![]() |
Ảnh minh họa
|
“Trắng”, “đen” và “xám”
Người Việt tại Nga hàng chục năm nay kiếm sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ ở chợ và các trung tâm thương mại, chủ yếu là kinh doanh hàng vải. Khoảng 7 – 8 năm nay xuất hiện các xưởng may của người Việt để cung cấp hàng cho những người đi chợ. Nở rộ nhất là vào các năm 2005 – 2009.
Người Việt chia các xưởng may ra ba loại: “trắng”, “đen” và “xám”.
“Trắng” là các xưởng may có giấy phép hoạt động, đóng thuế đầy đủ và đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe của Nga về mặt bằng, điều kiện an toàn lao động, môi trường, phòng chống cháy nổ, bản quyền về mẫu mã, chất lượng sản phẩm… Các xưởng “trắng” cũng phải tuyển một tỷ lệ nhất định công nhân người địa phương. Thợ may người Việt trong xưởng phải có mọi loại giấy tờ hợp pháp về quyền tạm trú, giấy phép lao động, giấy khám sức khỏe. Rất ít ông chủ người Việt đáp ứng được các yêu cầu nói trên. Ngay nhiều “đại gia” cũng không muốn lập xưởng “trắng” chẳng phải vì thiếu vốn mà vì các thủ tục rất nhiêu khê mà làm ăn lại thường không có lãi. Chưa kể các “đại gia” này phải có đội ngũ tư vấn giỏi và trung thành. Bản thân người lao động Việt cũng ít mặn mà với các xưởng “trắng” bởi vì tuy điều kiện sống sạch sẽ, an toàn và ổn định hơn các xưởng “đen” nhưng lương thường ít hơn.
“Đen” là các xưởng may bất hợp pháp. Ông chủ các xưởng này thường chỉ có số vốn vừa phải hoặc chỉ muốn đầu tư một lượng tư bản vừa phải. Các xưởng may “đen” chỉ có một vài loại giấy tờ tối thiểu, thậm chí là không có những giấy tờ quan trọng nhất. Các xưởng bất hợp pháp này thường xuyên có nguy cơ bị “đập” (cảnh sát kinh tế kiểm tra và tịch thu máy móc, phạt tiền ông chủ và công nhân). Bù lại, lãi suất của các xưởng may “chui” cao hơn các xưởng may hợp pháp. Phần lớn các thợ may cũng thích làm ở xưởng “đen” hơn.
“Xám” là các xưởng may tuy muốn làm ăn hợp pháp nhưng thiếu một số loại giấy tờ cần thiết hoặc vi phạm về bản quyền mẫu mã, không phải tất cả thợ người Việt đều có đủ điều kiện để làm việc tại Nga. Nguy cơ bị phạt lúc nào cũng treo lơ lửng nhưng khả năng bị đóng cửa không cao lắm.
Nhìn chung bức tranh các xưởng may của người Việt tại Nga mang màu tối là chủ đạo. Đại sứ quán và Hội Doanh nghiệp đã nhiều lần kêu gọi các ông chủ xưởng may “trắng hóa” cơ sở sản xuất của mình nhưng tình hình biến chuyển chậm. Lý do chính là tư duy “ngắn hạn”, chỉ muốn thu hồi vốn và có lãi nhanh vì không dám chắc mình tồn tại được mấy tháng, mấy năm. Lý do thứ hai là không đủ lực để cạnh tranh nếu lập xưởng “trắng”.
Điều kiện sống tồi tệ

Nơi nghỉ ngơi của thợ tại một xưởng may ở Nga. Phần lớn các xưởng “đen” có mặt bằng chật chội, điều kiện sản xuất và sinh hoạt hết sức tồi tệ, thiếu an toàn và mất vệ sinh. Thông thường xưởng là tầng hầm của các nhà máy cũ nằm ở ngoại ô Mátxcơva hoặc một trại chăn nuôi bị bỏ hoang ở giữa đồng không mông quạnh. Đôi khi các xưởng được lập ngay trong tòa biệt thự của một nhân vật có tầm ảnh hưởng ở địa phương. Vì giá thuê mặt bằng (kiêm “bảo đảm an toàn”) rất cao nên các ông chủ tận dụng tối đa diện tích của xưởng. Xưởng chia làm 2 phần. Một phần để kê máy may, bàn cắt, máy là, chứa vải. Một phần để làm nhà ở cho công nhân. Cứ hai người ghép chung vào một tấm ván rộng bằng chiếc giường đơn, có tấm riđô quây xung quanh. Giường gồm 2 tầng, trên một cặp, dưới một cặp. Các cặp có thể là nam – nam, nữ - nữ hoặc nam – nữ, tùy theo thỏa thuận cá nhân, các ông chủ không can thiệp. Nếu xưởng có 10 máy may thì số thợ là 20 (làm 2 ca), thêm một thợ cắt (kiêm vai trò “nhà thiết kế”) và 1 thợ phụ, 1 đầu bếp. Một công trình phụ dùng chung cho tất cả. Tổng diện tích vào khoảng vài trăm mét vuông.
Công nhân chấp nhận điều kiện làm việc và sinh hoạt chật chội, thiếu tiện nghi vì họ quan niệm sang Nga là “chấp nhận đi đày một thời gian để cải thiện cuộc sống ở quê nhà”. Vả lại, chi phí đầu tư hạ tầng càng lớn thì thu nhập của thợ càng bị trừ khấu hao càng lớn.
Về sau này có một loại dịch vụ mới ra đời – xây dựng các cụm xưởng hoàn chỉnh để cho các ông chủ thuê lại. Tại đây mặt bằng thoáng rộng hơn và an toàn hơn.
Dễ cháy, khó chạy
Các xưởng may “đen” rất dễ bị hỏa hoạn vì chập điện, tàn thuốc lá, rò rỉ khí gas trong khi vải vóc chất ngổn ngang. Nơi làm việc và nơi sinh hoạt sát cạnh nhau càng làm nguy cơ cháy tăng cao. Tuy các xưởng may đều có quy định cấm ngặt hút thuốc nhưng nhưng nhiều thợ nam vẫn vi phạm.
Một khi xảy ra hỏa hoạn thì cơ hội thoát thân của thợ không nhiều. Không gian chật chội bị bịt kín cửa sổ, cửa ra vào. Thông thường công nhân không được ra khỏi xưởng. Tình trạng “nuôi nhốt” là để bảo đảm bí mật, tránh sự dòm ngó của người dân địa phương và cũng nhằm để công nhân không bị các đối tượng côn đồ, phân biệt chủng tộc tấn công. Một lý do quan trọng nữa là các ông chủ sợ công nhân “nhảy xưởng”. Ít khi thợ làm lâu quá vài năm tại một xưởng, có khi chỉ sau vài ba tháng là họ tìm cách trốn sang chỗ làm khác, chỉ cần nghe một cú điện thoại rủ rê hay xưởng đang gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm. Các ông chủ “cầm chân” thợ bằng cách giữ lại 1 – 2 tháng lương, song nhiều khi biện pháp này cũng không hiệu quả. Cách đơn giản nhất là ông chủ khóa chặt cửa, cầm theo chìa hoặc giao cho người quản lý. Nếu hỏa hoạn xảy ra mà chìa khóa lại đang trong túi ông chủ ở ngoài chợ thì thợ hết đường thoát hiểm.
Sự cam chịu tự nguyện
Sẽ không công bằng nếu dồn mọi sự chỉ trích vào các ông chủ xưởng may. Lãi suất từ các xưởng “chui” rất lớn nhưng nguy cơ trắng tay cũng lớn không kém. Trừ một số ông chủ chèn ép, ăn chặn hoặc dùng vũ lực với thợ thì phần lớn các chủ xưởng may “đồng cam cộng khổ” với thợ.
Người ngoài nhìn vào cảnh thợ chen chúc trong tầng hầm hàng năm liền, không nhìn thấy ánh mặt trời, không biết những gì xảy ra ngoài bức tường dày thì hay dùng đến cụm từ “nô lệ thời nay”. Thực ra đây là sự tự nguyện từ phía thợ. Có những xưởng 2 – 3 tháng liền không có việc hoặc làm việc cầm chừng nhưng thợ vẫn không muốn hồi hương dù người nhà thường xuyên thúc giục. Đơn giản là họ chờ thời cơ – nếu vào vụ, nếu xưởng có mẫu hàng ăn khách thì mỗi thợ giỏi có thể hưởng 600 – 1.000 USD/tháng (tính theo sản phẩm). Nhưng số thợ như thế không nhiều, thời cơ như thế không nhiều và càng ngày càng ít đi.
Tuy nhiên, những người thợ may Việt ở Nga không có nhiều sự lựa chọn. Cái mà họ có nhiều nhất là niềm hy vọng vào vận may dù hiện tại có gặp rủi đến đâu!
Người Việt tại Nga hàng chục năm nay kiếm sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ ở chợ và các trung tâm thương mại, chủ yếu là kinh doanh hàng vải. Khoảng 7 – 8 năm nay xuất hiện các xưởng may của người Việt để cung cấp hàng cho những người đi chợ. Nở rộ nhất là vào các năm 2005 – 2009.
Người Việt chia các xưởng may ra ba loại: “trắng”, “đen” và “xám”.
“Trắng” là các xưởng may có giấy phép hoạt động, đóng thuế đầy đủ và đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe của Nga về mặt bằng, điều kiện an toàn lao động, môi trường, phòng chống cháy nổ, bản quyền về mẫu mã, chất lượng sản phẩm… Các xưởng “trắng” cũng phải tuyển một tỷ lệ nhất định công nhân người địa phương. Thợ may người Việt trong xưởng phải có mọi loại giấy tờ hợp pháp về quyền tạm trú, giấy phép lao động, giấy khám sức khỏe. Rất ít ông chủ người Việt đáp ứng được các yêu cầu nói trên. Ngay nhiều “đại gia” cũng không muốn lập xưởng “trắng” chẳng phải vì thiếu vốn mà vì các thủ tục rất nhiêu khê mà làm ăn lại thường không có lãi. Chưa kể các “đại gia” này phải có đội ngũ tư vấn giỏi và trung thành. Bản thân người lao động Việt cũng ít mặn mà với các xưởng “trắng” bởi vì tuy điều kiện sống sạch sẽ, an toàn và ổn định hơn các xưởng “đen” nhưng lương thường ít hơn.
“Đen” là các xưởng may bất hợp pháp. Ông chủ các xưởng này thường chỉ có số vốn vừa phải hoặc chỉ muốn đầu tư một lượng tư bản vừa phải. Các xưởng may “đen” chỉ có một vài loại giấy tờ tối thiểu, thậm chí là không có những giấy tờ quan trọng nhất. Các xưởng bất hợp pháp này thường xuyên có nguy cơ bị “đập” (cảnh sát kinh tế kiểm tra và tịch thu máy móc, phạt tiền ông chủ và công nhân). Bù lại, lãi suất của các xưởng may “chui” cao hơn các xưởng may hợp pháp. Phần lớn các thợ may cũng thích làm ở xưởng “đen” hơn.
“Xám” là các xưởng may tuy muốn làm ăn hợp pháp nhưng thiếu một số loại giấy tờ cần thiết hoặc vi phạm về bản quyền mẫu mã, không phải tất cả thợ người Việt đều có đủ điều kiện để làm việc tại Nga. Nguy cơ bị phạt lúc nào cũng treo lơ lửng nhưng khả năng bị đóng cửa không cao lắm.
Nhìn chung bức tranh các xưởng may của người Việt tại Nga mang màu tối là chủ đạo. Đại sứ quán và Hội Doanh nghiệp đã nhiều lần kêu gọi các ông chủ xưởng may “trắng hóa” cơ sở sản xuất của mình nhưng tình hình biến chuyển chậm. Lý do chính là tư duy “ngắn hạn”, chỉ muốn thu hồi vốn và có lãi nhanh vì không dám chắc mình tồn tại được mấy tháng, mấy năm. Lý do thứ hai là không đủ lực để cạnh tranh nếu lập xưởng “trắng”.
Điều kiện sống tồi tệ
Nơi nghỉ ngơi của thợ tại một xưởng may ở Nga.
Công nhân chấp nhận điều kiện làm việc và sinh hoạt chật chội, thiếu tiện nghi vì họ quan niệm sang Nga là “chấp nhận đi đày một thời gian để cải thiện cuộc sống ở quê nhà”. Vả lại, chi phí đầu tư hạ tầng càng lớn thì thu nhập của thợ càng bị trừ khấu hao càng lớn.
Về sau này có một loại dịch vụ mới ra đời – xây dựng các cụm xưởng hoàn chỉnh để cho các ông chủ thuê lại. Tại đây mặt bằng thoáng rộng hơn và an toàn hơn.
Dễ cháy, khó chạy
Bàn cắt cũng là nơi sinh hoạt của thợ may.
Một khi xảy ra hỏa hoạn thì cơ hội thoát thân của thợ không nhiều. Không gian chật chội bị bịt kín cửa sổ, cửa ra vào. Thông thường công nhân không được ra khỏi xưởng. Tình trạng “nuôi nhốt” là để bảo đảm bí mật, tránh sự dòm ngó của người dân địa phương và cũng nhằm để công nhân không bị các đối tượng côn đồ, phân biệt chủng tộc tấn công. Một lý do quan trọng nữa là các ông chủ sợ công nhân “nhảy xưởng”. Ít khi thợ làm lâu quá vài năm tại một xưởng, có khi chỉ sau vài ba tháng là họ tìm cách trốn sang chỗ làm khác, chỉ cần nghe một cú điện thoại rủ rê hay xưởng đang gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm. Các ông chủ “cầm chân” thợ bằng cách giữ lại 1 – 2 tháng lương, song nhiều khi biện pháp này cũng không hiệu quả. Cách đơn giản nhất là ông chủ khóa chặt cửa, cầm theo chìa hoặc giao cho người quản lý. Nếu hỏa hoạn xảy ra mà chìa khóa lại đang trong túi ông chủ ở ngoài chợ thì thợ hết đường thoát hiểm.
Sự cam chịu tự nguyện
Sẽ không công bằng nếu dồn mọi sự chỉ trích vào các ông chủ xưởng may. Lãi suất từ các xưởng “chui” rất lớn nhưng nguy cơ trắng tay cũng lớn không kém. Trừ một số ông chủ chèn ép, ăn chặn hoặc dùng vũ lực với thợ thì phần lớn các chủ xưởng may “đồng cam cộng khổ” với thợ.
Người ngoài nhìn vào cảnh thợ chen chúc trong tầng hầm hàng năm liền, không nhìn thấy ánh mặt trời, không biết những gì xảy ra ngoài bức tường dày thì hay dùng đến cụm từ “nô lệ thời nay”. Thực ra đây là sự tự nguyện từ phía thợ. Có những xưởng 2 – 3 tháng liền không có việc hoặc làm việc cầm chừng nhưng thợ vẫn không muốn hồi hương dù người nhà thường xuyên thúc giục. Đơn giản là họ chờ thời cơ – nếu vào vụ, nếu xưởng có mẫu hàng ăn khách thì mỗi thợ giỏi có thể hưởng 600 – 1.000 USD/tháng (tính theo sản phẩm). Nhưng số thợ như thế không nhiều, thời cơ như thế không nhiều và càng ngày càng ít đi.
Tuy nhiên, những người thợ may Việt ở Nga không có nhiều sự lựa chọn. Cái mà họ có nhiều nhất là niềm hy vọng vào vận may dù hiện tại có gặp rủi đến đâu!
Nghệ Nhân (theo lời kể của một thợ may mới hồi hương)
Tamnhin.net
