Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Công ăn việc làm khi vận hành nhà máy điện hạt nhân

05/02/2014 10 phút đọc
Số lượng lao động  làm việc tại nhà máy điện hạt nhân(ĐHN) khác nhau tùy theo quốc gia , loại nhà máy ĐHN và số lò
Công ăn việc làm khi vận hành  nhà máy điện hạt nhân


Số lượng lao động  làm việc tại nhà máy điện hạt nhân(ĐHN) khác nhau tùy theo quốc gia , loại nhà máy ĐHN và số lò phản ứng trong nhà máy  . Cũng như khi xây dựng các nhà máy ĐHN , khi khai thác  nhà máy ĐHN ,  Oxford Economics cũng tính chỉ số nhân để tìm ra số lao động cần thiết  cho vận hành nhà máy.

Tính toán cho thấy cứ 100 nhân viên nhà máy ĐHN  thông qua chuỗi cung ứng và tiềm lực mua sắm ( hàng hóa và dịch vụ như dịch vụ nhiên liệu , sửa chữa, đại tu , tư vấn, cung cấp máy móc , phụ kiện, van , nghiên cứu ủy thác , dịch vụ kỹ thuật , nước vệ sinh môi trường , xử lý dữ liệu , bảo hiểm, thuế cho địa phương và quốc gia ) sẽ tạo ra thêm 17 việc làm ( hệ số nhân 0,17 ) . Việc làm thêm sẽ được tạo ra trong nền kinh tế quốc gia do chi phí sản xuất năng lượng thấp. 

Tháng 12 năm 2011 , Viện Năng lượng hạt nhân Hoa Kỳ đã công bố một phân tích của  Oxford Economics (2011) về việc làm, nếu như ngành ĐHN  ở Hoa Kỳ được phục hưng. Oxford Economics tính toán rằng một đơn vị năng lượng hạt nhân với công suất 1000 MWe sẽ tạo ra  tổng số 4372 việc làm cả trực tiếp và  gián tiếp (hệ số nhân : 1.79 ) . 

Giả sử áp dụng chỉ số của Oxford Economics cho hoạt động của sáu đơn vị hạt nhân với tổng công suất 6.000 MW (theo như kế hoạch ĐHN Ba Lan) có thể tạo ra 3180 việc làm trực tiếp và 23 087 việc làm gián tiếp trong nền kinh tế - tổng cộng 26 267 việc làm. Cũng như với giai đoạn xây dựng , con số này dựa trên các giả định có thể không  phù hợp với điều kiện Ba Lan. Ước lượng chính xác phải được thực hiện bởi các nhà đầu tư hoặc thuê ngoài (viện nghiên cứu chuyên ngành), họ sẽ đưa ra dự toán đáng tin cậy phù hợp với mô hình kinh tế Ba Lan. 

Ngoài lao động trực tiếp làm việc trong các nhà máy ĐHN ,  cần tính thêm các chuyên gia làm việc tại trụ sở chính của công ty ( trong trường hợp của PGE trụ sở chính sẽ ở Vacsava ) . PGE không cung cấp ước tính chính thức về chủ đề này , nhưng một trong những nhà cung cấp tiềm năng của công nghệ ĐHN,  công ty Westinghouse , mô tả sự cần thiết thêm  150-400 người làm việc ở trụ sở chính.  Cũng xin lưu ý người  giám sát hạt nhân , làm việc ổn định ở mỗi nhà máy . Kinh nghiệm thế giới cho thấy 1-2 người mỗi khối năng lượng , như vậy sẽ có 4 đến 12 người  trong trường hợp  Ba Lan ( 4 hoặc 6  các đơn vị hạt nhân ) . 

Tất cả các vị trí trong các nhà máy điện hạt nhân Ba Lan cuối cùng sẽ là  nhân viên Ba Lan. Ngoại lệ duy nhất có thể là 2 năm đầu hoạt động của nhà máy đầu tiên  (tức là cho đến khi kết thúc việc thay thế lần đầu  nhiên liệu trong lò phản ứng ) , khi một số nhân viên  có thể là lao động nước ngoài của Tổng thầu cử đến. Nhiệm vụ của họ là đưa đội ngũ Ba Lan  làm quen dần công việc trong một môi trường mới và trở nên quen thuộc với các chi tiết cụ thể của tất cả các trang thiết bị . Đó là thực tế phổ biến trong ngành năng lượng hạt nhân  trên thế giới. 

Thực tế là người Ba Lan  có thể làm việc trong ngành công nghiệp này. Ví dụ họ đang  làm việc trong các nhà máy điện hạt nhân ở Đức , Bỉ, Pháp , Canada, Nga , Thụy Điển , Anh, Mỹ, Nam Phi và các nước khác . Họ chiếm một loạt các vị trí khác nhau, từ công nhân lành nghề cho đến kỹ sư trưởng điều hành nhà máy ĐHN. 

Xin lưu ý rằng đây không phải là tất cả công ăn việc làm được tạo ra bởi điện hạt nhân, việc làm thêm cũng sẽ có khi  xây dựng và hoạt động bộ phận xử lý chất thải phóng xạ ( bề mặt và sâu ) , cũng như công việc thanh tra hạt nhân ( hạt nhân quy định) và R & D ( các viện nghiên cứu hỗ trợ ). 

Nói chung, trong trường hợp của Ba Lan, chúng ta có thể nói khoảng 11.000 đến 15.000 việc làm trực tiếp và hàng chục ngàn lao động gián tiếp , do cái gọi là hiệu ứng số nhân. Số lượng việc làm trực tiếp ( Full time equivalent  FTE - Toàn thời gian tương đương ) có thể dễ dàng đo lường được nhờ các tài liệu phong phú và liên kết rõ ràng với công việc cụ thể của ngành công nghiệp hạt nhân. Số lượng việc làm gián tiếp ( trong các lĩnh vực phục vụ cho ngành công nghiệp hạt nhân ) và được phát sinh do có ĐHN (ví dụ , ngành sản xuất nào đó phát triển nhờ giá ĐHN rẻ, hoặc ngành dịch vụ phục vụ công nhân viên ĐHN ) là tùy thuộc vào tình hình cụ thể mỗi khu vực nhà máy . Tuy nhiên, cũng cần nêu ra ở đây để  minh họa cho quy mô của các lợi ích của năng lượng hạt nhân. 

Vẫn còn một câu hỏi quan trọng , có ảnh hưởng đáng kể đến việc giải thích các dữ liệu về việc làm trong khi xây dựng ĐHN . Đó là việc hình thành và hoạt động của nhà máy điện hạt nhân  sẽ ảnh hưởng đến việc làm trong các ngành công nghiệp khác như thế nào ? . Như chuyển từ các nước xây dựng năng lượng hạt nhân cho các nước khác không sử dụng ĐHN?

 

Câu trả lời nằm trong các chỉ số thống kê được công bố bởi Eurostat . Sau năm năm, hầu hết các nước sử dụng năng lượng hạt nhân (ngoại lệ là Slovakia , nơi mà giá năng lượng cao có nguồn gốc từ độc quyền hiện tại , chi phí mạng cao và lệ phí liên quan đến việc bảo vệ môi trường ) đều có giá điện thấp , và các quốc gia bỏ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân như Đan Mạch , hay loại trừ ĐHN từ lý do chính trị như Ý và Đức - sẽ có giá điện cao . 

Tính đến tháng năm 2013, giá điện bình quân cho các khách hàng mua lẻ trong Liên minh châu Âu vào năm 2012 là 197 EUR / MWh , trong khi ở Đan Mạch đó là 297 EUR / MWh , trong Đức 268 EUR / MWh và Ý 230 EUR / MWh . Ngược lại, ở Pháp, nơi mà 80% điện là ĐHN , giá năng lượng chỉ 145 EUR / MWh . Giá năng lượng cho  khách hàng công nghiệp cũng cao hơn ở các quốc gia mà không có điện hạt nhân (hoặc rút lui khỏi nó ), ví dụ , ở Đức 130 EUR / MWh , Ý 199 EUR / MWh , trong khi ở Pháp nó chỉ là 79 EUR / MWh .

 Theo báo cáo gần đây từ Đức , tiền điện phải trả của ngành công nghiệp đã tăng lên đáng kể . Kết quả tự nhiên của giá năng lượng cao là cuộc chạy trốn của công nghiệp (và việc làm) sang các nước có chi phí năng lượng thấp hơn. Tất nhiên, trong trường hợp các nhà máy điện hạt nhân sản xuất điện với chi phí thấp , xu hướng đảo ngược- nơi làm việc di chuyển sang các nước có thị phần cao về năng lượng hạt nhân ( đặc biệt là có thể nhìn thấy trong trường hợp của Ukraine) . 

Thực tế là chi phí năng lượng hạt nhân là rất thấp, khẳng định bằng các ví dụ từ các quốc gia khác nhau , nơi mà chính phủ đã phải miễn cưỡng chấp nhận năng lượng hạt nhân , để ngăn chặn việc tăng giá điện. Ví dụ cổ điển là Tây Ban Nha , nơi mà chính phủ đảng xã hội chủ nghĩa trong nhiều năm đã phản đối điện hạt nhân, nhưng cho phép hoạt động hạt nhân để ngăn chặn một sự gia tăng quá mức trong giá năng lượng. Tương tự như vậy , các chính trị gia ở Anh trong nhiều năm cho rằng gió mạnh từ Đại Tây Dương là đủ  cho  các trang trại gió hoạt động,  và lại được hỗ trợ bởi khí đốt giá rẻ từ Biển Bắc , đã  chống lại các nhà máy điện hạt nhân , và thậm chí còn áp đặt các nghĩa vụ tính phí cho lượng khí thải CO2 , mà rõ ràng là ĐHN không phát ra . Hóa ra cho đến nay họ đã nhận ra rằng  nhà máy điện hạt nhân là cần thiết và Anh đang chuẩn bị để xây dựng một số nhà máy ĐHN công suất lớn. 

Ở Đức, năng lượng hạt nhân là  điểm chính của tranh chấp chính trị giữa đảng Dân chủ Cơ đốc giáo hỗ trợ năng lượng hạt nhân , và Đảng  xanh & Đảng  xã hội chống đối  năng lượng này. Cuối năm 2010 chính phủ đã ký thỏa thuận với các công ty năng lượng , cho phép kéo dài thời gian vận hành và mở rộng các nhà máy điện hạt nhân. Họ đã phải  trả thêm thuế bổ sung là 2,3 tỷ euro cho việc sử dụng các nhiên liệu hạt nhân và trao cho các công ty năng lượng tái tạo  300 triệu euro mỗi năm. Năm sau 2011 , sau tai nạn Fukushima , chính phủ Đức đã rút sự đồng ý của mình  mở rộng  các nhà máy điện hạt nhân. Nhưng việc áp đặt thuế bổ sung về năng lượng hạt nhân cho thấy rõ ràng  nguồn năng lượng ĐHN có giá rẻ.

 

Tóm lại, thực tế cho thấy rằng việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tao ra  nhiều công ăn việc làm  lương cao và bền vững, và nhận được điện giá rẻ từ các nhà máy điện hạt nhân là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư . Do đó ĐHN là một hoạt động mà trong suy thoái kinh tế hiện nay, nền kinh tế của Ba Lan rất cần thiết , cũng như việc thực hiện các khoản đầu tư lớn khác mà không yêu cầu trợ cấp và tạo gánh nặng cho nền kinh tế trong thời điểm khó khăn .. 

Tác giả: A Strupczewski, Ł Kuźniarski (www.poznajatom.pl) 

Bài viết liên quan

Cùng mạch chủ đề và gần với nhịp tin bạn vừa đọc.

Bình luận ()
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!

Gửi bình luận

Nhập tên và email để bình luận. Chúng tôi sẽ gửi link xác nhận tới email của bạn. Bình luận chỉ hiển thị sau khi bạn bấm link xác nhận.

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu