Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

ADB và IMF rất đúng nhưng vấn đề là Việt Nam…

17/09/2011 9 phút đọc Minh Giảng
Về lý thuyết, việc ADB hay IMF khuyên không nên nới lỏng chính sách tiền tệ ngay là rất đúng. Nhưng vấn đề là chúng
ADB và IMF rất đúng nhưng vấn đề là Việt Nam…
Về lý thuyết, việc ADB hay IMF khuyên không nên nới lỏng chính sách tiền tệ ngay là rất đúng. Nhưng vấn đề là chúng ta đang đứng giữa hai sức ép là lạm phát tăng và sản xuất đình trệ…

 

 
TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia nhấn mạnh điều này khi trao đổi về việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhận định còn quá sớm để Việt Nam có thể nới lỏng các chính sách vĩ mô, trong đó có chính sách tiền tệ.

TS. Cao Sỹ Kiêm nêu rõ lạm phát của ta còn rất nhiều yếu tố đang đe dọa. tính thời vụ” lạm phát của Việt Nam là thường vào quý 4, do phải chạy kế hoạch năm và phải đưa tiền ra. Hơn nữa, quý 4 nhập siêu vẫn tăng theo và kéo theo tỷ giá, và áp lực lên lạm phát.

Kinh tế thế giới vẫn đang diễn biến phức tạp và vẫn tiếp tục gây ra những áp lực lạm phát. Tiếp đến là bão lũ, trong khi nước ta là nước sản xuất lương thực thực phẩm, còn hoành hoành thế này.

Những yếu tố đó tạo nên áp lực lạm phát rất cao. Chúng ta mới bắt đầu giảm xuống thấp hơn trước, nhưng vẫn cao, và các yếu tố còn đang tác động mạnh và có sức ép.

Thời gian qua chúng ta đã thực hiện một số biện pháp làm cho lạm phát đang xuống và tỷ giá cũng ổn định hơn, nhập siêu cũng tốt hơn, bội chi ngân sách đang giảm. Đó là những yếu tố rất tốt để chúng ta giảm lãi suất xuống. Vì lãi suất ở mức rất cao, 20 - 22%, không có doanh nghiệp nào có thể chịu đựng nổi. Mà nếu cứ kéo dài thì khả năng phá sản, đình trệ sản xuất, đình trệ trong lạm phát sẽ diễn ra rất nhanh, mất việc làm nhanh và không khéo kinh tế sẽ chuyển sang đình trệ.

Theo TS. Cao Sỹ Kiêm, thời gian qua ta mới chú yếu chống thông qua tiền tệ. Chúng ta dùng tỷ giá, lãi suất, dự trữ bắt buộc, thắt chặt tiền tệ co lại rất mạnh. Trong khi đó, vốn thì ít đi, lãi suất thì cao lên nhưng yêu cầu vốn phải tăng theo cấp số nhân vì tăng GDP thì phải có lượng vốn tăng lên.

Năm nay tăng 6% GDP thì ít nhất số lượng vốn tăng 6%, nhưng chưa tính đến 6% đó, do giá tăng lên hay đồng tiền mất giá, trong khi ngân hàng lại giảm chỉ tiêu vốn cho vay xuống một nửa. Năm ngoái là 38% tăng dư nợ, còn năm nay chỉ có khoảng 18% thôi.

Vừa qua chúng ta tập trung vào chính sách tiền tệ và thành công. Nhưng lạm phát không phải do tiền tệ, không phải thừa tiền nhiều trong lúc này mà thừa tiền của những năm trước cộng lại thành của cải vật chất, nhà máy, thành các công xưởng không sử dụng được, dẫn đến hiệu quả kém chứ không phải thừa tiền.

Nên bây giờ lạm phát nhưng vẫn thiếu tiền, lạm phát nhưng thanh khoản không có. Nếu thừa tiền thì thanh khoản phải thừa chứ. Chính sách thắt chặt tiền tệ là thành công nhưng các yếu tố khác chúng ta lại không làm đồng bộ. Như nhập siêu vẫn cao, năm nay nếu giảm được thì còn khoảng 16%; bội chi ngân sách mặc dù năm nay được kéo xuống 4,8% nhưng vẫn cao, gấp đôi thế giới (chỉ 2 -3%); hiệu quả đầu tư cũng thấp, việc cắt giảm đầu tư công chưa được bao nhiêu.

Nên tất cả các yếu tố lạm phát mình mới làm mạnh tiền tệ. Nhưng lạm phát không phải chỉ do tiền hàng, mà do cả ba yếu tố trên nữa. Chính vì thế, mặc dù ta làm chặt chẽ chính sách tiền tệ nhưng lạm phát vẫn cao.

TS. Cao Sỹ Kiêm cho rằng, phải đẩy hiệu quả đầu từ lên, nhập siêu giảm xuống, bội chi ngân sách giảm xuống.Riêng tiền tệ thì phải xem lại một cách rất đầy đủ, trước hết lãi suất cao thì phải giảm xuống, nếu không giảm xuống được thì nó sẽ đình trệ sản xuất ngay.

Ai cũng biết lãi suất quá cao mà quá cao là có phần do cầu lớn, có phần do quản lý và hoạt động chi phí của các ngân hàng thương mại, và do cạnh tranh không lành mạnh. Ví dụ, hiện lãi suất 14%, về lý thuyết là hợp lý nhưng nó lại cứ vọt lên vì ta quản không chặt, để cho mấy anh mất khả năng thanh toán chạy ra thị trường làm rối lên, khiến các anh lớn cũng phải đua theo và tạo ra cái ảo.

Những ngân hàng mất khả năng thanh toán nhỏ, vì không đủ tiêu chuẩn vay, ít thôi, cứ ra xã hội đẩy lãi suất lên bất kỳ, “uống thuốc độc” cho đỡ khát đã. Vì thế, các ngân hàng này làm cho các ngân hàng lớn khác phải chạy theo lãi suất tiền gửi, cho vay, cứ chạy theo như thế thì ảo, mà ảo thì sẽ làm cho nền kinh tế méo mó.

Vì thế, giảm lãi suất xuống, trừ cái ảo đi, cộng với quản lý chặt chẽ thì sẽ đảm bảo giảm lãi suất được. Giảm lãi suất này không có nghĩa là ta nới lỏng tín dụng vì trước đây tỷ lệ tăng trưởng tín dụng là 20% nhưng ta đã rút xuống còn 18%, vẫn trong quy định. Các tổ chức tưởng ta nới ra ngay. Không có. Chúng ta đặt ra tăng trưởng tín dụng là 20% để đảm bảo chống lạm phát nhưng giờ rút xuống 18%, vì thế khối lượng tiền không tăng thêm.

Vấn đề đặt ra là phải quản lý chặt chẽ cái ảo ấy, ví dụ bằng cách hỗ trợ các ngân hàng nhỏ, khoanh những ngân hàng nhỏ lại, những anh nào gây sốc trên thị trường tiền tệ, hoặc anh nào thiếu quá thì tái cấp vốn, bơm cho anh ấy ít tiền, bằng thị trường mở, để ngân hàng đó không ra thị trường làm rối nữa.

Theo TS. Cao Sỹ Kiêm, những ngân hàng cố tình lách thì phải xử lý. Các chi phí của ngân hàng thương mại cũng phải giảm, sắp xếp của Ngân hàng Nhà nước cũng phải mạnh lên. Như những ngân hàng nhỏ quá, nếu có vấn đề, bơm tiền vào cũng nguy hiểm thì cho giải thể. Ngân hàng Nhà nước phải làm mạnh điều này. Tất cả đều là biện pháp quản lý để hạ lãi suất xuống.

Hạ xuống 17 - 19% vẫn còn cao, nhưng dù sao cũng còn giảm một nấc để các doanh nghiệp còn sức tiếp cận được để tồn tại, trụ vững và phát triển.

Theo ông Louis Taylor, Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered phụ trách Việt Nam, Lào, và Campuchia, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đúng trong việc tập trung chính sách để chống lạm phát, đạt được sự ổn định về giá trị của tiền đồng. Lãi suất cao là một yếu tố rất quan trọng để đạt được những mục tiêu đó. Mặc dù tốc độ tăng lạm phát có chậm lại, nhưng việc lãi suất được giảm trước khi lạm phát giảm một cách rõ ràng là cần cân nhắc kỹ lưỡng.

Ông Louis Taylor cho rằng, NHNN đưa ra thông điệp, mặt bằng lãi suất áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất phải giảm xuống 17-19%/năm. Đây là một mục tiêu tốt. Các ngân hàng bắt buộc phải giảm lãi suất huy động xuống dưới 14%/năm để tránh bị lỗ. NHNN đã vạch ra lộ trình rõ ràng nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng thông qua việc đặt ra mức trần tăng trưởng tín dụng và giữ lãi suất cho vay ở mức phải chăng khi hạn chế lãi suất huy động vốn ở mức 14%/năm. Khi thực thi các chính sách này, đa số các ngân hàng thương mại có thể cho những khách hàng tiềm năng vay ở mức 17-19%/năm. Tuy nhiên, mức lãi suất cho vay chính xác cho từng khách hàng sẽ phải dựa trên khả năng tín dụng của khách hàng đó.

Về việc NHNN ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN, yêu cầu các tổ chức tín dụng chấp hành nghiêm việc đưa lãi suất huy động VND về 14%/năm và 2%/năm đối với USD nhằm đưa lãi suất cho vay về 17-19%/năm, ông Louis Taylor nêu rõ, nếu ngân hàng đảm bảo huy động với lãi suất 14%/năm, chắc chắn họ sẽ có lời khi cho vay ở mức 17-19%/năm. Tuy nhiên, nếu các ngân hàng tiếp tục huy động vốn ở mức 19%/năm thì họ sẽ không thể cho các doanh nghiệp vay ở mức 17-19%/năm mà không bị lỗ.

Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam vẫn đang cho một số doanh nghiệp vay với lãi suất ở mức 17-19%/năm. Tại Standard Chartered, lãi suất cho vay được áp dụng tùy theo tình trạng tài chính của mỗi khách hàng. Không có một lãi suất chung cho tất cả các doanh nghiệp vì lãi suất cho vay phải thể hiện được tỷ lệ rủi ro tín dụng của khoản vay.

Standard Chartered Việt Nam áp dụng khái niệm “lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro” trong công tác cho vay. Điều này đòi hỏi Standard Chartered Việt Nam phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng để có thể lường trước được rủi ro tín dụng của mỗi khoản vay, từ đó điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp. Khách hàng có tài chính lành mạnh sẽ được ưu tiên cho vay với lãi suất thấp hơn.

Minh Giang (Tầm nhìn)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu