"Sự thật đã vượt quá sức tưởng tượng của tôi. Có một cái gì tuyệt đối, triệt để, một chiều đến độ khó tin được. Có một cái gì thô bạo, quá khích, giáo điều và gian trá đã trở nên nề nếp bình thường, bình thường đến mức không mường tượng ra nổi!" - Bút ký của GS. Nguyễn Đăng Hưng.
![]() |
| GS.TS. Nguyễn Đăng Hưng - TGĐ Công ty Hưng Việt nhận giải thưởng “Doanh nhân tài hoa” |
Bối cảnh 6
Trở sang Bỉ, tôi quyết định đưa đơn xin vào quốc tịch nơi cư ngụ. Tôi vốn rất thích đi đó đi đây, và nghề nghiệp cho phép thường xuyên đi tham dự hội nghị, hội thảo khoa học khắp năm châu. Tờ hộ chiếu Việt Nam đặt cho tôi bao nhiêu vấn đề mỗi chuyến đi. Tôi lại quyết định chấp nhận được đề cử thuyên chuyển đi dạy ở Kinshasa, Zaðre, Phi châu, trong thời gian dài năm năm.
Zaðre là một nước dân trí còn kém. Lúc thu hồi độc lập (1960), tri thức có cấp bậc đại học đếm trên đầu mấy ngón tay. Đất nước được thiên nhiên hậu đãi, tài nguyên dồi dào, khí hậu thuận lợi. Đất tốt, mưa nhiều, cây cỏ tự mọc lên, người dân chỉ hái lượm cũng đủ ăn. Trong quá trình phát triển, họ không qua giai đoạn làm nông. Chính cái chỗ họ đốt giai đoạn đi thẳng lên công nghiệp hóa, đã gây ra không ít vấn đề trên con đường mở mang kinh tế. Tuy vậy, thành phố Kinshasa nhà cao, cửa rộng, xe cộ tấp nập, đường sá mới mẻ. Dân chúng ăn mặc nói chung sạch sẽ, ăn uống nói chung đầy đủ. Đám đông người Zaðre tươm tất, tươi vui hơn đám đông Việt Nam nhiều. Ý nghĩ ấy làm tôi thấy xót xa, tủi phận, chán chường…
Cơ quan quốc tế nào cũng có mặt ở đây. Chánh phủ Zaðre giao dịch với hầu hết các nước trên thế giới. Nhật xây một chiếc cầu lộng lẫy, cầu treo Matadi. Pháp xây trung tâm vô tuyến truyền hình nguy nga. Tây Đức xây trung tâm thương mại tân kỳ. Trung Quốc xây Palais du Peuple thinh thang. Hoa Kỳ xây trung tâm nông nghiệp rất là qui mô. Bỉ xây làng đại học Kinshasa thật là đồ sộ…
Những người đi hợp tác quốc tế như tôi thường có dịp gặp nhau trong những buổi tiếp tân, tiệc tùng. Và trong những buổi ấy, người da vàng như tôi không phải là hiếm:
- Anh phải Việt Nam không?
- Vâng.
- Anh từ đâu tới?
- Từ Canađa, tôi đi với tư cách chuyên gia của chánh phủ Canađa về ngành luyện kim.
- Tôi từ Hoa Kỳ, cố vấn nông nghiệp.
- Tôi từ Pháp sang, chuyên gia hàng không chánh phủ Pháp gởi sang giúp hãng Air Zaðre.
- Tôi cũng là Việt Nam nhưng từ Tây Đức, chuyên gia khai thác rừng của một hãng tư gởi sang.
- Tôi từ Thụy Sĩ, chuyên gia ngân hàng.
- Tôi cũng từ Pháp, nhưng sau đó sang định cư tại Luxembourg vì làm cho Thị trường chung Âu châu. Hiện tôi là đại diện Thị trường chung Âu châu tại Zaðre.
- Tôi từ Anh, di tản kiếm ăn từ năm 75, nay làm cho Ngân hàng quốc tế, chuyên gia cầu đường.
- Và tôi cũng là người Việt Nam, đi từ Bỉ sang hợp tác đại học về ngành cơ…
Rồi chúng tôi hẹn gặp lại ngày Tết Việt Nam, ăn chung cái Tết Congo, Tết rất là thật, có câu đối, có cành mai, có bánh chưng, có tràng pháo và nhất là có chung một tâm trạng của những chất xám lưu vong… Rồi càng ngày chúng tôi càng thân nhau, tuy mỗi người, mỗi gia đình vẫn giữ quan điểm riêng của mình về chánh kiến, về lịch sử, về Việt Nam, mỗi người có một quá khứ riêng, một hoàn cảnh riêng. Phải nói phần đông chúng tôi có địa vị khá quan trọng trong lãnh vực của mình và chánh quyền Zaðre giao cho chúng tôi những trách nhiệm không phải là nhỏ. Và nhờ liên lạc thân thiết thường xuyên, nâng đỡ nhau trong công việc và cuộc sống, nhờ ban giao tốt với người sở tại, chúng tôi được tiếng lành là những người Á châu hữu hiệu và năng động. Đôi khi ngồi lại, suy nghiệm chuyện đời, chúng tôi ai nấy không khỏi bật cười cho cái cảnh éo le của con người Việt Nam hôm nay.
Phải đi sang cái xứ Phi châu xa xôi này mới tìm thấy được một khung cảnh Việt Nam hài hòa, đa nguyên, đa dạng, mới có trách nhiệm đúng với khả năng, mới được trọng dụng và biết quý trọng lẫn nhau…
Một hôm, tình cờ tôi vào cơ quan IBM. Thấp thoáng bên trong một dáng dấp người Á châu. Tôi chưa kịp hỏi, người ấy chạy ra chào tôi :
- Phải anh là Hưng không? Giáo sư Hưng?
- Hình như tôi đã gặp anh, ở đâu không nhớ.
- Tôi là Phu, chuyên viên IBM có làm việc với anh ở Tân Sơn Nhứt năm 77 ấy mà. Không nhận ra tôi sao? Tôi đi tàu, định cư tại Hoa Kỳ năm 81, được cử sang đây vì tôi nói thạo tiếng Pháp.
Giờ đây tôi mới hiểu ra lý do vì sao, bữa tiệc tại Caravelle, anh bạn chuyên viên Sài Gòn cũ đã không đến được.
Bối cảnh 7
Tôi trở về Âu châu, làm việc lại ở Đại học Liège, Bỉ. Lâu lâu tìm gặp anh em trong hàng ngũ phong trào Việt kiều ngày trước cho thấm lại chút hương vị ấm áp ngày xưa. Nhưng hương vị có cái niềm cay đắng! Phong trào ở Bỉ tha hóa đến cực độ! Năm ba người, vài gia đình khum lưng, khép miệng đi theo thời cuộc, số đông rút lui vào bóng tối, vào yên lặng, vào quên lãng, vào sinh kế hằng ngày…
Nhưng rồi có biến chuyển. Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, Đại hội bất thường tháng 9-86 của phong trào Việt kiều Tây Đức, những bài trên báo Văn Nghệ, báo Tuổi Trẻ, sự chuyển mình của báo Đoàn Kết, những bài tham luận của nhà văn Dương Thu Hương, cuộc Hội thảo Việt Nam 88 ở Dourdan (Pháp), sự ra đời của những diễn đàn mới tại Bỉ…
Tôi như lấy lại chút sinh khí, lại chuẩn bị về Việt Nam lần thứ tư, và mới thực hiện chuyến đi ấy cách đây có mấy tháng, dịp tết Kỷ Tỵ vừa qua.
Rất nhiều thay đổi khá rõ nét ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chú tôi mỗi ngày mua báo để đọc chứ không để gói đồ thôi như trước nữa. Vợ chồng ông anh họ tôi không nhờ xin giấy sang Bỉ nữa, dì tôi sai cháu sơn lại mặt tiền căn nhà để ăn Tết, dượng tôi bớt nghe đài BBC, cháu tôi tập tành học nhảy rock… Đã có những nụ cười chân thật, đã có những niềm tin hài hòa, đã nói tới con người, đã bàn đến hạnh phúc… Ở những cơ sở tôi thăm viếng, đã có người đứng ra lấy trách nhiệm quyết định công việc cụ thể, không mất thời giờ hoãn lại, chờ lịnh cấp trên.
Gió ấm đã nổi lên từ lòng đất, từ lòng người, từ bờ sông Volga, sông Dương Tử. Những tản băng hà đã bắt đầu tan dần. Nhưng vẫn còn đó đây, rất phổ biến, thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện, bóng dáng những áo thụng, mũ đỏ, hia đen, ngày đêm cố sức hà hơi nóng, thoa dầu gió cho băng hà khỏi tan nhanh. Những người phù thủy ấy của cuối thế kỷ XX vốn sợ nước, sợ mặt trời, sợ sự thật. Họ lặn không chìm, bơi không nổi. Họ e ngại băng hà rồi sẽ biến thành hồ, thành biển, rồi sóng gió sẽ cuốn họ đi xa ra ngoài bến bờ của lịch sử ngàn năm…
Một buổi sáng, tôi bước vào quán phở nhỏ gần trường đua Phú Thọ để ăn điểm tâm. Những tiệm phở, quán cà-phê, sạp bún bò Huế như vậy ngày nay mọc như nấm. Anh chủ tiệm mập mạp săn đón ân cần:
- Chắc bác là Việt kiều mới về?
- Vâng, tôi từ Bỉ về ăn Tết.
Giọng nói khá nặng của một tỉnh miền Bắc của anh chủ tiệm làm tôi chú ý.
- Chắc bác mỗi năm về ăn Tết ạ?
- Đây là lần thứ hai, lần đầu cách nay mười ba năm. Cũng có về mấy lần nữa nhưng chỉ vào dịp hè thôi. Tết đầu tiên của tôi ở Việt Nam là Tết Bính Thìn 76.
- Tết Bính Thìn, bác ở Bỉ, thế em biết bác, bác còn nhớ em không?
- ???
- Bác quên em rồi. Em là công an nhân dân công tác ở quận nhất ấy mà, bác chụp hình ấy mà, bác nhớ ra chưa?
Té ra anh công an mảnh khảnh ngày xưa bây giờ đổ ra làm chủ tiệm phở, mập mạp hơn trước nhiều, làm tôi không nhìn ra được.
Vâng, Sài Gòn ngày nay có rất nhiều đổi thay…
GS Nguyễn Đăng HưngTamnhin.net
