Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Bộ Tư pháp: Kiến nghị sửa quy định trường công chất lượng cao

01/08/2013 7 phút đọc Nguyễn Vũ
Quy định trường công Chất lượng cao đang trong giai đoạn thí điểm 18 trường và tiến tới là 35 trường. Những vấn đề
Bộ Tư pháp: Kiến nghị sửa quy định trường công chất lượng cao

Quy định trường công Chất lượng cao đang trong giai đoạn thí điểm 18 trường và tiến tới là 35 trường. Những vấn đề bất cập dư luận băn khoăn Vụ sẽ có ý kiến đề nghị Hà Nội điều chỉnh...

Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật - Bộ Tư pháp là đơn vụ chủ lực được giao nhiệm vụ phối hợp cùng với Hà Nội soạn thảo và xây dựng Luật Thủ đô. Trong đó Điều 12-Quy định về chính sách phát triển giáo dục nhằm mục đích phục vụ cho một nhóm đối tượng có tiền trong xã hội được coi là điểm nhấn, là ý tưởng đột phá trong Luật này.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra: Tính xã hội, bản chất chế độ XHCN và nguyên tắc công bằng (theo quy định tại Điều 10-Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi 2009) cũng như mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CLC cho Thủ đô và cả nước của nền giáo dục XHCN liệu có còn tồn tại ở Thủ đô XHCN hay không?

Báo Đất Việt đã có cuộc trao đổi nhanh với ông Vương Toàn Thắng - Trưởng phòng tổng hợp, Vụ các vấn đề chung về xây dựng pháp luật liên quan đến vấn đề này.

/sites/queviet-drupal/files/remote/9277613216fcaf8b364f6d02e240e6f9.jpg

GD Chất lượng cao là có tiền mới được vào học. (Ảnh minh họa)PV:- Dựa vào nguyên tắc nào khi Vụ soạn thảo, xây dựng và đưa ra quy định về chính sách phát triển giáo dục trong Luật Thủ đô, thưa ông?

Ông Vương Toàn Thắng: - Tại Điều 12 của Luật Thủ đô quy định chính sách phát triển giáo dục đào tạo. Trong đó xác định hai mục tiêu:

- Phổ cập mầm non, giáo dục phổ thông phải đạt chuẩn quốc gia - Phát triển mô hình dịch vụ trường công chất lượng cao Quy định này được coi là điểm nhấn trong Luật Thủ đô, nhằm đáp ứng như cầu của một số bộ phận có tiền trong xã hội.

UBND TP. HN đã xây dựng quy định tiêu chuẩn về trường chất lượng cao, ban hành những cơ chế chính sách giáo dục với trường công lập chất lượng cao đã được Hội đồng nhân dân TP. HN thông qua.

Tuy nhiên, tại quy định này có vấn đề mà dư luận quan tâm là: tiêu chí thế nào được gọi là dịch vụ chất lượng cao và đối tượng nào vào học trường này. Việc kiểm định chất lượng cao được giám sát như thế nào để đảm bảo đầu vào và đầu ra. Trên địa bàn chỉ có một trường mà được công nhận chất lượng cao thì các học sinh ở đó sẽ như thế nào?

Trước hết, phải nhấn mạnh chủ trương này là tự nguyện, không bắt buộc nhưng vẫn phải thừa nhận băn khoăn của dư luận là một thực tế rất khó khăn.

Chính vì vậy Hà Nội đã thực hiện thí điểm theo lộ trình đến năm 2016, những học sinh tại trường này có quyền được lựa chọn tiếp tục học chương trình phổ cập hoặc có thể học chương trình nâng cao. Như vậy, những học sinh này có thể được chuyển trường khác hoặc chấp nhận học lớp phổ cập nếu không muốn lựa chọn dịch vụ chất lượng cao.

PV: - Quyền bình đẳng trên phương diện tự nguyện nhưng học phí cao nhà giàu, có tiền mới tiếp cận được, không có tiền thì đứng ngoài. Vậy tính chất của dịch vụ công và trách nhiệm của nhà nước đối với nền giáo dục công có còn được đảm bảo, thưa ông?

Ông Vương Toàn Thắng: - Quyền bình đẳng mà bạn nói ở đây đã đáp ứng đầy đủ: Bình đẳng trên phương diện tự nguyện và phụ thuộc vào nhu cầu của từng người một chứ không hề hạn chế. Tức là tiếp cận được nhưng thực hiện được hay không đó là việc của người dân, nhà nước không can thiệp.

Không hề có chuyện bất bình đẳng ở đây. Dịch vụ chất lượng cao là mang tính chất dịch vụ, nó đáp ứng nhu cầu cho những người có điều kiện, có tiền con nhà giàu có tiền thì theo học, con nhà nghèo không có tiền thì không thể tham gia đó là nguyên tắc công bằng rất rõ ràng trong xã hội.

PV: - Thưa ông, nếu vậy, tính xã hội, nguyên tắc công bằng cũng như mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thủ đô có còn tồn tại ở Thủ đô Xã Hội Chủ Nghĩa nữa không?

Ông Vương Toàn Thắng: - …(Lúng túng)…. Nếu nói vậy thì phải rất rạch ròi: Thứ nhất: Cũng phải thừa nhận, quy định này là đang cố áp đặt nguyên tắc chung vào quy định riêng. Nghĩa là quy định đang cố lấy quyền bình đẳng về cơ hội tiếp cận và điều kiện học tập để áp vào cái riêng của Hà Nội. Điều đó không ai dám phủ nhận.

Thứ 2: Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người dân đối với nhà nước là không phải như nhau. Quyền thì được hưởng như nhau, nhưng nghĩa vụ là khác nhau. Ai có thu nhập cao phải đóng thuế cao, thu nhập thấp đóng thấp, ai khó quá thì được miễn giảm hoàn toàn.

Vậy thì, người giàu, người có tiền đóng thuế cao hơn, nghĩa vụ của họ với nhà nước lớn hơn thì họ phải có quyền được tiếp cận dịch vụ công của nhà nước chất lượng cao hơn, đó cũng là bình đẳng về cả quyền và nghĩa vụ.

Quy định này đảo bảo tính công- tư rất rõ ràng. Luật quy định nguyên tắc dịch vụ công là đảm bảo nguyên tắc chung, còn trong quá trình thực thi thì có thể thay đổi chứ không phải chung cho tất cả.

PV: - Theo ông nói, nghĩa là cứ người giàu, người có tiền được tiếp cận dịch vụ chất lượng cao là thành tài, thành nguồn nhân lực tiềm năng, còn người nghèo phải chấp nhận thân phận nông dân, chịu dốt suốt đời?

Ông Vương Toàn Thắng: - Tôi thừa nhận nó có khó khăn với người nghèo, nhưng đó là một thực tế mà xã hội đang đặt ra bắt buộc chúng ta phải đối diện với thực tế đó. Người nghèo nếu không muốn thì phải cố gắng.

PV: - Thực tế nhưng không công bằng với người nghèo khi trường công chất lượng cao đã lấy 20% ngân sách từ nguồn thuế của dân để hoạt động như trường tư lại phục vụ cho một nhóm người giàu, ông nghĩ sao?

Ông Vương Toàn Thắng:- …(Lúng túng)... Chính sách đã được đặt ra rất rõ rồi, được quy định rất rõ trong luật cũng như văn bản của HN. Việc thực hiện chính sách này cũng đang trong giai đoạn thí điểm 18 trường và tiến tới là 35 trường. Tất cả những vấn đề nêu trên Vụ sẽ có ý kiến đề nghị Hà Nội điều chỉnh, nhưng tiếp thu đến đâu lại thuộc thẩm quyền của thành phố.

Vấn đề mà bạn nói, nó liên quan trực tiếp đến tính hợp lý của văn bản. Trong ý kiến của Bộ Tư pháp và các bộ ngành nói chung đều đề nghị nghiên cứu về tính hợp lý và bảo đảm cơ chế đặc thù đưa ra. Nếu văn bản đưa ra mà tính hợp lý không đảm bảo thực thi thì cũng chỉ là quy định trên giấy.

Ở đây có hai điểm là tính hợp lý và tính thực thi. Có thể lúc soạn thảo chỉ nhìn thấy một vấn đề nhưng trong quá trình thực thi nó mới phát sinh nhiều vấn đề, việc ban hành văn bản rồi sửa đổi bổ sung cũng là bình thường.

Đây là văn bản vừa mới ban hành, mới có hiệu lực trong quá trình thực thi thấy vấn đề nào phát sinh thì có thể kiến nghị sửa đổi. Ở tầm nào sẽ kiến nghị sửa đổi tầm đó ví dụ văn bản, nghị quyết của thành phố sẽ kiến nghị với thành phố sửa đổi. Nếu là Luật thì sẽ kiến nghị Quốc hội sửa luật.

Khi soạn thảo Dự thảo này có 14 văn bản liên quan. Quy định này đã được thông qua, theo quy định kiểm tra VBQPPL tại Nghị định 40 thì Cục KTVB sẽ có trách nhiệm kiểm tra.

Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Vũ (Đất Việt)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu