MARCIN LIS, 30-04-2020
Một kỹ sư sinh ra ở Ba Lan đã tạo ra một dụng cụ làm cho „sa mạc xanh lại”. Người Anh cũng đã đóng vai trò không hay trong quá trình ấy vì vào năm 1939, họ đã hạn chế việc di dân Do Thái tới Palestin. Giờ giải pháp trên có thể giúp nông dân Ba Lan xoay xở với cơn hạn hán lịch sử đang tới.
- Ở Ba Lan hạn hán chưa từng có trong lịch sử đang tới gần
- Ở Israel vấn đề thiếu nước xảy ra thường xuyên hơn so với ở nước ta. Nhờ các sáng tạo, họ đã xoay xở được
- Nhờ hệ thống do một kỹ sư gốc Ba Lan tạo ra, ở sa mạc Negew của Israel đã có một vườn cây
Đất cháy màu nâu vàng do mặt trời thiêu đốt và gió thổi tung bay các lớp bụi nóng. Đôi lúc ta gặp các bụi cây khô. Có lẽ đấy là nơi cuối tôi hy vọng được biết bằng cách nào có thể xoay xở khi nước thiếu thường xuyên. Và không chỉ xoay xở thành công, mà còn kiếm tiền được từ đó nữa.
Thế mà
chính ở nơi đây, tại bờ của sa mạc Negew của Israel,
không xa căn cứ không quân của phi đoàn nổi tiếng
„Những chiếc búa”, người ta đã tạo ra một hệ
thống tưới tiêu biến đất sa mạc không trồng gì được
thành vườn cây xanh. Tuy nhiên, trước khi ta xem họ làm
việc ấy như thế nào, nên biết hạn hán đang đe dọa
Ba Lan ra sao.
Sa mạc Negew
Hạn hán lịch sử ở Ba Lan
Năm 2020 bắt đầu ở Ba Lan bằng một mùa đông không có tuyết. Đấy là tín hiệu báo động tiếp. Sau hết ít nhất có một loại khô hạn – đó là khô hạn nông nghiệp - với mức độ khác nhau đã thường trực ở Ba Lan từ năm 2015 đến nay.
Mùa đông thiếu tuyết nhắc ta mối nguy này, nhưng rồi vài ngày mưa cuối tháng 2, đầu tháng 3 đã làm ta mất cảnh giác. Nhưng rồi tháng 3 khô và hầu như cả tháng 4 cũng thế đưa ta về điểm xuất phát. Ông Bộ trưởng kinh tế biển và giao thông đường thủy Marek Gróbarczyk cảnh báo về hạn hán lịch sử mà mọi người sẽ chịu hậu quả. Nặng nhất tất nhiên là nông dân, vì cây trồng đang bị đe dọa.
Lại như vậy, vì năm ngoái hơn 90% các xã của Ba Lan bị hạn hán. Bộ trưởng nông nghiệp đã thông báo hồi tháng 12 là việc thất thu có trên 5 triệu hec-ta, 370 nghìn hộ xin cứu trợ vì hạn hán. Tổng số tiền nông dân nhận được sẽ lên đến 2,3 tỷ zł. Tôi dùng thì tương lai trong câu trên không phải là không có lý do – dù giờ đã đầu tháng 5 rồi, mà không phải tất cả nông dân đã được nhận tiền của năm 2019.

Nước sông Wisla đang cạn dần- Có bốn loại khô hạn và hiện nay cả bốn loại này đang xuất hiện ở Ba Lan. Đó là khô hạn khí quyển, có nghĩa là ít mưa trong một giai đoạn nhất định so với mức trung bình của nhiều năm. Hậu quả của nó là khô hạn nông nghiệp, tức đất có quá ít nước để cho cây lớn được. Nó liên quan đến tất cả các loại đất: nông nghiệp, rừng, đất tự nhiên và vùng cây xanh ở các thành phố. Loại khô hạn tiếp theo là khô hạn thủy văn, tức mức nước sông và các hồ chứa thấp. Loại khô hạn cuối trong danh sách là khô hạn địa thủy văn, tức việc hạ mức nước ngầm. Năm ngoái ta gặp cả bốn loại trên – mức nước đầu bắt đầu hạ vào tháng 8– tiến sỹ Sebastian Szklarek, nhà thủy văn học phụ trách blog Thế giới nước (Świat Wody), trợ giáo ở Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan nói.
Ông ta giiar thích là dù cả bốn loại khô hạn loại nọ tiếp theo loại kia, nhưng quá trình rút lui của chúng rất phức tạp – chúng ta có thể không có ở một vùng khô hạn khí quyển và nông nghiệp, nhưng vẫn có khô hạn địa thủy văn. Rất may cho ta là trừ khô hạn khí quyển, ba loại còn lại có thể chiến đấu với chúng được.
Hiểu bi kịch của nông dân
Để hiểu hơn hoàn cảnh bi thảm của nông dân, chỉ cần nhắc lại là trợ cấp hạn hán cho năm 2018 chỉ thấp hơn 100 triệu zloty so với 2019. Việc này chỉ ra mức độ thảm họa thiên tai mà nông dân Ba Lan phải chịu.
Khối kinh tế không dùng nước lại phải chịu các hậu quả nặng nhất. Theo các số liệu mới nhất có được trên phạm vi cả nước thì hàng năm, nước ta dùng 9,4 km3 nước. 72% số nước này do công nghiệp dùng (chủ yếu là công nghiệp năng lượng và mỏ), 18% dùng cho các hộ gia đình còn 10% cho nông nghiệp.
Thống kê này thú vị ở chỗ là theo tỷ lệ toàn cầu thì nông nghiệp dùng 70% nước, còn công nghiệp 19%. Vậy nông nghiệp Ba Lan không „ngốn nước” đặc biệt, thế nhưng tất cả chúng ta chịu hậu quả của nó – chẳng hạn việc tăng rất cao giá thực phẩm.
Ba lan là Ai Cập của châu Âu? Không nhất thiết
"Ba Lan có chừng ấy nước như Ai Cập" – từ mười mấy tháng nay các tít báo gào lên như vậy. Việc so sánh này có ngay từ miệng những người có quyền – ví dụ như sếp Nước của Ba Lan. Dù rằng ở mức chuẩn thì khẳng định trên là đúng, nhưng nó cũng có chút mánh khóe. Tuy nhiên khó mà ngạc nhiên vì điều ấy – là vì dự trữ nước của chúng ta từ nhiều năm xếp ta ở đằng đuôi các nước trong Liên minh, và các nhóm cầm quyền liên tiếp nhau chả làm gì nhiều để nâng mức đáng xấu hổ về phần trăm lượng nước giữ lại được (giờ đó là 6,5%), cần dùng cách gây ấn tượng, để thu hút sự chú ý về vấn đề này.
Tuy nhiên trong cuộc chiến với khô hạn và thiếu nước phải cần có phương pháp. Ta hãy quay lại một tý về Ai Cập, vì vùng này của thế giới có thể là then chốt với chúng ta.
Như tiến sỹ Sebastian Szklarek giải thích, dù thực tế Ba Lan có 60,5 tỷ m3 toàn bộ nguồn nước, còn Ai Cập có 57,5 tỷ m3, nhưng trong bản so sánh còn thiếu thông tin về dân số. Xin nhắc, Ba Lan có 38 triệu dân, còn Ai Cập có gần 100 triệu. Do vậy dự trữ nước tính trên đầu người thực sự khác nhau.
Thêm nữa bản so sánh không bao hàm các giá trị chủ chốt theo lời tiến sỹ Szklarek – đó là số lượng toàn phần nguồn nước tái sinh (tức lượng nước mưa ở một nước chuyển thành nước bề mặt và nước ngầm cũng như lượng nước chảy về từ nước ngoài vào nước ấy) tính theo đầu người.
Theo các dữ liệu có ở Aquastat, mỗi người Ba Lan có 1585 m3 mỗi năm, trong khi một người Ai Cập chỉ có 598 m3. Còn cơ sở dữ liệu của Liên hiệp quốc về vấn đề Dinh dưỡng và Nông nghiệp có thể cho thống kê trong đó Ba Lan nằm cạnh các quốc gia của bờ vịnh Ba tư, và tới năm 2050 trên 4 tỷ người sẽ sống ở các vùng đất thiếu nước nghiêm trọng.
Thay vì điều trên nên nhìn vào các số liệu liên quan đến Israel. Chỉ số toàn phần nguồn nước tái sinh tính theo đầu người là 213,9 m3 hàng năm, mặc dù lượng mưa trung bình ở đó không khác Ba Lan là mấy.
- Cần phân biệt hai khái niệm – hạn hán và thiếu nước. Với hạn ở giai đoạn ngắn ta không làm gì được, chỉ có thể tác động gián tiếp chống thay đổi khí hậu. Về việc thiếu nước, tức khi ta lấy nhiều hơn lượng có trong môi trường thì ta có thể tác động được. Nếu cả hai tình huống trên chồng lên nhau – dùng quá nhiều nước vào mùa khô – chúng ta có tình huống như năm ngoái ở Skierniewice, khi thiếu nước máy. Dân thành phố lấy nước mạng để tưới cỏ, và nước bị mặt trời nung bay hơi, cùng lúc với việc hư hỏng một chỗ lấy nước. Thảm cỏ vừa cắt xanh được một tý không phải là giải pháp tốt ở vĩ độ ta đang sống – tiến sỹ Szklarek nói.
Đủ nước ở sa mạc
Ta hãy lùi lại một lát về những năm 30 của thế kỷ XX, khi người Anh quản lý vùng đất giờ người Israel đang sống. Cụ thể là giai đoạn khó khăn được ghi lại trong lịch sử người Ba Lan và Do Thái vào năm 1939. Bốn tháng trước Adolfa Hitlera gây ra Đại chiến thế giới lần thứ II, chính phủ Anh đã công bố Sách Trắng liên quan đến Palestin. Họ hạn chế việc di cư của người Do Thái về vùng đất này chỉ đến 75 nghìn trong vòng năm năm tiếp đó, lấy các lý do về kinh tế, trong đó có việc thiếu nguồn nước dùng.
Phong trào Do Thái đã rút ra các kết luận từ bài học này. Ngày nay quốc gia có 2/3 lãnh thổ là sa mạc này có đủ nước dùng, và ở nhiều nơi họ còn trang trí thực sự bằng các thảm cỏ xanh và các bồn hoa. Đó là kết quả của cách đi có phương pháp, có thể tóm gọn trong một câu là: nếu ta không sản xuất được nước nhiều hơn, ta hãy tập trung vào việc sử dụng nguồn nước hiệu quả nhất. Nhờ vậy Israel bên cạnh jest USA là quốc gia đi tiên phong về công nghệ water-tech, tức công nghệ nước. Giá trị xuất khẩu công nghệ này năm 2017 của họ là 2,2 tỷ đô-la.
Từng giọt một. Biến sa mạc thành vườn

Kỹ sư Symcha Blass
Thành công
này đã không thể có nếu không có một sự kiện bình
thường sau đây, nó hàng ngày xảy ra hàng triệu lần
trên thế giới. Vài năm trước khi Anh ra cuốn Sách Trắng,
một người Do Thái có giọng cực kỳ nặng sống ở vùng
đất Palestin nhìn thấy một cái cây. Một cái cây bình
thường. Cái nhìn đó sau vài chục năm đã mang lại các
kết quả kỳ diệu.
Trong số một hàng cây được trồng có một cây khác đặc biệt. Nó cao gấp đôi và có vòm lá cực kỳ xanh. Theo lời kể của ông Symcha Blass, vì câu chuyện là về ông, ở ngay cạnh cây này có một ống nước bằng thép bị dò. Nước rỉ ra từng giọt một cho nước thẳng vào đất, nơi có bộ rễ cây nói trên.
- Cái giọt nước nhỏ ấy, nhờ nó mà cây kia lớn đến thế, không khi nào rời khỏi đầu tôi – sau này ông Symcha Blass có nói thế bằng ngữ điệu Ba Lan. Người kỹ sư sinh năm 1897 ở Vác-sa-va đã thay đổi mãi mãi Israel. Ông đã cùng làm việc với ông Levi Eszkol, người sau này là thủ tướng Israel khi lập kế hoạch tưới nước cho các trang trại ở thung lũng Jezreel.
Trong những năm 50 ông Blass đã đóng vai trò chủ chốt khi tạo ra hệ thống dẫn nước cho cả quốc gia này – Hệ thống nước Quốc gia của Israel, lấy nước hồ Galilejskie, chạy dọc bờ biển Địa Trung Hải đén tận bờ sa mạc Negew.
Tuy nhiên không phải công việc với Hệ thống nước này đã cho ông Blass vị trí cố định mãi mãi trong lịch sử Israel. Chính cảnh giọt nước rỏ dần vào rễ cây nói ở trên đã cho ông vị trí đó.
Symcha Blass đã thiết kế hệ thống tưới nhỏ từng giọt nước. Hệ thống này đã được áp dụng ở đâu đó trên thế giới trước đó, nhưng ở Israel nó được làm đến mức hoàn hảo. Người kỹ sư sinh ở Vác-sa-va đã tạo ta một bộ nhỏ nước đặt trong ống nhựa chịu trách nhiệm tưới nước theo nhịp, đồng thời không cho phép cát sa mạc làm tắc ống.
- Cái mà chúng tôi đã thiết kế và chế tạo ở đây là một công cụ tưới cây chính xác nhất. Nó cho phép hướng giọt nước vào đúng chỗ cây cần – một nhân viên tổ hợp Netafim, người hướng dẫn tôi đi thăm nhà máy nói.
Netafim là hãng thành lập năm 1965, nhờ bản hợp đồng ký giữa ông Blass và một Công xã hiện đại (kibbutz) kiểu Israel là Chacerim ở bờ sa mạc Negew. Sau nửa thế kỷ, hãng này trở thành một tổ hợp toàn cầu trị giá trên 2 tỷ đô la và hơn 2 triệu nông dân canh tác trên vài tỷ hec-ta sử dụng giải pháp của hãng.
- Netafim hình thành từ sự cần thiết – nhu cầu trồng trọt trên sa mạc. Nó đã trở thành một "gamechanger – người chơi làm thay đổi" thực sự cho cả quốc gia này – người hướng dẫn tôi đi thăm nhà máy, nói với một giọng hứng khởi – nhà máy vẫn nằm ở chỗ nó đã bắt đầu tức ở công xã Chacerim, kgiờ là một ốc đảo xanh trên nền vàng nâu của sa mạc Negew.
Và quả như thế, khó mà tìm thấy một nơi nào ở Israel không có các ống nước màu nâu đặc trưng của hãng này, cả khi bạn đi dạo ở Tel Awiw, hay ở nơi trồng chanh trong sa mạc Negew.
- Hãy trồng nhiều hơn, dùng nước ít hơn – đó là khẩu hiệu định nghĩa sứ mệnh của hãng. Và có cái gì đúng trong đó. Các con số không nói dối. Việc áp dụng hệ thống Symcha Blass ở nơi trồng cà chua của Ý đã cho phép tăng thu hoạch 57% trên mỗi hec-ta, đồng thời giảm lượng nước dùng đi 1/3. Tính theo con số tuyệt đối thì có nghĩa là thu 109 thay vì 70 tấn khi dùng 4 nghìn mà không phải là 6 nghìn mét khối nước.
Tưới theo giọt cũng có thể dùng cho ngũ cốc. Việc đưa phương pháp này vào cánh đồng ngô ở Mê-hi-cô đã giảm lượng nước tiêu thụ từ 9400 m3 cho một hec-ta về có 6,4 đồng thời tăng thu hoạch từ 9 tấn lên 15 tấn.
Tiếp theo là trồng lúa, đang phải dùng 2 nghìn m3 nước cho một hecta, đã tăng thu hoạch lên 60% đồng thời giảm lượng nước cần dùng đến 60%.
Ở Ba Lan hệ thống trên chưa được biết đến cũng như chưa được dùng, nhưng có thể hạn hán năm 2020 này sẽ làm thay đổi. Công nghệ có thể giúp ở nơi chưa có giải pháp hệ thống. Và dù rằng có thể đấy chỉ là một giọt nước trong biển cả nhu cầu, thì đối với người nông dân – và qua họ là tất cả những người Ba Lan còn lại – có thể đây là công nghệ quý như vàng.
Nguyễn Hữu Viêm (dịch từ https://businessinsider.com.pl/technologie/nowe-technologie/susza-w-polsce-jak-radzic-sobie-z-niedoborem-wody-na-przykladzie-izraela/fw7vvw2)