Ngành than đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nhưng một loạt các khó khăn và kiến nghị đã được ngành này nêu ra tại buổi toạ đàm được Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) tổ chức ngày 19.5.
Sản xuất than gặp khó khăn
Trước các đại biểu tham gia tọa đàm gồm ông Nguyễn Văn Giầu - Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội; đại diện các bộ: Tài chính, Công Thương; Văn phòng Chính phủ; các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nước..., Tổng Giám đốc TKV Lê Minh Chuẩn trăn trở: Lượng than bị tồn đọng lớn - khoảng 9 triệu tấn - trong khi giá bán than trong nước quá thấp (bán cho ngành điện chỉ bằng 60% giá thành sản xuất). Chỉ tính chênh lệch giá so với xuất khẩu phải bù cho ngành điện năm 2011 đã lên đến con số 900 triệu USD. Ngoài ra, TKV phải bù chéo cho các ngành như sản xuất đạm, ximăng, giấy, phân bón... Cộng dồn lại cũng lên đến con số vài chục nghìn tỉ đồng.
Bên cạnh đó, việc cấp phép thăm dò tài nguyên quá chậm, ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn bị tài nguyên cho đầu tư phát triển trong tương lai. Theo phê duyệt của Chính phủ, năm 2015, tại bể than Đồng bằng sông Hồng, TKV phải có trách nhiệm đầu tư, khai thác thử nghiệm một số dự án để đến năm 2020 sẽ cho ra sản lượng từ 0,5 - 1 triệu tấn than và gia tăng những năm tiếp theo. Nhưng hiện đề án này vẫn giậm chân tại chỗ do không được Bộ TNMT cấp phép.
Tiếp đó là việc chuẩn bị nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài để khai thác than đưa về sử dụng trong nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa có chính sách, giải pháp cụ thể. Theo quy hoạch phát triển than nêu trên, VN sẽ phải nhập khẩu phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện phía nam khoảng từ 5 - 15 triệu tấn (năm 2015) và từ 21 - 40 triệu tấn vào năm 2020... "Mức sản lượng than thiếu hụt phải nhập khẩu là hết sức nghiêm trọng đối với đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia" - lãnh đạo Tập đoàn TKV bày tỏ lo lắng.
Sớm thị trường giá bán than
Ông Trần Xuân Hòa - Chủ tịch HĐTV của TKV - thẳng thắn cho biết, mỗi năm tập đoàn này cần khoảng 40.000 tỉ đồng để đầu tư. Tất cả nguồn vốn đầu tư này tập đoàn phải tự đi vay, không có bảo lãnh từ Chính phủ. Một số tổ chức tín dụng quốc tế đã khước từ cho vay vốn do TKV bị hạ mức tín nhiệm cũng bởi trong năm 2010 không thực hiện được thị trường hóa giá than. Quy hoạch ngành than được phê duyệt thì sản lượng than thương phẩm dự kiến năm 2015 phải đạt từ 55 - 58 triệu tấn, năm 2020 đạt 60 - 65 triệu tấn than... Áp lực do sản lượng than phục vụ nhu cầu trong nước sẽ gặp khó khăn do các mỏ lộ thiên bắt đầu thời kỳ giảm dần sản lượng và trữ lượng cạn kiệt, nên bù đắp vào đó là gia tăng các dự án khai thác than hầm lò sẽ là chính trong một vài năm tới.
Tính toán của TKV thì đầu tư một mỏ hầm lò công suất 3 - 4 triệu tấn/năm cũng phải mất tối thiểu thời gian 5 năm để xây dựng, trong khi vốn đầu tư lên đến 12.000 - 15.000 tỉ đồng. Một số phương án trước mắt được ông Hòa đưa ra là cần phải xã hội hóa hoạt động sản xuất liên quan đến đầu tư băng tải, phương tiện vận chuyển... sẽ trực tiếp ký hợp đồng ở các mỏ, Cty thành viên khai thác than và như vậy có thể đáp ứng nguồn vốn đầu tư khoảng 15.000 tỉ đồng mỗi năm từ bên ngoài.
Chia sẻ những khó khăn của ngành than, ông Nguyễn Văn Ngãi - Chủ tịch Hội Năng lượng Việt Nam - cho biết: Chính phủ giao cho TKV trong những năm tới phải có 28 mỏ mới, vậy thì nguồn tài chính Nhà nước giúp đến đâu. Nên chăng cho mở rộng các mỏ cũ (61 mỏ). Ông Ngãi cũng đồng tình việc giá bán than trong nước phải xem xét lại khi đặt vấn đề tại sao ngành than phải phải bù lỗ giá cho ngành điện. "Cần thiết phải tái cơ cấu ngành điện (vì có hơn 500 nhà đầu tư bên ngoài tham gia sản xuất điện), còn ngành than thì chỉ có 1 người bán và 1 người mua mà thôi" – ông Ngãi so sánh.
Vì vậy, một số ý kiến đồng tình với hướng giải quyết là điều chỉnh giá bán than cho ngành điện phải theo giá thị trường, giảm thuế xuất khẩu để cứu ngành than, đảm bảo đời sống cho 108.000 lao động ngành than (trong đó có trên 30.000 thợ lò).
Trần Ngọc Duy (Lao động)