![]() |
Báo cáo do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố cho thấy, dân số Việt Nam tính đến cuối năm 2010 đạt khoảng 89 triệu người và có tổng thu nhập quốc nội khoảng 103,6 tỷ USD, tương đương 0,37% GDP toàn cầu. Tính trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt 1.174 USD một năm. Con số này được xem là một bước tiến lớn trong những năm gần đây khi giúp Việt Nam bước vào ngưỡng thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, cũng theo số liệu của WEF, năm 1985, thu nhập của người lao động Việt Nam gần như tương đương với các quốc gia cùng trình độ phát triển khác tại châu Á (khoảng 400 - 500 USD theo tỷ giá vào thời điểm đó). Nếu giữ nguyên tỷ giá tại kỳ gốc này, thu nhập của tại Việt Nam đang thấp hơn trung bình của các nền kinh tế đang phát triển khác tại châu Á khoảng 2.000 USD.
Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng khoảng cách thu nhập của người Việt với mức trung bình của các nước đang phát triển tại châu Á ngày một xa là Việt Nam đang tụt hạng về năng lực cạnh tranh…
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 - 2012 do WEF công bố xếp Việt Nam ở vị trí thứ 65 trên tổng số 142 quốc gia được khảo sát, rớt 6 bậc so với năm ngoái.
Để mất điểm ở 10 trong số 12 chỉ báo được Diễn đàn Kinh tế thế giới xem xét, Việt Nam chỉ dành được tiến bộ rõ rệt duy nhất về môi trường kinh tế vĩ mô (xếp thứ 65, tiến 20 bậc so với xếp hạng năm ngoái).
WEF tỏ ra bi quan hơn cả về tình trạng lạm phát, đang tăng với tốc độ hai con số ở Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó tỷ lệ thâm hụt ngân sách cao (6% trong năm 2010), cơ sở hạ tầng không bắt kịp đòi hỏi của nền kinh tế tiếp tục là quan ngại lớn của các chuyên gia dành cho Việt Nam (giao thông đường bộ xếp thứ 123, cảng xếp thứ 111). Chất lượng giáo dục, tuy có những tiến bộ đáng kể so với năm ngoái nhưng vẫn chỉ được xếp ở nhóm trung bình thấp.
Thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn đối với nhà đầu tư khi thâm nhập thị trường Việt Nam khi họ trung bình phải trải mất 44 ngày và trải qua 9 thủ tục để có giấy phép kinh doanh. Ở hai chỉ tiêu này, Việt Nam bị xếp hạng lần lượt là 119 và 94.
WEF cũng khuyến cáo Việt Nam cũng cần phải cải thiện một loạt điểm yếu khác như quyền sở hữu trí tuệ (xếp thứ 127) hay khả năng phòng chống tham nhũng… để có được xếp hạng cao hơn trong những năm tới.
Theo, báo cáo “Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam”, chính sách kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây của Việt Nam hiện đang là một điểm yếu lớn. Chính sách tài khóa của Việt Nam đang bị cản trở rất nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực Nhà nước. Áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao cũng như sự phát triển nóng của thị trường tài chính trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là những dấu hiệu về một chính sách tiền tệ còn có vấn đề.
Trong khi đó, các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, đường sá, cảng, sân bay, năng lượng… đã được thực hiện nhưng tác động kinh tế - xã hội của các công trình đem lại chưa rõ do hiệu quả thấp và thiếu trọng tâm trọng điểm trong đầu tư. Đầu tư hạ tầng được dùng để bù đắp cho các tỉnh có tăng trưởng kém hơn chứ không phải nhằm tạo ra hiệu quả và tác động cao nhất có thể.
Cũng theo báo cáo này, mặc dù các chương trình đào tạo của Việt Nam ngày càng nhiều, tuy nhiên chất lượng giáo dục vẫn còn thấp và có sự chênh lệch giữa các cơ sở đào tạo.
Nhiều chuyên gia khuyến nghị, Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả đầu tư, năng suất nền kinh tế, giải quyết các “nút thắt” chính (hạ tầng, kỹ năng lao động, cải cách thủ tục hành chính).
Các chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam cần thành lập Hội đồng cạnh tranh để điều phối, tập hợp được các dự án đang rải rác ở nhiều bộ, ngành, cơ quan, giám sát, đánh giá việc thực hiện các đề án, nghiên cứu vào thực tế, gắn kết được tư nhân, sự chỉ đạo của Nhà nước.
Tuy nhiên, cũng theo số liệu của WEF, năm 1985, thu nhập của người lao động Việt Nam gần như tương đương với các quốc gia cùng trình độ phát triển khác tại châu Á (khoảng 400 - 500 USD theo tỷ giá vào thời điểm đó). Nếu giữ nguyên tỷ giá tại kỳ gốc này, thu nhập của tại Việt Nam đang thấp hơn trung bình của các nền kinh tế đang phát triển khác tại châu Á khoảng 2.000 USD.
Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng khoảng cách thu nhập của người Việt với mức trung bình của các nước đang phát triển tại châu Á ngày một xa là Việt Nam đang tụt hạng về năng lực cạnh tranh…
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 - 2012 do WEF công bố xếp Việt Nam ở vị trí thứ 65 trên tổng số 142 quốc gia được khảo sát, rớt 6 bậc so với năm ngoái.
Để mất điểm ở 10 trong số 12 chỉ báo được Diễn đàn Kinh tế thế giới xem xét, Việt Nam chỉ dành được tiến bộ rõ rệt duy nhất về môi trường kinh tế vĩ mô (xếp thứ 65, tiến 20 bậc so với xếp hạng năm ngoái).
WEF tỏ ra bi quan hơn cả về tình trạng lạm phát, đang tăng với tốc độ hai con số ở Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó tỷ lệ thâm hụt ngân sách cao (6% trong năm 2010), cơ sở hạ tầng không bắt kịp đòi hỏi của nền kinh tế tiếp tục là quan ngại lớn của các chuyên gia dành cho Việt Nam (giao thông đường bộ xếp thứ 123, cảng xếp thứ 111). Chất lượng giáo dục, tuy có những tiến bộ đáng kể so với năm ngoái nhưng vẫn chỉ được xếp ở nhóm trung bình thấp.
Thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn đối với nhà đầu tư khi thâm nhập thị trường Việt Nam khi họ trung bình phải trải mất 44 ngày và trải qua 9 thủ tục để có giấy phép kinh doanh. Ở hai chỉ tiêu này, Việt Nam bị xếp hạng lần lượt là 119 và 94.
WEF cũng khuyến cáo Việt Nam cũng cần phải cải thiện một loạt điểm yếu khác như quyền sở hữu trí tuệ (xếp thứ 127) hay khả năng phòng chống tham nhũng… để có được xếp hạng cao hơn trong những năm tới.
Theo, báo cáo “Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam”, chính sách kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây của Việt Nam hiện đang là một điểm yếu lớn. Chính sách tài khóa của Việt Nam đang bị cản trở rất nhiều bởi các thâm hụt cơ cấu lớn của khu vực Nhà nước. Áp lực liên tục lên tỷ giá, tỷ lệ lạm phát cao cũng như sự phát triển nóng của thị trường tài chính trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là những dấu hiệu về một chính sách tiền tệ còn có vấn đề.
Trong khi đó, các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, đường sá, cảng, sân bay, năng lượng… đã được thực hiện nhưng tác động kinh tế - xã hội của các công trình đem lại chưa rõ do hiệu quả thấp và thiếu trọng tâm trọng điểm trong đầu tư. Đầu tư hạ tầng được dùng để bù đắp cho các tỉnh có tăng trưởng kém hơn chứ không phải nhằm tạo ra hiệu quả và tác động cao nhất có thể.
Cũng theo báo cáo này, mặc dù các chương trình đào tạo của Việt Nam ngày càng nhiều, tuy nhiên chất lượng giáo dục vẫn còn thấp và có sự chênh lệch giữa các cơ sở đào tạo.
Nhiều chuyên gia khuyến nghị, Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả đầu tư, năng suất nền kinh tế, giải quyết các “nút thắt” chính (hạ tầng, kỹ năng lao động, cải cách thủ tục hành chính).
Các chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam cần thành lập Hội đồng cạnh tranh để điều phối, tập hợp được các dự án đang rải rác ở nhiều bộ, ngành, cơ quan, giám sát, đánh giá việc thực hiện các đề án, nghiên cứu vào thực tế, gắn kết được tư nhân, sự chỉ đạo của Nhà nước.
Đức Trung (Tầm nhìn)
