
Có thể nói rằng, lịch sử chính trị Hoa Kỳ đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động thông qua những bài diễn văn của các đời Tổng thống. Trong những thời điểm khó khăn, một số Tổng thống đã khéo léo sử dụng các bài diễn văn để "lên dây cót"...
Thời kỳ khai quốc
Trên núi Rushmore ở tiểu bang South Dakota, 100 năm qua vẫn
sừng sững tượng cao 18 mét của 4 Tổng thống Mỹ tạc vào đá núi: George
Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln. Ước tính
có khoảng 2 triệu du khách đến thăm di sản này mỗi năm. Họ đến đó để ngắm chân
dung của 4 vị tổng thống kiệt xuất và đọc lại bản Tuyên ngôn Độc lập cùng bản
Hiến pháp đầu tiên của nước Mỹ. Đến đó, họ hiểu thêm về những tiền nhân đã khai
quốc, mở mang bờ cõi và bảo vệ nền cộng hòa ra sao.
Nền cộng hòa đó ra đời trong tiếng súng, khi vùng đất mới của những thuộc địa
riêng lẻ vì muốn liên kết chống thực dân Anh đã hợp lại. Lịch sử nước Mỹghi
ngày 7-6-1776, một đại biểu thuộc địa Virginia, ông Richard Henry Lee, trình
bày trước Hội nghị Đại lục tại Philadelphia (bang Pennsylvania) rằng liên minh
các thuộc địa “có quyền là những tiểu bang tự do, đọc lập”. Đáp lại đề nghị
này, Hội nghị Đại lục đã lập ra ủy ban khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập chuẩn bị
tài liệu để nước Mỹ tuyên bố độc lập, bao gồm những con người ái quốc mà sau
này trở thành những vị cha già của đất nước: Thomas Jefferson, Abraham Lincoln,
George Washington, Benjamin Franklin, John Adams… Thomas Jefferson là ủy viên của
Ủy ban đã chắp bút lo viết dự thảo đầu tiên.
Ngày 4-7-1776, bản Tuyên ngôn Độc lập được chuẩn y. Tuyên ngôn Độc lập Mỹ không
chỉ tuyên bố sự ra đời của một quốc gia mới với 13 tiểu bang, mà còn đưa ra một
triết lý mới về sự tự do của con người: “…mọi con người đều được sinh ra
bình đẳng, rằng họ được Đấng sáng tạo ban cho những quyền không thể chuyển nhượng,
trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Những người ký tên vào Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 dù có bộ óc nhìn xa đến đâu
cũng không thể mường tượng được rằng con cháu họ sau này có những bước đi thật
dài để kiến tạo đất nước chỉ với 9 ngàn dặm vuông và 3 triệu dân lúc họ thành lập
trở thành một cường quốc chỉ một thế kỷ sau đó.
Cho đến nay, Mỹ vẫn được thế giới nhìn về như một đất nước có hệ thống pháp luật
đầy đủ nhất và hoàn hảo nhất. Điều này được khởi đầu ngay từ khi nước Mỹ mới
giành độc lập, viết ra bộ luật đầu tiên của đất nước. Ngày 14-5-1787, Hội nghị
lập hiến diễn ra ở Philadelphia với sự góp mặt của 55 nhân vật, trong đó James
Madison đóng vai trò chính, cùng nhau tạo ra bản Hiến pháp của nước Mỹ. Đến
ngày 17-9-1787, sau 16 tuần tranh luận, Hiến pháp được 39 trong 42 đại biểu
tham dự ký kết.
Từ những buổi bình minh đầu tiên đó của quốc gia, những người lập quốc bên cạnh
việc định ra khái niệm tự do và bình đẳng còn xác định nhiều quy tắc bảo vệ cho
quyền của mỗi cá nhân. Đầu năm 1789, cuộc bầu cử toàn nước Mỹ được tổ chức lần
đầu tiên dưới bản Hiến pháp.

Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington với lời tuyên thệ sau này
được ghi vào
Hiến pháp Mỹ: “Tôi, XYZ, xin thề sẽ thực hiện trung thực nhiệm vụ Tổng
thống Mỹ và sẽ làm hết
sức mình để gìn giữ, che chở và bảo vệ Hiến pháp của nước Mỹ, xin Chúa hãy phù
hộ cho con”
Cử tri đã bỏ phiếu nhất trí bầu George Washington làm tổng
thống và John Adams làm phó tổng thống. George Washington tuyên
thệ nhậm chức vào ngày 30-4-1789 tại thủ đô lúc bấy giờ là New York. Hơn 220
năm sau, khi nhậm chức tổng thống, các tổng thống Mỹ đều lập lại câu thề mà
Washington đã tuyên thệ ngày đó, sau này được ghi vào Hiến pháp, rằng sẽ thực
thi các nhiệm vụ của tổng thống một cách trung tín và bằng hết sức của mình để
“duy trì, bảo vệ và gìn giữ Hiến pháp nước Mỹ”.
Đến năm 1796, Washington quyết định rằng 2 nhiệm kỳ là đủ, ông nghỉ hưu năm
1797. Lên thay Washington, John Adams đã làm một việc quan trọng để đời trong lịch
sử: dời thủ đô nước Mỹ từ Philadelphia đến một thành phố mới được xây dựng nằm
bên bờ sông Potomac tại đặc khu Columbia (District of Columbia) vào năm 1800.
Thành phố mới này được đặt tên là Washington để kỷ niệm người cha già đầu tiên
của nước Mỹ.
Để tránh sự nhầm lẫn với tiểu bang Washington ở miền Tây, thủ đô Washington được
thêm hai chữ D.C. phía sau. Và để nhớ rằng Pennsylvania từng là vùng đất kinh
đô, Adams đã cho đặt tên đại lộ trung tâm ở thủ đô là Pennsylvania mà ngày nay
vẫn là con đường mà mỗi tổng thống phải đi qua trong thủ tục tuyên thệ nhậm chức.
Dựng nước
Vị tổng thống thứ ba và cũng là người khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập - Thomas
Jefferson - là người kế thừa và tiếp tục phát huy di sản của Washington nhiều
nhất để gìn giữ nền độc lập có được bằng xương máu của binh sĩ. Trong diễn văn
nhậm chức năm 1800, Jefferson đã hứa hẹn một chính quyền “khôn ngoan và cần kiệm”.
Ông huấn luyện nhân viên phải tự xem mình là người được nhân dân ủy nhiệm. Ông
khẳng định: “Tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa, tất cả chúng ta đều là người
Liên bang”, và rằng cần phải bảo vệ sức mạnh Hiến pháp bởi đó là “sợi dây neo”
gìn giữ hòa bình trong nước và sự an toàn ở nước ngoài. Một trong những hành động
của Jefferson được ghi dấu ấn vào lịch sử Mỹ là đã làm tăng gấp đôi diện tích đất
nước. Với 15 triệu USD, Mỹ có được thỏa thuận mua Louisiana vào năm 1803. Lãnh
thổ này rộng hơn 2,6 triệu km2, có cả cảng Orleans.
James Madison – “cha đẻ của Hiến
pháp” – kế nhiệm Jefferson. Trong khi chính quyền mới ra đời với việc thiết lập
các cơ quan liên quan, nước Mỹ không ngừng mở rộng diện tích và dòng người di
dân từ châu Âu không ngừng cập bến nước Mỹ. Từ năm 1816 đến 1821, 6 tiểu bang mới
được thành lập: Indiana, Illinois và Maine (những bang tự do) và Mississippin,
Alabama và Missouri (những bang nô lệ). Năm 1819, đánh đổi bằng 5 triệu USD, nước
Mỹ đã thu được cả vùng Florida từ Tây Ban Nha và quyền hạn của Tây Ban Nha đối
với xứ Oregon miền Viễn Tây.
Cho đến năm 1850, nước Mỹ với 31 tiểu bang đã là nơi cư ngụ của 23 triệu dân. Từ
lãnh thổ của Mexico, Texas trở thành tiểu bang thứ 28 của Mỹ vào năm 1845. Sau
đó, Mexico tiếp tục nhượng lại cho Mỹ vùng Tây Nam và California với giá 15 triệu
USD.
Về mặt xã hội, những năm 1850 là một thập niên đầy bất hòa về việc chiếm hữu nô
lệ. Thời thế tạo anh hùng, giữa không khí sục sôi ngày đó, lịch sử Mỹ ghi nhớ một
nhân vật kiệt xuất: Abraham Lincoln.
Lincoln từ lâu đã coi chế độ chiếm hữu nô lệ là một điều tàn ác. Trong một bài
diễn văn đọc ở Illinois năm 1854, ông tuyên bố rằng mọi pháp chế của đất nước
phải nằm trong nguyên tắc là chế độ nô lệ phải bị hạn chế và cuối cùng sẽ bị hủy
bỏ. Bài diễn văn khiến ông được miền Tây đang lớn mạnh ủng hộ nhiệt liệt. Năm
1858, Lincoln ra tranh cử giành ghế thượng nghị sĩ Illinois, ông nhấn mạnh
trong bài diễn văn phát động chiến dịch tranh cử về mục tiêu của nước Mỹ: “Một
gia đình chia rẽ không thể nào tồn tại. Tôi tin chính quyền này không thể chịu
đựng mãi mãi tình trạng nửa nô lệ nửa tự do. Tôi không mong đợi liên bang bị
tan rã. Tôi không mong muốn ngôi nhà sụp đổ mà tôi mong đợi nó không còn bị
chia rẽ”.

Tổng thống Abraham Lincoln với bài diễn văn nổi tiếng dài 272 từ trong đó lần
đầu tiên
xuất hiện cụm từ bất hủ: Chính quyền của dân, do dân và vì dân.
Trong diễn văn nhậm chức Tổng thống ngày 4-3-1861, Abraham
Lincoln từ chối công nhận việc ly khai, gọi việc này là “vô hiệu về mặt pháp
lý”. Ngày 19-11-1863, khánh thành nghĩa trang quốc gia mới tại Gettysburg,
Lincoln có bài diễn văn 272 từ mà sau này được đánh giá là bài diễn văn nổi tiếng
nhất của các tổng thống Mỹ. Việc xây dựng nghĩa trang cho binh sĩ của cả hai
chiến tuyến cũng như những câu từ trong bài diễn văn có tác động to lớn đến việc
hòa giải và hàn gắn quốc gia, với một cụm từ bất hủ: chính quyền của
dân, do dân và vì dân.
Cuộc nội chiến Mỹ kéo dài đến năm 1865, khi quân đội miền Nam đầu hàng thì mới
kết thúc. Lúc này, tái thiết là nhiệm vụ hàng đầu, như quyết tâm của Abraham
Lincoln trong diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai năm 1864: “Chúng ta hãy nỗ lực
để hoàn thành công việc đang dang dở, băng bó các vết thương trên đất nước”.
Ngày 1-1-1863, Abraham Lincoln ký một văn kiện quan trọng mà ông đã mơ ước từ
lâu: Tuyên bố trả tự do cho người nô lệ, còn gọi là Tuyên bố giải phóng nô lệ.
Đối tượng của bản tuyên bố này là hơn 3 triệu người nô lệ, được tuyên bố “kể từ
nay được tự do”.
Thế kỷ đầu tiên của nước Mỹ đi qua với 4 cái tên đã được khắc nhớ nhất trong lịch
sử Mỹ: George Washington, Thomas Jefferson, James Madison và Abraham Lincoln. Nền
dân chủ, giá trị Mỹ mà họ tạo ra, với người Mỹ, không chỉ có giá trị trăm năm.
Những điều chưa biết về diễn văn Tổng thống Mỹ
Diễn văn của Tổng thống Mỹ luôn được coi là một trong những diễn văn có tầm ảnh
hưởng lớn, không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Trước đây, những bài diễn
văn nhắm tới thính giả là những người có mặt trong một buổi lễ cụ thể. Càng về
sau, cùng với đà phát triển của phương tiện truyền thông và sự phát triển của
hình thái chính trị Hoa Kỳ, những bài diễn văn đó được coi như một dạng tuyên
ngôn chính trị của nguyên thủ quốc gia tới tất cả các công dân Mỹ và những người
dân ở các nước khác trên toàn thế giới.
Diễn văn của vị chủ nhân Nhà Trắng luôn được chú mục kỹ lưỡng bởi ngoài những
công thức ngoại giao truyền thống, nó còn gián tiếp thông báo về những công việc,
định hướng các hành động, chính sách mà Tổng thống Mỹ sẽ tiến hành trong thời
gian tới. Nhiều Tổng thống Mỹ, trong những thời điểm khó khăn, đã khéo léo sử dụng
các bài diễn văn để "lên dây cót" cho lòng dân, thể hiện bản lĩnh và
phong độ của một Tổng thống Mỹ nhằm thực hiện một số mục tiêu chính trị nhất định.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đọc Diễn văn nhậm chức.
Có thể nói rằng, lịch sử chính trị Hoa Kỳ đã được tái hiện một
cách đầy đủ và sinh động thông qua những bài diễn văn của các đời Tổng thống. Mỗi
Tổng thống Mỹ là một nhân cách chính trị độc đáo, và mỗi nhiệm kỳ Tổng thống lại
mang một diện mạo đặc biệt được thể hiện qua văn phong, ý tưởng và tính thuyết
phục trong mỗi bài diễn văn.
Vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ George Washington đã kết thúc buổi lễ nhậm
chức của mình tại New York City ngày 30/4/1789 bằng một bài diễn văn đặc biệt.
Từ đó về sau, các dạng diễn văn Tổng thống như diễn văn nhậm chức, Thông điệp
Liên bang… đã trở thành truyền thống của nền chính trị Hoa Kỳ. Dần dà, những
bài diễn văn nhậm chức của các Tổng thống mới được đăng lại trên báo in (từ năm
1857 có kèm theo ảnh) và từ khi xuất hiện đài phát thanh và truyền hình - được
truyền thanh và truyền hình trực tiếp, thoạt tiên ở trong nội bộ nước Mỹ rồi phủ
sóng cả thế giới.
Năm 1897, lần đầu tiên diễn văn nhậm chức của Tổng thống Mỹ được ghi hình. Năm
1921, lần đầu tiên diễn văn nhậm chức của Tổng thống Mỹ được phóng đại qua hệ
thống micro. Buổi truyền thanh trực tiếp diễn ra vào năm 1925, buổi truyền hình
trực tiếp vào năm 1949, buổi truyền hình màu trực tiếp đầu tiền vào năm 1961. Vị
Tổng thống Mỹ thứ 42 Bill Clinton năm 1997 đã trở thành nguyên thủ quốc gia đầu
tiên ở Mỹ ra lệnh xây dựng một trang web đặc biệt để tường thuật trực tuyến
trên mạng Internet buổi lễ nhậm chức lần thứ hai của ông.
(Theo Chungta.com)
Gửi bình luận
Nhập tên và email để bình luận. Chúng tôi sẽ gửi link xác nhận tới email của bạn. Bình luận chỉ hiển thị sau khi bạn bấm link xác nhận.