu Huy học giỏi ít học trò nào sánh kịp”.

 

Không chỉ học giỏi, Lê Thiệu Huy còn thông thạo nhiều ngoại ngữ: Anh, Pháp, La tinh và Trung Quốc… với tiếng Lào, Thái và Quốc ngữ ép – phê – răng – tô… chỉ bằng lối học tốc ký, mà cũng có thể đọc thông, viết thạo.

 

Khi được giao trọng trách làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, ông đã trau dồi thêm kiến thức về quân sự. Bức thư gửi bố ngày 16/1/1946 cho thấy những nhận định đánh giá về quân sự của ông: "Nếu trước tháng 3, quân ta  chiếm giữ được các thị trấn quan trọng trên đường số 9 thì bọn Pháp thì sẽ bó tay, vì tháng 3 là mùa mưa, rừng Lào khi ấy nhiều muỗi nên khó ở được đối với người Âu… Trái lại nếu trước tháng 3 mà chúng chiếm giữ không xong thì mùa mưa sẽ ngăn trở mọi cuộc hành binh”.

 

Tham mưu trưởng liên quân Việt - Lào tài ba

 

Sau Độc lập, vì rất giỏi ngoại ngữ, nên Lê Thiệu Huy được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời làm thư ký riêng cho Bác trong cuộc đàm phán với liên quân Anh, Mỹ (11/ 1945). Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và đó là lý do ông được Bác Hồ và Bộ Quốc phòng đặc phái, cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt tại nước bạn Lào và tham gia ngoại giao với nước Xiêm (Thái Lan).

 

Ngày 2/12/1945, Lê Thiệu Huy đã cùng đồng đội phá tan một căn cứ Pháp ở Keng Khang (Trung Lào). Và ngày 19/12/1945, quân ta cũng do ông chỉ huy, đập tan cuộc hành binh táo bạo của quân Pháp và chiếm được Mường Phin (Trung Lào).

 

Tháng 3 năm 1946, Lê Thiệu Huy đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ Hoàng thân Xu-pa-nu-vông vượt sông Thái, tại Thà Khẹt trên dòng sông Khóng (Mê Kông). Bị Pháp truy đuổi, ông đã che đạn cho Hoàng thân và hy sinh anh dũng.

 

Người em lại tháng đôi ba lần viếng mộ anh chưa biết mặt

 

Trước lúc hy sinh, Lê Thiệu Huy vẫn còn bình tĩnh, gửi lời chào đến đồng chí và người thân bạn bè đã cùng ông sát cánh chiến đấu. Sau đó căn dặn bạn là giáo sư Hoàng Xuân Bình - người cùng kề vai sát cánh tại Lào (em trai giáo sư Hoàng Xuân Hãn) đem thi hài ông về quê an táng và gửi thân nơi cửa Phật.

 

Trong thư chia buồn gửi cho gia đình giáo sư Lê Thước, ngài Xu-pa-nu-vông khẳng định: “Thưa ngài! Anh Lê Thiệu Huy - người con yêu quý bậc nhất của ngài mất đi, không riêng gì gia quyến mất đi một người con yêu dấu nhất mà nước Việt Nam và nhân dân Lào mất đi một người chiến sỹ đầy tinh thần hy sinh vì công lý. Riêng tôi, cái chết của anh Lê Thiệu Huy không khỏi làm cho tôi bùi ngùi, thương tiếc… tinh thần cao cả ấy đã nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào luôn bền bỉ chiến đấu tiêu diệt đế quốc dành độc lập cho đất nước”.

 

Nhà nước Nhân dân Lào đã truy tặng ông Huân chương Ích-xa-la (Huân chương cao quý nhất của nước Lào) dành cho ông - một chiến sỹ hy sinh vì hai dân tộc, hai nước.

 

Còn đối với giáo sư Lê Thước – Một học giả nổi tiếng về sử học và văn học trong thế kỷ 20, đã bùi ngùi xúc động viết lên bài thơ “Khóc con” như sau: “Đau lòng xiết kể hỡi con ơi. Hăm sáu xuân xanh trót một đời. Thấy cảnh chỉn e tằm đứt ruột. Nghe tin nào khác sét đánh bên tai. Trao gương trung liệt thờ ba nước. Uổng kiếp tài hoa mới  nửa đời. Lai láng trời Tây hồn cố quốc. Quân thù chưa diệt hận chưa nguôi” - (Viết tháng 11/1946)

 

Đồng đội an táng của Lê Thiệu Huy cạnh bờ sông Khóng - một chi nhánh của sông MeKong. Trải qua hai cuộc chiến tranh không tiện việc tu bổ, chăm sóc, mộ nhà trí thức tài ba, người lính dũng cảm thông minh đã bị cuốn trôi.

 

Đến nay, tháng đôi ba lần, người em trai chưa bao giờ được biết mặt anh  là Lê Thượng Quýnh lại đến nghĩa trang Liệt sĩ Đại Nài (TP Hà Tĩnh) thắp nén hương thành kính lên mộ ông, dù đó chỉ là bia mộ tượng trưng.

 

Minh San (Khoa học & Đời sống)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu