Hoạt động khai khoáng đã và đang gây ra rất nhiều hệ lụy về kinh tế, đời sống và môi trường cộng đồngVới một đất nước giàu tài nguyên khoáng sản, công nghiệp khai khoáng từng được xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam; tạo việc làm, tăng ngân sách cho địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo... Tuy nhiên, ngành công nghiệp này cũng liên tục gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống.
Nhân tai

Tương tự, tác động môi trường chủ yếu trong quá trình khai thác quặng bauxite tại phường Lộc Phát (TP Bảo Lộc - Lâm Đồng) gồm có bụi, nước thải và bùn đỏ. Do đường vận chuyển quặng (dọc khu phố 8 và 9) là đường đất, hơn 150 hộ dân ven đường phải chịu cảnh bụi bặm vào mùa nắng và lầy lội vào mùa mưa. Việc trồng trọt trong khu vực cũng bị ảnh hưởng nặng. Hoạt động khai thác bauxite cũng đã phá vỡ cấu trúc địa chất, làm cho bề mặt đất bị hạ thấp 4,5 - 9 m, lớp đất bazan bị thay thế bởi lớp đất sét nên mùa mưa nhiều chỗ bị ngập úng cục bộ, xói lở với cường độ mạnh.
Tài nguyên chung, lợi nhuận riêngKhoáng sản được xem như tài sản toàn dân song thực tế, phần lớn lợi nhuận đang chảy vào túi các doanh nghiệp tư nhân trong khi cộng đồng địa phương chịu quá nhiều thiệt thòi.
Tước cơ hội của người nghèoCũng theo PAN, dường như vấn đề giải quyết việc làm cho lao động địa phương luôn là ưu điểm để các doanh nghiệp xin cấp phép dự án khai khoáng. Tuy nhiên, khảo sát ghi nhận số mỏ sử dụng lao động địa phương khá ít, có nơi thậm chí không sử dụng lao động địa phương. Tại mỏ sắt xã Tân Pheo, chỉ sau thời gian ngắn, chủ đầu tư không trả lương cho công nhân theo đúng thỏa thuận ban đầu (1,5 - 2 triệu đồng/tháng) nên lao động địa phương nghỉ dần, thay vào đó là đội ngũ lao động đến từ Quảng Ninh và Hải Phòng. Còn tại mỏ Ear Sar (Đắk Lắk), công nhân địa phương hầu hết thuộc dạng hợp đồng thời vụ, không được đóng bảo hiểm và chịu nhiều rủi ro từ môi trường lao động thiếu an toàn…
Đáng nói hơn, tại tất cả các điểm mỏ mà PAN tiến hành khảo sát, người dân cho biết họ không được thông báo về dự án, các tác động cũng như các hoạt động mở rộng sản xuất, thậm chí đến lãnh đạo xã, phường cũng không có thông tin về việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án dù theo quy định hiện hành, quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường phải lấy ý kiến cộng đồng bị ảnh hưởng và được sự đồng thuận.
Chưa kể, theo quy định hiện hành, UBND các tỉnh và TP xây dựng khung giá đất hằng năm, làm căn cứ cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Khung giá đất ban hành, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp, trong đa số trường hợp là thiếu cơ sở và xa rời thực tế: Giá 1 m2 đất canh tác tại nhiều địa phương thấp hơn giá của 1 kg gạo chất lượng trung bình tại cùng thời điểm nhưng người dân phải theo khung giá chung đã ban hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế.
Nhiên Di (NLĐ)