Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online
Ba Lan Tiêu điểm

Một năm đại dịch COVID-19 ở Ba Lan – Những thành công, thất bại và dự báo

09/03/2021 12 phút đọc Xuân Nguyên
Tác giả: Monika Mikołajska - Biên tập viên của Medonet. Tác giả của các bài báo chuyên về chăm sóc sức khỏe dự phòng, dinh
Một năm đại dịch COVID-19 ở Ba Lan – Những thành công, thất bại và dự báo

Tác giả: Monika Mikołajska - Biên tập viên của Medonet. Tác giả của các bài báo chuyên về chăm sóc sức khỏe dự phòng, dinh dưỡng hợp lý và tâm lý.


Ngày 4 tháng 3 năm 2020 được coi là ngày mà coronavirus chính thức đến Ba Lan. Vào ngày hôm đó, Bộ trưởng Bộ Y tế lúc bấy giờ là Łukasz Szumowski, đã công bố trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 đầu tiên, còn được gọi là "Bệnh nhân số 0". Đó là một cư dân làng Cybinka, 67 tuổi ở Lubuskie, đã bị nhiễm bệnh và trở về từ Đức sau đó ông được đưa đến điều trị tại bệnh viện ở Zielona Góra.

Vào ngày 11 tháng 3, chính phủ Ba Lan quyết định đóng cửa các cơ sở giáo dục và một ngày sau đó, chúng ta được biết về nạn nhân tử vong đầu tiên do COVID-19 ở Ba Lan. Vào ngày 20 tháng 3, Ba Lan tuyến bố tình trạng dịch bệnh và đưa ra các biện pháp hạn chế. Một tháng sau, chính phủ mới bắt đầu nới lỏng dần các hạn chế. Đầu tháng 6/2020, Thủ tướng Mateusz Morawiecki tổng kết cuộc chiến chống dịch coronavirus. Theo ý kiến ​​của ông, Ba Lan đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng dịch tễ. – „Chúng ta đã ở bên nhau và chúng ta sẽ ở bên nhau”, Thủ tướng cho biết cả nước đã vượt qua cuộc thử thách này.

Nhưng những tháng mùa hè tiếp theo đã chứng kiến ​​sự gia tăng các ca nhiễm. Đến cuối tháng 7, số ca nhiễm hàng ngày vẫn chưa vượt quá 600, và thường xuyên là khoảng 300 ca. Tình hình bắt đầu xấu đi đáng kể là từ tháng 8, và ngày 19 tháng 9 chúng ta vượt qua con số 1.000 ca nhiễm/ngày.

Đầu tháng 12/2020 là thời điểm bắt đầu làn sóng dịch bệnh mùa thu. Chúng ta ghi nhớ thời kỳ này như một thời kỳ đáng buồn với những kỷ lục về số ca nhiễm và số người tử vong. Ngày tồi tệ nhất về số ca lây nhiễm cho đến nay vẫn là ngày 7 tháng 11 với 27.875 trường hợp, ngày có nhiều người chết nhất là ngày 25 tháng 11 với 674 nạn nhân.

Biểu đồ diễn biến của dịch bệnh COVID-19 trong một năm qua tại Ba Lan (đỏ: nhiễm trùng, đen: tử vong, xanh: hồi phục)
Đó cũng là thời điểm mà cả nước Ba Lan lúc ban đầu được chia thành hai khu màu vàng và đỏ (tùy theo tình hình dịch bệnh) nay trở thành một khu màu đỏ lớn, và chúng ta nhận được thông tin hàng ngày về việc xe cấp cứu chở bệnh nhân COVID-19 xếp hàng dài, chờ hàng tiếng đồng hồ trước các bệnh viện. Nhiều bài viết nói về hệ thống cấp cứu y tế hấp hối, và hệ quả là những bệnh nhân không được cấp cứu kịp thời đã bị tử vong. Tình hình bắt đầu được cải thiện đôi chút vào tháng 12, vào dịp Giáng sinh ... Và ngày nay chúng ta đang gánh chịu hậu quả về những hành vi của mình thời kỳ đó. Chúng ta đã và đang phải đối phó với những làn sóng khác của dịch COVID-19.

Một năm qua đã được đánh giá thế nào?, những gì khác biệt so với tất cả những gì chúng ta nhớ được? Chúng ta đã đạt được điều gì trong 12 tháng chiến đấu với loại virus chưa được hiểu rõ? Những thất bại của chúng ta là gì? Điều gì đang chờ đợi chúng ta trong tương lai gần và xa? Sau đây là những ý kiến ​​của các chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực virus học:

Theo tiến sĩ KH Tadeusz Zielonka, chuyên gia về các bệnh phổi và bệnh nội khoa thì rất khó để nói về những thành công trong cuộc chiến chống lại đại dịch ở một đất nước trong một năm đã có vài triệu người bị bệnh và hàng chục nghìn người chết.  Những thành công có thể kể ra là đã xây dựng được những cơ sở y tế chuyên ngành chống COVID và đưa ra các quy tắc vệ sinh. Thói quen rửa tay, sát trùng tay sau khi tiếp xúc với vật liệu bị ô nhiễm, khử trùng tất cả các thiết bị đã qua sử dụng, sử dụng quần áo bảo hộ lao động và các phương tiện bảo vệ cá nhân khác đã được duy trì trong thời đại dịch. Còn thất bại lớn nhất trong đại dịch là sự mất mát lớn về người. Năm 2020 là năm tồi tệ nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Qua những giai đoạn nghèo đói, đất nước đổ nát, chế độ đẫm máu, dịch lao phổi và thiếu nhân viên y tế, chưa bao giờ nhiều người Ba Lan chết như vậy. Ông cho rằng sự mất mát này là do dịch vụ y tế hoạt động kém trong cuộc chiến chống lại COVID-19. Ông lưu ý rằng đại dịch tiêu tốn rất nhiều chi phí, nhưng những nỗ lực và nguồn lực để chống lại coronavirus không được bổ sung. Đã có sơ suất trong chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị. Đại dịch đã khơi mào cho một cuộc khủng hoảng lâu dài trong ngành y tế.

Bartosz Fiałek, một chuyên gia trong lĩnh vực thấp khớp, người quảng bá kiến thức y học nói rằng Lockdown đã được đưa ra, nhưng tiếc là có sự chậm trễ. Kinh nghiệm của các quốc gia khác cho thấy những biện pháp về vệ sinh và dịch tễ học là một trong những mắt xích quan trọng trong việc giảm thiểu sự lây truyền của SARS-CoV-2 qua tiếp xúc.

Tiến sĩ Dzieiątkowski ca ngợi phản ứng nhanh chóng của chính phủ vào mùa xuân năm ngoái. Và tương tự, xã hội lúc đó phản ứng rất có trách nhiệm. Điều này cho phép giảm đáng kể số ca lây nhiễm so với các nước láng giềng. Nhưng rất tiếc, chúng ta đã không đề ra được chiến lược chi tiết cho các thời gian tiếp theo, nhất là trong những tháng hè.

Một thành tựu khác, theo ý kiến ​​của các nhà nghiên cứu bệnh học, là sự gia tăng nhận thức về y tế của xã hội Ba Lan. - Nhiều người đã nhận ra tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy tắc vệ sinh và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo tính chuyên nghiệp của nó. Người Ba Lan cho đến gần đây vẫn không quan tâm đến tiêm chủng nhưng nay họ phàn nàn rằng họ chưa được tiêm chủng và đang chờ xếp hàng để được tiêm. Một năm trước, việc thuyết phục người Ba Lan đeo khẩu trang bảo vệ như là cuộc chiến của Đôn Ki-Sốt với cối xay gió. Nay thì họ đang hỏi nên chọn loại khẩu trang nào, sử dụng nó ra sao và nhiều người rất phẫn nộ với những người không sử dụng khẩu trang.

Theo các chuyên gia, trong số những thành công của còn phải kể đến việc tiêm vắc xin phòng bệnh COVID-19. Mặc dù quá trình này diễn ra rất chậm, nhưng nó vẫn đang tiếp tục. Nhìn vào tỷ lệ phần trăm dân số được tiêm chủng, chúng ta tốt hơn nhiều nước như Hà Lan, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp hoặc Đức.

Các chuyên gia cũng đánh giá các hành động của chính quyền trung ương trong việc tổ chức dịch vụ y tế, "trong đó sự hỗn loạn về tổ chức và pháp lý chiếm ưu thế". - Sự lãng phí về lực lượng và nguồn lực vốn đã có thể nhìn thấy ở mỗi bước. Trong một năm, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược thống nhất để chống lại đại dịch và chúng ta vẫn chưa có một trung tâm quản lý khủng hoảng dịch bệnh hiệu quả dựa trên ý kiến ​​của các chuyên gia chuyên nghiệp. Việc chính phủ không có thông điệp nhất quán, cũng như những hành vi và phát ngôn của các chính trị gia đã gây ra sự hoang mang trong xã hội, làm cho không biết phải hành động như thế nào cho hợp lý.

Chúng ta cũng đã thất bại với tư cách là một xã hội. Chúng ta chưa tạo ra một mặt trận chung trong cuộc chiến chống lại đại dịch. Tiến sĩ Zielonka cảnh báo rằng các lực lượng chính trị cũng đã can thiệp vào lĩnh vực này, điều này báo hiệu rất xấu cho đất nước và người dân Ba Lan. Ngay cả trong thời điểm nguy hiểm sắp xảy ra, chúng ta không thể chiến đấu với kẻ thù thực sự, đó là coronavirus. Tiến sĩ Aneta Afelt cũng nói một cách tương tự: - Không có sự đoàn kết xã hội giữa những người Ba Lan, chúng ta không tin tưởng và không tuân theo chính quyền cũng như các kết quả nghiên cứu và kiến ​​thức khoa học. Đổi lại, chúng ta tin vào những lý thuyết vô nghĩa trái ngược với lý trí và thực tế. Đã đến lúc cần một nền giáo dục xã hội vững chắc, giảm khoảng cách giữa thành tựu tri thức và các thành viên cộng đồng. Điều này sẽ cho phép chúng ta hiểu nhau hơn và tin tưởng lẫn nhau.

Tiến sĩ Fiałek cũng đề cập đến điều này, theo ông, thất bại lớn nhất là một số lượng lớn những người phủ nhận, tức là những người sử dụng những lập luận phi lý để phủ nhận những thành tựu của khoa học. Chính những người này đã có tác động rất tiêu cực đến cuộc chiến chống dịch COVID-19 ở Ba Lan.  Một số người không tin là có vi rút, trong khi những người khác cho rằng đây là đại dịch. Có những người tin rằng vắc xin COVID-19 là kết quả của một âm mưu toàn cầu, trong khi những người „giỏi giang” nhất nói rằng Bill Gates đang ngồi tại nhà ở Seattle nhưng có ý định kiểm soát Ba Lan và người Ba Lan. Việc thiếu niềm tin vào các hiện tượng dịch tễ học tự nhiên đã khiến chúng ta phải trả giá, tốn kém và khiến chúng ta mất mát nhiều người mà lẽ ra có thể tránh được.

Điều gì có thể đang chờ đợi chúng ta?

Tháng 3 năm 2021 là tháng mà chúng ta đang ghi nhận số ca nhiễm SARS-CoV-2 mới cao nhất mỗi ngày. Có vẻ như tình trạng này sẽ kéo dài cho đến giữa tháng 4, và sau đó do sự thay đổi của thời tiết, các hạn chế được đưa ra và tỷ lệ dân số được tiêm chủng ngày càng tăng sẽ có thể sẽ làm giảm cường độ của dịch bệnh - Tiến sĩ Fiałek dự đoán - rất tiếc, chúng ta vẫn có thể không tránh được đợt dịch thứ tư ở Ba Lan, sẽ xảy ra cùng với mùa dịch 2021/2022, "vì việc đưa ra các hạn chế không cẩn thận và quy trình tiêm chủng chống COVID-19 không đủ nhanh ”.

Tiến sĩ Zielonka tin là tương lai của chúng ta "phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và khả năng miễn dịch lâu dài sau khi ốm và sau khi tiêm chủng trong bối cảnh lây lan các đột biến mới". Có thể ước tính rằng 10 triệu người Ba Lan đã phải hứng chịu COVID-19. Đến nay, chúng ta đã tiêm chủng cho hơn 3 triệu người và con số này sẽ nhân lên trong những tháng tới. Trong vòng 3-4 tháng, hơn một nửa dân số cần được bảo vệ để không bị nhiễm nặng COVID-19. Đó là lý do tại sao sự đồng thuận xã hội trở nên rất quan trọng để giảm thiểu thiệt hại cho đến khi đạt được sự bảo vệ hoàn toàn với sự lây nhiễm - ông nhắc nhở. Trong những tháng tới, trước hết chúng ta nên ủng hộ việc tiêm vắc xin, sau đó thực hiện theo các khuyến nghị dựa trên cơ sở khoa học để bảo vệ sức khỏe cho cá nhân mình và cho xã hội.

Theo quan điểm của Tiến sĩ Zielonka, viễn cảnh lâu dài đang mở ra. Bất chấp những hy vọng với tiêm chủng, người ta không thể chắc chắn rằng các dạng vi rút mới sẽ không chiếm ưu thế vào mùa thu, vốn không bị ảnh hưởng bởi khả năng miễn dịch có được. Sau đó, mọi thứ sẽ bắt đầu lại tất cả. Chúng ta lại phải đối mặt với tình trạng đóng cửa, thực hiện những hạn chế, nhiễm bệnh hàng loạt, tử vong và lại chờ đợi một loại vắc-xin mới, hiệu quả hơn. Hai mặt của quan điểm - tốt và xấu - không phụ thuộc vào chúng ta, mà phụ thuộc vào virus.

Theo Aneta Afelt, đã đến lúc phải chấp nhận sự thật rằng SARS-CoV-2 sẽ là một phần trong cuộc sống của chúng ta và chúng ta sẽ sống với nó "chắc chắn" cho đến hết cuộc đời, cùng thế hệ chúng ta và rất có thể còn lâu hơn nữa. Điều này có nghĩa là những thay đổi trong tổ chức cuộc sống hàng ngày của chúng ta như: duy trì giãn cách xã hội, hạn chế gặp gỡ của mọi người, hạn chế quyền tự do đi lại, nhưng ... đó cũng là cơ hội để sống với địa phương nhỏ bé của chúng ta "xây dựng lại mối quan hệ láng giềng, tìm hiểu nơi sống gần nhất và quan tâm đến chất lượng của nó”. Đây cũng là mặt tốt của dịch - ông nhấn mạnh.

Tiến sĩ Tomasz Dzieścitkowski nói: Rất có thể sẽ có sự gia tăng các ca nhiễm trùng trong những tháng tới. Tôi không cam kết bình luận về những gì có thể xảy ra trong dài hạn, nhưng cần nhớ rằng điều đó sẽ phụ thuộc phần lớn vào bản thân chúng ta. Nếu chúng ta coi thường SARS-CoV-2, vi rút sẽ lợi dụng để lây nhiễm sang người khác.

Xuân Nguyên (Lược dịch)

(Nguồn: https://www.medonet.pl/koronawirus/koronawirus-w-polsce,rok-epidemii-covid-19-w-polsce--eksperci-mowia--co-nas-czeka,artykul,90113652.html)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu