Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online
Giáo dục Tiêu điểm

Xã hội sẵn sàng 'trả giá' cho cái tài của tiến sĩ?

07/04/2010 11 phút đọc
BBT : Việt Nam đang trên đường vươn ra biển lớn. Đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức có tâm và tầm đóng vai trò quan
Xã hội sẵn sàng 'trả giá' cho cái tài của tiến sĩ?

BBT : Việt Nam đang trên đường vươn ra biển lớn. Đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức có tâm và tầm đóng vai trò quan trọng. Làm như thế nào ? Chúng tôi giới thiệu bài viết hay sau đây của Vietnamnet, tác giả là cây bút Nguyễn Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ ở Đức năm 1975, hiện đã 62 tuổi. Bài viết "Tiến sĩ "ngoại", trí thức "salon" và các hệ quy chiếu" của ông như một tiểu kết cho câu chuyện mà đông đảo bạn đọc quan tâm thời gian qua. Xin trân trọng giới thiệu  bài viết của ông dưới đây.

 


Sau
“tiến sĩ ngoại” là  “trí thức salon”, sau  “sự nhức lòng của tiến sĩ ngoại“  là các  yêu cầu họ phải  “hy sinh lợi ích cá nhân vì đất nước”. Sau ý kiến của những người trong cuộc, ý kiến của các tác giả, là ý kiến của  các bà vợ tiến sĩ cùng  rất nhiều bạn đọc thuộc các giai tầng khác nhau, Họ  thường  xuất phát từ hệ quy chiếu đơn lẻ,  mang  tính chủ quan áp đặt của riêng mình, đôi khi  khá  xa lạ với chủ đề đặt ra ở đây . Một cuộc tranh luận như thế này  sẽ  không có hồi kết   thỏa đáng cho các bên tham gia. Càng khó  tìm ra lời giải  chung cho vấn đề tạm coi là bức xúc này.   

Ở đây, chỉ xin lạm bàn  một chút về các hệ quy chiếu hay cách nhìn nhận và đánh giá một  vấn đề, mong sao tìm được mẫu số chung để  cho các bên tranh luận hiểu  và thông cảm với nhau hơn.  

Xin tạm nêu ra  một vài hệ quy chiếu có liên quan tới vân đề TS và “trí thức salon": 

 

1.  Hệ quy chiếu phương tiện và mục đích hay  TS và nhu cầu TS (theo các chức năng TS) của xã hội.  

1.1.Điểm xuất phát thứ nhất  của hệ quy chiếu này  là nhu cầu và khả năng đầu tư  xã hội cho  nghiên cứu khoa học, phát triển  công nghệ mà TS hay tri thức chỉ là một loại phương tiện để thực hiện mục đích đó mà thôi.  

 Ở các nước phát triển, nhu cầu nghiên cứu, phát triển công nghệ và sản phẩm mới  rất cao mang tính sống còn. Nguồn lực  đầu tư khổng lồ  cho nghiên cứu  khoa học và phát triển công nghệchủ yếu đến từ các công ty tập đoàn kinh tế tư nhân (thường  chiếm  khoảng 90% tổng mức đầu tư) và   từ ngân sách nhà nước (thường chiếm dưới 10%).  

Có thể so sánh như thế này:  Một công ty đa quốc gia như Samsung có nhu cầu đầu tư  nghiên cứu phát triển  là 2.600-3.000 triệu USD/ năm.

 Trong khi đó, toàn bộ ngân sách (tiền thuế của dân) của Bộ KH&CN VN cho hoạt động của tất cả các ngành khoa học và công nghệ của một nước 85 triệu dân là khoảng  chưa đầy 2% GDP mà đôi khi không dùng hết  (ước  khoảng 500 triệuUSD/ năm). Nhu cầu và khả năng đầu tư cho KHCN của khu vực tư nhân Việt Nam, ngược lại,  còn rất nhỏ bé, chủ yếu là ứng dụng  các thành tựu công nghệ tiên tiến của thế giới.    

Như vậy, nhu cầu và khả năng  đầu tư  của đất nươc cho  lĩnh vực này còn quá  hạn chế (nếu đem so sánh chỉ bằng một phần của  một công ty đa quốc gia của Hàn Quốc) chủ yếu dựa vào ngân sách ít ỏi của nhà nước. 

 Từ đó, còn nhiều bất cập giữa phương tiện  và mục đích. Ta có thể hiểu  các TS, GS  của VN  chưa thể có  công trình khoa học xứng đáng cả về lượng và chất . Ngược lại,  họ cũng không có lý do chính đáng để  kêu ca về  vai trò  và sự đãi ngộ một khi xã hội chưa sẵn sàng trả giá cho điều này.  

 Tạm bỏ qua những tiêu cực trong môi trường làm việc,  trong phân bổ kinh phí  và một số hiện tượng tham nhũng mức độ cao trong thực hiện các đề tài  của giới khoa học và quản lý khoa học nước nhà thì những tranh luận về tài năng, sự đãi ngộ hay hy sinh thực ra chưa  có nhiều ý nghĩa thực tiễn vào giai đoạn hiện nay. 

 1.2. Đào  tạo ĐH và CĐ - chức năng thứ hai của  các TS và GS  

Việt Nam đang "lạm phát" các trường ĐH và CĐ và rất thiếu  các GS, TS trong đội ngũ giảng dạy của họ. Đây lẽ ra là môi trường lý tưởng cho các TS, đặc biệt là TS ngoại.  

Tuy nhiên, sự khủng hoảng về chất lượng đầu vào, về  chất lượng đội ngũ giảng dạy, về  chất lượng giáo trình và chương trình, về  phương pháp đào tạo  và cái cách đào tạo  theo chỉ tiêu  tiền chùa  kiểu bao cấp  khiến cho các TS, GS rất khó thực thi chức năng đào tạo của mình một cách có  giá trước các nhu cầu chính đáng  của xã hội. “Tị nạn giáo dục “ mà báo chí phải nói tới có thể là biểu hiện sâu sắc  về sự khủng hoảng, mất phương hướng  của lĩnh vực này.  

Khi mà   giáo dục - đào tạo và  khoa học -  công nghệ  VN  vẫn  còn mang tính tự thân, chưa thực sự tương thích với  các nhu cầu thực tiễn  kinh tế xã hội vì chất lượng  bất cập như hiện nay, hoặc xã hội chưa có được những nhu cầu  về những chuyên ngành cao sâu nào đó  (vì ngay ứng dụng các thành tựu của thế giới cũng còn khó khăn) hoặc bộ máy  đang cần những tài năng  kiểu khác  thì vấn đề ưu đãi  các TS ngoại, những “người tài” ( nhưng chưa khả dụng) như đang nêu ở đây  vẫn chưa  thể  có lời giải.   

Nguyên tắc cơ bản  mang tính quy luật  là  “cái tài “ tự nó phải có giá, và  xã hội cũng  phải  sẵn sàng  trả giá cho nó. Đi ngược lại nguyên lý này, cả xã hội và TS đều  cùng  thất bại hoặc dẫn đến sự biến chất, đánh mất mình và   phải trả giá. Chúng ta sẽ tiếp tục nói về  những điều này  ở các hệ quy chiếu tiếp theo.  

2. Hệ quy chiếu của sự biến chất và trả giá  khi  tiến sĩ và giáo sư thành “tri thức salon”   

Khi nói về “ tri thức salon”, tác giả Lê thị Liên Hoan có một cái nhìn ghê gớm và không khoan nhượng. Tuy nhiên, cần tìm “"cái lý  tồn tại “ của hiện tượng này mới mong khắc phục được. 

 

2.1. Do hoàn cảnh : Khi khá nhiều  TS, GS không thực thi được thiên chức của mình  như là công cụ phát triển KH&CN  để thực thi các mục tiêu phát triển của  xã hội như nêu ở điều 1 do  xã hội chưa  có nhu cầu hoặc  chưa có cơ chế sàng lọc chất lượng các nhà khoa học   thì hệ quả  của nó thường  là sự biến chất và biến tướng của chính các thành phần này.   

Bằng cấp  trở  thành các cổ phiếu đặc biệt hùn vốn cho việc  đầu tư thăng quan tiến chức hoặc thành  thẻ VIP cho các hội nghị kiểu câu lạc bộ  trưng diện và đánh bóng cá nhân bằng các phát biểu ồn ào. Nhưng nếu theo dõi hệ thống, sẽ thấy đấy chỉ là những đoạn ghi âm được phát đi phát lại  khá nhiều  lần. 

 

2.2. Do truyền thống văn hóa chuộng bằng cấp:  Từ trong truyền thống của người Việt, mục tiêu của việc học hành, thi cử là giật lấy mảnh bằng, đỗ đạt làm quan cho vinh thân, phì gia, một người làm quan cả họ được nhờ.  

Trong tâm thế của người Việt, cái sự học không phải để hành, để làm ra sản phẩm  giúp ích cho đời. Ngay cả Văn Miếu nổi tiếng  cũng chỉ đề cao sự học, sự  đỗ đạt làm  quan ăn lộc vua ban chứ ít  nói đến sự hành, sự đóng góp cụ thể của các bậc sĩ phu ấy cho sự phát triển mang tính cải cách  khai sáng  cả một dân tộc kém phát triển trong suốt thời phong kiên lạc hậu. 

 Chẳng thế mà ở ta , thày luôn nhiều  hơn thợ. Nhiều năm, con đường duy nhất của hàng triệu học sinh phổ thông là thi vào đại học và đi làm quan chức nhà nước. Người ta sẵn sàng học suốt đời để lấy các bằng cấp thật cao như TS, TSKH mà ít lo xem phải làm gì khi mang mảnh bằng đó ở  trên đời.  

Vậy “trí thức salon” Việt Nam có thể có truyền thống và nguồn gốc sâu xa hơn nhiều và giải quyết nó không thể bỏ qua yếu tố tâm lý, văn hóa truyền thống cũ kỹ của dân tộc. 

 

3. Hệ quy chiếu quyền lợi và nghĩa vụ  

Đây là phần tranh luận sôi nổi nhất,  nhưng tiếc rằng, không thể là  điểm  gốc để giải quyết các  các   vấn  đề  có liên quan. 

 Một bên ủng hộ  các TS ngoại bức xúc về chế độ làm việc và đãi ngộ, ủng hộ họ đi làm cho nước ngoài. Một bên kêu gọi sự hy sinh lợi ích các nhân vì đất nước với tất cả sự hăng hái của mình.  

Có nhiều thí dụ rất đời thường và sống động được dẫn ra : TS, PGS đi  làm cục  phó , nhưng vẫn  đào tạo nhiều chuyên gia giỏi và  tổ chức cơ sở nghiên cứu riêng; sau khi tập trung  “chơi chứng khoán” được đôi chục tỷ, hai vợ chồng tiến sĩ nọ ra nươc ngoài sống  và làm việc; những bức xúc về môi trường làm việc chứ không đơn thuần về tiền  lương  v.v... Có thể hiểu và thông cảm, nhưng có nước nào đào tạo TS  chủ yếu để  đi làm quan chức hoặc kinh doanh không  và nếu kế hoạch 2 vạn TS thành công thì VN sẽ làm gì với họ cho có hiệu quả? 

 Chúng ta có nhầm lẫn một lần nữa ở đây giữa phương tiện và mục đích? 

 

3.1.  Khi hệ quy chiếu 1 không được giải quyết triệt để.theo “Nguyên tắc cơ bản  mang tính quy luật  là  “cái tài TS  “ tự nó phải có giá, và  xã hội cũng  phải  có nhu cầu và   sẵn sàng  trả giá cho nó”, thì không có cơ sở để giải quyết mối tương quan quyền lợi và nghĩa vụ. Khi chưa xác định rõ mục đích thì phương tiện dù có tốt đến mấy cũng chỉ là trả giá đắt mà thôi. 

 

3.2.Cách tư duy phải hy sinh các này cho cái kia, đặt các lợi quyền hoặc nghĩa vụ  đối kháng với nhau thực ra rất lạc hậu, dễ gây ra sự phân rã các nguồn lực và  không giúp cho  một  dân tộc trưởng thành, một đất nước phát triển và con người sống nhân bản hơn. 

 Tại sao không áp dụng  cơ chế win- win cho tất cả: cá nhân, công đồng và đất nước trên cơ sở nhất thể hóa các lợi quyền và nghĩa vụ của các thành phần xã hội?  

Từ lâu thế giới đã đi theo con dường như vậy và nhiều nước đã gặt hái được những  thành công và phát triển rực rỡ. Bao giờ Việt Nam  có được nhận thức,  cơ chế và môi trường cho giải pháp này?  

Nếu không,  sẽ tiếp tục có : sự chảy máu chất xám ( thứ mà ta chưa dùng được hoặc chưa muốn dùng ), sự “tị nạn giáo dục” đáng buồn cho một dân tộc có tiềng là hiếu học,  sự biến chất  của con người : tiến sĩ sẽ không còn là tiến sĩ nữa (không gắn bó với nghiên cức khoa học và đào tao, thích làm quan chức và kinh doanh hơn), hoặc tri thức  biến dạng thành  “ tri thức salon”.  

 

Nguyễn Hoàng (Vietnamnet)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu