Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

BỐN NGÀY THĂM “QUÊ VIỆT” - WARSZAWA

22/05/2012 28 phút đọc BBT
Đã nhiều lần ngẫm ngợi “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan....” (Tố Hữu) với nhiều cảm hứng và rung động, và cũng đã dăm
BỐN NGÀY THĂM “QUÊ VIỆT” - WARSZAWA

Đã nhiều lần ngẫm ngợi “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan....” (Tố Hữu) với nhiều cảm hứng và rung động, và cũng đã dăm bận sang châu Âu, nhưng tôi chưa có dịp nào qua thăm Ba Lan. Lần này, nhân chuyến thăm Hungary và may mắn có mấy ngày nghỉ lễ 1-5, tôi cùng con trai là Nguyễn Hoàng Linh, TBT báo “Nhịp cầu Thế giới” ở Hungary đã làm một chuyến du ngoạn Warszawa - Ba Lan với niềm náo nức và hào hứng thật sự!

 

Khởi hành từ Budapest, qua một đêm nằm tàu, chúng tôi xuống Ga Trung tâm Warszawa trong bình minh rạng rỡ. Nắng đã lên, ấm áp và lung linh sắc màu. Nhà ga đẹp và có lẽ rộng lớn hơn ga Quốc tế Keleti của Budapest rất nhiều. Bên cạnh nhà ga, đập vào mắt chúng tôi một tòa lâu đài đồ sộ, tráng lệ, kiến trúc dáng dấp Nga. Hỏi ra, đó là Cung Văn hóa và Khoa học Ba Lan. Thật xứng tầm cỡ của một nước lớn trong khu vực!

 

Cung Văn hóa tại Warszawa

 

Vừa ngắm vòng quanh mươi phút đã thấy xe anh Lê Xuân Lâm, TBT tạp chí “Quê Việt” đến. Trước khi đi, Hoàng Linh có gọi điện sang và anh Lâm đón chúng tôi như người nhà, vui vẻ, niềm nở, thân tình, dù anh chỉ mới gặp Linh đôi lần, còn với tôi là lần đầu tiên gặp gỡ. Chúng tôi vô cùng mừng rỡ và xúc động.

 

Anh Lâm đưa chúng tôi về trụ sở tạp chí “Quê Việt” tại một khu trung tâm thương mại sầm uất cách ga chừng vài mươi phút ô tô. Căn phòng rộng rãi, khang trang, là Văn phòng của TBT, trên tường treo mấy tấm Bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, vừa trang trọng cũng vừa nhã nhặn.

 

Phòng bên cạnh là nơi làm việc của Bộ phận Phát hành. Hai, ba cô gái trẻ đang bận rộn tính toán và sắp xếp gói ghém tạp chí để đưa đến tận tay độc giả. Nghe câu chuyện thì có cả việc đi vận động bà con đặt báo như một hình thức ủng hộ một phần kinh phí in ấn và phát hành, sau một thời gian dài báo được tặng miễn phí cho bạn đọc.

 

Anh Lâm cùng chúng tôi chụp ảnh kỷ niệm, sau đó anh đưa chúng tôi ra thăm Trung tâm thương mại EACC, nơi bán buôn đồ sộ, sầm uất của người Việt, người Thổ, người Trung Quốc và cả người Ba Lan. Hàng hóa phần lớn là đồ may mặc, chồng chất đầy ắp, đủ mọi chủng loại, mẫu mã rất đa dạng và rực rỡ sắc màu. Ở đây chúng tôi được gặp anh Võ Văn Long trong một cửa hàng quần áo, vải vóc. Anh là chủ doanh nghiệp, đồng thời là Thư ký Tòa soạn tạp chí “Quê Việt”. Phong cách giản dị, hòa nhã, anh trò chuyện vui vẻ, cởi mở. Anh hẹn sẽ gặp lại chúng tôi vào chiều hôm sau.

 

Được anh Lâm đưa đi, chúng tôi có dịp thăm một số bà con trong cộng đồng Việt tại Ba Lan đang kinh doanh ở Trung tâm. Ở một cửa hàng kinh doanh điện thoại di động và máy vi tính, chúng tôi được gặp gỡ anh Thanh Sơn và chị Mạc Việt Hồng, một doanh nhân, đồng thời là TBT tờ báo mạng “Đàn chim Việt”.

 

Cũng tại EACC, chúng tôi gặp chị Kim Chi, giám đốc điều hành Trung tâm mà Hoàng Linh có dịp được quen biết trong chuyến thăm Ba Lan hè năm ngoái. Chị đưa chúng tôi cùng anh Lâm lên văn phòng, trò chuyện thân mật, niềm nở và sau khi chụp ảnh kỷ niệm, chị mời chúng tôi dùng bữa trưa ở nhà hàng bên cạnh.

 

Buổi chiều, anh Lâm đưa chúng tôi đi thăm Trường tiếng Việt Lạc Long Quân do anh phụ trách. Trường thuê cơ sở của một trường tiểu học ở địa phương, cao ráo, sạch sẽ, rộng rãi và thoáng mát. Tổ chức khá quy củ gồm 12 lớp với nhiều trình độ, cơ bản dựa theo chương trình và sách giáo khoa của Việt Nam, với đội ngũ giáo viên được chọn lọc, đủ trình độ và đều yêu nghề mến trẻ. Chúng tôi bỗng liên tưởng đến một số nơi mà chúng tôi đã đến thăm như Berlin, Budapest, và nhận thấy ở Warszawa việc dạy tiếng Việt cho con em của Trường Lạc Long Quân thật là nổi trội.

 

Tối đầu tiên trên đất Ba Lan, anh Lâm cho chúng tôi đi thưởng thức Warszawa by Night. Cái đích đầu tiên là Cung Văn hóa và Khoa học Ba Lan mà chúng tôi đã có dịp chiêm ngưỡng từ xa khi vừa xuống tàu. Tôi ngước mắt lên cao để chiêm ngưỡng lâu đài vĩ đại và nguy nga này. Được biết rằng đây là công trình do Liên Xô xây dựng đền bù cho Ba Lan sau Thế chiến II bởi những tổn thất to lớn mà họ đã gây ra cho nhân dân Ba Lan, dù không có sự đền bù nào có thể bù đắp được. Thì ra đó là một nỗi đau nhân thế, và “hỗn trần lưu xá” chứ đâu phải “lưu phương”. Tấm bia miệng sừng sững này nghìn năm rồi sẽ cứ còn trơ trơ.

 

Trung tâm thành phố rực rỡ, sáng trưng và con phố đi bộ chính dẫn tới khu Thành Cổ dài rộng thênh thang, đông vui như trẩy hội. Đây là nơi thu hút nhiều khách du lịch bốn phương. Vô số nhà thờ kỳ vĩ trong ánh sáng lung linh, mới sực nhớ đây là đất nước của Công giáo. Lác đác bên đường, các nghệ sĩ đường phố biểu diễn các trò vui, chơi nhạc bằng các dụng cụ thô sơ, múa gậy hai đầu lửa hoặc làm trò ảo thuật. Đến trước tượng đài Adam Mickiewicz, tôi ngước nhìn lên đỉnh cao chót vót, cố hình dung gương mặt của nhà thơ để chiêm ngưỡng và giao cảm với một thiên tài vĩ đại.

 

Chúng tôi leo lên Thành Cổ trong ánh trăng thượng huyền mở ảo, dẫm bước trên đá mòn nghìn năm, nghĩ về những thế kỷ huy hoàng của các bậc đế vương thuở trước. Thành từng bị phá hủy và được xây dựng lại sau Thế chiến II trên nền móng cũ, đồ sộ và bề thế như xưa.

 

Quay trở ra ngoài Thành, chúng tôi bắt gặp một tượng đài kỳ lạ, khó hiểu. Phải chăng, theo ý riêng tôi, là muốn nói về “trật tự trong hỗn loạn”? Và khi dò đọc tiếng Ba Lan mà chúng tôi không hiểu mấy, thấy có chữ Katyń, chúng tôi đoán ra đó là tượng đài khắc ghi vụ thảm sát Katyń kinh hoàng và đẫm máu thời Thế chiến II mà dân tộc Ba Lan không bao giờ quên.

 

Trên phố đi bộ chúng tôi nhìn thấy cây cột to quảng cáo về vở bi kịch “Orestie” của Hy Lạp cổ đại, và ngoài kia, trên tấm bảng quảng cáo khổng lồ của Nhà hát Thành phố cũng có tên một loạt các bi kịch của Shakespeare như “Romeo & Juliet”, “Hamlet”, “Vua Lear”, “Othello”, “Macbeth”... Tất cả những vở bi kịch đó tôi đã từng giảng dạy trong nhiều năm ở khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội! Bỗng nhiên tôi vui mừng và xốn xang khôn xiết, nghĩ về tầm cao của Warszawa và của cả Ba Lan!

 

Về lại nhà anh Lâm, anh nhất định chuyển sang ngủ nhà bạn bên cạnh để nhường phòng cho chúng tôi. Chúng tôi rất áy náy, nhưng anh vẫn không đổi ý, cứ “di tản”.

 

*

 

Ngày thứ hai, hơn 9 giờ sáng, anh Lâm cho chúng tôi đi thăm nhà Chopin. Về một miền quê cách Warszawa chừng 60km, đường nhựa tuyệt đẹp, loang loáng ánh mặt trời chói lọi, xe chạy bon bon vào tận khu lưu niệm.

 

Đến nơi mới hơn 10 giờ, còn sớm, vì 11 giờ mới mở cửa bảo tàng. Tuy vậy, chúng tôi vẫn mua được vé vào thăm. Bước vào vườn, tiếng nhạc Chopin du dương, phiêu diêu bỗng nổi lên bồng bềnh, lan tỏa khắp nơi trong khu vườn rộng lớn bao la. Chúng tôi du ngoạn một vòng ngắm nhìn kỳ hoa dị thảo được vun xới, chăm bón, tỉa tót rất công phu, ngắm dòng suối róc rách uốn lượn dưới những cây rất thơ mộng.

 

Quay trở lại nhà bảo tàng Chopin, ở đầu hồi mấy dãy ghế gỗ được đặt lộ thiên cho du khách ngồi thưởng thức nhạc Chopin. Nắng đã lên chói chang nhưng khách ngồi nghe nhạc cứ im lìm như tượng đá.

 

nhà Chopin, nơi sinh ra nhạc sĩ thiên tài

 

Ước ao được đến thăm nhà Chopin vì ngưỡng mộ nhưng cũng là để được thấy tận mắt người ta đối xử với một thiên tài âm nhạc ra sao? Giờ thì trong chúng tôi trào dâng một niềm cảm phục vô bờ tâm huyết của người Ba Lan đối với di sản một thiên tài làm rạng danh cho đất nước. Trông người lại ngẫm đến ta…

 

Trở về Warszawa, chúng tôi ghé nhà hàng Vân Bỉnh là nơi quen biết của bà con người Việt, ở đó có nhiều món ăn thuần Việt, bài trí lịch sự và phục vụ chu đáo. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều sinh hoạt của cộng đồng, như kỳ Đại hội của Hội người Việt Nam “Đoàn kết & Hữu nghị” hồi hè năm ngoái, mà Hoàng Linh và bà xã tôi, Vân Như, có dịp được tới dự.

 

Buổi chiều, trên đường đến thăm nhà anh Võ Văn Long, chúng tôi ghé thăm nhà anh Dũng - chị Việt Hồng. Anh chị tiếp đón ân cần, trò chuyện vui vẻ, thoải mái. Kể mọi nỗi thăng trầm trong cuộc sống, nhưng giờ đây anh chị sở hữu một cơ ngơi sang trọng, tuyệt đẹp, là niềm ước ao của nhiều người.

 

Như đã hẹn, 6 giờ chiều chúng tôi có mặt tại nhà anh chị Long. Cuộc họp mặt đông vui, chuyện trò rôm rả. Anh Trần Quốc Quân, một doanh nhân tầm cỡ đồng thời cũng là một nhà văn, đang hoàn thành cuốn tiểu thuyết dựa trên loạt ký sự “Em ơi, Ba Lan” đang đăng ở báo “Quê Việt”, anh Trần Trọng Hùng, nhà doanh nghiệp lớn trong Ban lãnh đạo Trung tâm Thương mại EACC, anh Ngô Hoàng Minh, Trưởng văn phòng Phiên dịch tuyên thệ… cùng mấy anh chị nữa hào hứng phát biểu, khi nghiêm túc, khi hài hước, khi đả kích, khi châm biếm, nói cười vui vẻ, cởi mở, thân mật, chan hòa.

 

Anh chị Long tiếp đãi rất nồng hậu, chân tình bằng cuộc liên hoan rượu, thịt nướng và cá nướng ngoài trời thơm ngon tuyệt diệu cho chúng tôi một ấn tượng khó quên. Hơn 10 giờ đêm tiệc mới tan, ai nấy ra về trong không khí ngà ngà, say vì rượu hay say vì tình bạn không biết nữa?!

 

*

 

Ngày thứ 3, anh Lâm phải ra Văn phòng giải quyết công việc. Chín giờ sáng, chị Việt Hồng như đã hứa, đưa chúng tôi thăm thú một số điểm nổi tiếng của thành phố và chúng tôi chưa có dịp được qua.

 

Chúng tôi dừng chân chặng đầu ở Công viên Hoàng gia Łazienki tươi xanh qua nhiều năm tháng, là nơi tuyệt vời để du ngoạn đối với những ai yêu cái đẹp và thích thư giãn. Các công trình kiến trúc tuy không kỳ vĩ, đồ sộ, nhưng cổ kính và xinh đẹp. Khắp nơi được bài trí tượng các vị thần trong thần thoại Hy Lạp và La Mã. Một tòa lâu đài duyên dáng, tuyệt mỹ ngự bên trái lối vào, nghe đâu là quà tặng của nhà vua cho người tình của mình. Thật trữ tình và lãng mạn!

 

Công viên Łazienki bao la với vô vàn lối đi, có hoa chăm cỏ xén, có cây cối xum xuê, có rừng có núi, có sông có hồ, có thuyền gondole lững lờ trôi theo dòng nước. Đặc biệt lý thú và thư giãn khi ngắm nhìn sóc nhảy khắp nơi và công thì múa lượn đón nhận thức ăn tận tay người.

 

Công viên Łazienki

 

Ra về bên phía trái cổng công viên, đập vào mắt chúng tôi là bức tượng đồng cao to sừng sững hiên ngang của thống chế Józef Piłsudski, vị anh hùng của dân tộc Ba Lan đầu thế kỷ XX. Bức tượng nhắc nhở người dân Ba Lan về lòng yêu nước, yêu độc lập tự do và tinh thần kiên cường bất khuất.

 

Rời công viên Lazienki, chị Việt Hồng cho chúng tôi tham quan Sân vận động mới. Chị cho biết nơi đây từng một thời sầm uất, tấp nập cả ngàn người buôn bán và cũng đã in dấu chân của biết bao người Việt khởi đầu sự nghiệp kinh doanh của mình. Nay, “Chợ Sân vận động” đã nhường chỗ cho một sân mới rất tân kỳ, đang chuẩn bị cho Euro 2012 sắp tới. Dù rất khó đậu xe tại đây, chị Hồng vẫn tận tình dừng xe cho chúng tôi chụp mấy bức ảnh lưu niệm.

 

Trưa, chị Việt Hồng chiêu đãi chúng tôi ở một nhà hàng Việt mang tên “Nam Sài Gòn” tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố. Nhà hàng khá lịch sự, có rất nhiều món ăn Việt nhưng Hoàng Linh nhớ vằn thắn và bánh xèo quê nhà nên chúng tôi chỉ chọn các món đó.

 

Buổi chiều, chúng tôi tiếp tục đến Cung điện Wilanów mà người Việt ở Ba Lan hay gọi là “Cung Vua”, được vị vua Jan III. Sobieski xây dựng từ thế kỷ XVII, cũng là một kiến trúc lịch sử tuyệt vời, mang dáng dấp cung điện Versailles của Pháp. Sau một ngày cùng nhau rong ruổi Warszawa, chúng tôi chia tay chị Việt Hồng với tình cảm biết ơn và thân mến.

 

Tối, chúng tôi được anh Trần Quốc Quân mời bữa tối và đến thăm nhà. Anh Lâm cho chúng tôi đến nhà hàng Hạ Long do người em của anh Quân quản lý. Buổi chiêu đãi chỉ có bốn chúng tôi nên trò chuyện tự do, thoải mái. Anh Quân, “người luôn coi cuộc đời này là cõi tạm” như anh đã viết trong một bài báo trên “Quê Việt”, qua câu chuyện lại thấy anh là một người rất thực tế, rất khôn ngoan, rất thức thời, không làm nhà khoa học nhưng đã là một doanh nhân thành đạt, một “đại gia”, có một cơ ngơi bất động sản khổng lồ vô giá. Anh cũng là một cây bút đang hoàn thành cuốn tiểu thuyết viết về những thăng trầm của người Việt ở Ba Lan. Vậy thì anh đâu có “Lão, Trang” như anh nói nhỉ?

 

Cuối buổi, anh Quân đưa chúng tôi về tư gia thăm chị Vân và cháu. Được biết chị Vân là con cô Đồng Tâm, trước là bác sĩ Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh Hà Nội, bạn thân của bà xã nhà tôi cùng công tác ở đó. Năm ngoái, nhà tôi cùng Hoàng Linh sang thăm Ba Lan, đã được gặp chị Vân và hai cô cháu vô cùng mừng rỡ gặp lại nhau sau hai mươi mấy năm xa cách.

 

Những ngày ở nhà anh Lâm, chúng tôi tranh thủ đọc dăm bảy số “Quê Việt”. Được biết báo đã tồn tại được 12 năm và ngày càng đứng vững như món ăn tinh thần không thể thiếu đối với cộng đồng người Việt ở Ba Lan. Điều đó nói lên sự nỗ lực, kiên trì, bền bỉ của TBT cùng Ban BT và đội ngũ cộng tác viên.

 

Báo rất phong phú, thể hiện được nhiều mặt của cuộc sống cùng công việc làm ăn của cộng đồng người Việt tại Ba Lan, nêu nhiều vấn đề thiết yếu và thiết thân về quy chế, pháp luật của nước sở tại, cũng như đề cập đầy đủ các mặt văn hóa, khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục, du lịch, sức khỏe, ẩm thực, giải trí…

 

“Quê Việt” cũng rất quan tâm đến vấn đề hội nhập nước sở tại cùng những hiểu biết về châu Âu và thế giới. Và sau cùng, báo in ấn đẹp, màu sắc hài hòa, giấy tốt, đầy đặn (trên 60 trang). Chúng tôi nghĩ rằng các anh chị trong báo “Quê Việt” rất có thể hãnh diện và tự hào về tâm huyết mình đã dành cho tờ báo trong 12 năm qua và sẽ dành cho báo trong nhiều năm tới.

 

*

 

Ngày cuối ở Warszawa, chúng tôi định dành thời gian đi siêu thị thăm quan, mua sắm quà cáp, nhưng quên mất là 1-5 nghỉ lễ, không nơi nào mở cửa. Anh Lâm cho chúng tôi thăm một chợ trời khá giống một hai khu chợ mà bà con Việt Nam ở Hungary kinh doanh, nhưng cũng chỉ lướt qua, không mua sắm được gì.

 

Buổi trưa, chúng tôi có cuộc họp mặt tại nhà anh Lâm để chia tay “Quê Việt” và Warszawa. Anh Lâm mời anh Lâm Quang Mỹ, anh Nguyễn Hữu Viêm, anh Nguyễn Đình Châu là những người chúng tôi chưa được gặp mặt.

 

Anh Lâm Quang Mỹ tên thật là Nguyễn Đình Dũng, Tiến sĩ Vật lý trước làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan, đồng thời là hội viên hai Hội Nhà văn Việt Nam và Ba Lan. Anh yêu thích và sáng tác nhiều thơ, đã xuất bản mấy tập, đã dịch nhiều thơ và công trình văn học ra tiếng Ba Lan, vì vậy anh đã nhận được nhiều giải thưởng văn học do cả hai phía Ba Lan và Việt Nam trao tặng. Chúng tôi hết sức khâm phục khi được biết anh  say mê thơ đến mức đã đi đọc thơ trên một nghìn buổi tại Ba Lan, và cũng đã tham dự hầu hết các Festival thơ ở Ba Lan và cả nước châu Âu.

 

Anh Nguyễn Hữu Viêm là Giáo sư Đại học Bách khoa Lublin và anh Nguyễn Đình Châu là Tiến sĩ dạy Vật lý Hạt nhân ứng dụng Trường Đại học Bách khoa và Công nghệ AGH ở Kraków. Hai anh đều yêu thích văn thơ, nghệ thuật và quan tâm đến thế sự nên cuộc đàm đạo thật là tâm đắc.

 

Sơ ngộ” mà lại rất “tương phùng” nên tôi bỗng nhớ câu thơ của Bạch Cư Dị trong “Tỳ Bà Hành”:

 

Tương phùng hà tất tăng tương thức,

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân

 

(Cùng một lứa bên trời lận đận

Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau)

 

Chén rượu bừng khí sắc, mấy anh em không dè dặt thân sơ trải lòng mình với nỗi niềm chân thật. Anh Lâm Quang Mỹ cao hứng đọc “Phía trước”, một bài thơ vui, ngộ nghĩnh và trào phúng do mấy anh em nhà thơ ở Việt Nam (và cả anh Mỹ) sáng tác tập thể, chưa và chắc sẽ không công bố, làm cho cả hội cười hả hê, khoái trá.

 

Trong niềm vui chung, tôi cũng đọc mấy bài thơ của Vũ Hoàng Chương. “Cảm thông”, “Phương xa” và “Đời vắng em rồi say với ai?”, và cũng được mọi người tán thưởng. Chuyện xa gần, chuyện xưa nay, vô tình tôi nhắc lại sự lý thú và tâm đắc về mấy bài học rút ra từ anh hùng ca “Iliad” và “Odyssey” của Homer trong khi giảng dạy cho sinh viên cũng như trong dịp nói chuyện với các vị về hưu ở Câu lạc bộ Thăng Long - Hà Nội. Rằng phẩm chất cao nhất trong chiến tranh là lòng DŨNG CẢM, nhưng cũng đừng quên rằng sau chiến tranh, phải là LÒNG NHÂN ĐẠO; rằng bước sang xây dựng hòa bình phẩm chất cao nhất phải là TRÍ TUỆ. Rất tiếc là không phải ai cũng nhận ra và làm theo cái chân lý mà Homer thiên tài đã dự báo bằng hình tượng văn học gần ba nghìn năm trước.

 

Cuộc vui kéo dài hơn 7 tiếng, anh Châu vì phải về Kraków nên cáo từ trước, anh Viêm nán lại vài mươi phút và anh Lâm Quang Mỹ ra về sau khi ký tặng chúng tôi tập thơ Song ngữ Việt Anh “Chiều rơi trên sóng” vừa mới in xong trong quý I này. Chúng tôi vội vã chia tay, và anh Lâm tiễn đến tận nhà ga để kịp chuyến tàu trở về Budapest.

 

Chiều xuống, tình sâu, cảnh biệt ly

Tiêu tan, lòng nặng, chúng tôi đi…”

 

Xin chân thành cảm ơn tấm lòng hào hiệp mến khách và tình thân ái của anh Lâm và tất cả các anh chị mà chúng tôi được gặp gỡ trong chuyến thăm “Quê Việt” và Warszawa kỳ thú này.

 

Nguyễn Hoàng Tuyên - Tháng 5/2012 queviet.pl

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu