
Giáo dục
trước tuổi đến trường (pre-school education)
Trẻ
em vào học mẫu giáo (pre-kindergarten, nursery school), sau đó vào lớp vỡ lòng (kindergarten)
ở độ tuổi từ 3 đến 5, tùy thuộc vào các học khu và tiểu bang.
Giáo dục
phổ thông (school education)
Vào
khoảng 6 tuổi (có thể thay đổi từ 5 đến 7 tùy nơi) trẻ em bắt đầu vào chương
trình học 12 năm, gọi là K-12, mỗi năm học ở một lớp (grade).
12
năm học này thường chia làm hai giai đoạn: phổ thông cơ sở (cấp 1, primary/elementary school), sau đó vào
phổ thông trung học (cấp 2, secondary
school).
Tùy
theo nơi ở và bang, có nhiều cách tổ chức trường để học đủ 12 năm học phổ thông
này (xem sơ đồ, các số bên phải là lớp và số năm học, cột số bên trái là tuổi):
-
Mô hình 8+4: phổ thông cơ sở đến lớp 8 (8 grade), sau đó học PTTH
bốn năm (4 years High School).
-
Mô hình 4+4+4: phổ thông cơ sở đến hết lớp 4, sau học middle school bốn năm, rồi vào PTTH bốn
năm.
-
Mô hình 5+4+3: phổ thông cơ sở đến hết lớp 5, junior high school bốn năm, rồi senior
high school 3 năm.
-
Mô hình 6+6: phổ thông cơ sở đến hết lớp 6, rồi vào PTTH kết hợp 6
năm.
Ở
một số trường phổ thông cơ sở còn có thể có các lớp vỡ lòng trong đó, tùy thuộc
tình hình cơ sở trường và quy định của mỗi học khu.
Giáo dục đại
học
Nếu
6 tuổi đi học lớp 1 thì sau khi hết lớp 12, học sinh thường ở tuổi 18. Một số có thể vào các trường học nghề
(Vocational Technical Institution) và không học tiếp. Số khác tiếp tục đi học đại
học.
Hệ
đại học có bốn loại bằng "associates" (đại học cơ bản hai năm), “bachelor” (cử nhân) bốn năm, cả hai loại này gọi là “undergraduate” (trước cao học), “master” (thạc sỹ), và “doctorate” (tiến sĩ) tại các trường sau
đại học (graduate school).
Trường đại học hai năm, có khi gọi là “junior college” hay “community college”, có thể dịch là đại học cộng đồng khá phổ biến ở nước Mỹ. Các trường này thường không
đào tạo bậc cao hơn. Sau khi tốt nghiệp, học sinh có bằng "associates" (tạm dịch là bằng đại học
cơ bản hai năm). Khi có bằng đó có thể tiếp tục xin học hai năm nữa ở các trường
“college” hay “university”
bốn năm để có bằng cử nhân. Tuy nhiên, không phải mọi trường bốn năm đều chấp
nhận bằng hai năm vừa nói (ví dụ các trường danh tiếng như Havard, Yale… thường
không công nhận các học phần đã học ở các trường yếu hơn, kể cả các “college” hay “university” nữa).
Ưu điểm của loại trường này là chi phí thấp,
giờ học rất linh động phù hợp với những người vừa đi làm vừa học và có thể nhận
mọi người. Đây cũng là hướng lựa chọn cho học sinh ngoại quốc (ví dụ từ Việt Nam),
học hai năm đầu cho quen và đỡ tốn chi phí, sau chuyển tiếp hai năm ở một đại học
4 năm để lấy bằng.
Hệ đại học bốn năm thì học sinh vào học ở các
“college”, “university”, sau khi ra trường sinh viên có bằng cử nhân. Hai tên gọi
trên đều có thể dùng chung. Người Mỹ bình thường nói “He’s in college” (Anh ta
học đại học) chứ ít khi nói “He’s in university”. Sự
khác nhau cơ bản của các tên gọi này là ở chỗ „college” tại Mỹ là các trường nói chung chỉ đào tạo bậc cử nhân (bachelor’s degree) trong vòng 4 năm học.
Các trường „Liberal
Art College”
thuộc loại trường này. Ngược lại, „university”
là các trường ngoài hệ cử nhân trong 4 năm vừa nêu, còn có thể đào tạo sau đại
học như hệ thạc sỹ (master) hay tiến
sỹ (doctoral degree). Như vậy thông
thường các „university” sẽ có quy mô
lớn hơn, cỡ hàng chục nghìn sinh viên, còn các „college” có cỡ đến vài nghìn sinh viên. „College” hay ở các vùng hay thành phố nhỏ nhưng cũng có những ngoại
lệ.
Như
vậy „university” và „college” là hai từ đồng nghĩa khi nói về
giáo dục đại học hệ 4 năm ở Mỹ. Ở Mỹ
cũng như ở Anh, „college” còn thường dùng để chỉ một bộ phận của một „university” lớn. Các trường „university” to có thể được chia ra các „College” hay „School” đào
tạo các ngành và bậc học khác nhau. Việt Nam có một số người hiểu „college” ở Mỹ là „cao đẳng” là không
đúng.
Từ "College" lần đầu được dùng ở Mỹ vì lý do lịch sử. Các nơi đào
tạo đại học của Mỹ lúc đầu rất nhỏ, không to như các „university” lớn của châu Âu như trường Oxford ở Anh. Đại học đầu tiên ở Mỹ Harvard College
được thành lập năm 1636. Khi mới thành lập trường chỉ nhận sinh viên nam và chỉ
đào tạo cử nhân. Để có bằng tiến sỹ hồi ấy người Mỹ phải đi học nước ngoài.
Trường „university” thực sự đầu tiên
của Mỹ là trường do Johns Hopkins thành lập năm 1876, ở Baltimore. Khi các trường như Harvard College lớn dần lên, họ đổi tên thành „university” để nói lên là họ có thể đào
tạo các văn bằng cao hơn. Cũng có một số „college”
cổ ở Mỹ mặc dù đã tổ chức đào tạo nhiều cấp, nhưng vẫn giữ tên cũ nên đã có một
sự lộn xộn trong một giai đoạn ở Mỹ.
Các „college” và „universities” ở Mỹ chia ra hai loại:
trường công và trường tư. Các trường công do chính quyền các bang quản lý. Họ
nhận được tiền kinh phí từ các tiểu bang cũng như do thu tiền học và tiền do
các tư nhân cúng vốn. Dù rằng tiền học phí, tiền tặng và tiền cúng vốn là tiền
chủ yếu để trường hoạt động, nhưng rất nhiều „university” và „college”
tư cũng nhận được một số tiền do chính phủ tài trợ. Một số còn được các tổ chức
tôn giáo hỗ trợ kinh phí. Theo qui chế, chính quyền liên bang không được kiểm
tra trực tiếp hoạt động của các trường đại học. Các trường tư dễ cho bạn học
bổng hơn các trường công lập, vì ngân sách của các trường công phải do các bang
quyết định.
Vậy
đối với sinh viên đi du học Mỹ thì học ở „college”
hay ở „university” hơn?
Trước hết phải nói không có gì khác nhau
giữa văn bằng cử nhân (bachelor) nhận
được từ một „college” hay „university” tại Mỹ cả. Để đi xin việc
hay xin đi học tiếp thạc sỹ (master)
các bằng cử nhân ở các trường đều như nhau. Tất cả chỉ phụ thuộc vào kết quả
học của mỗi người mà thôi. Trang „About Education” có liệt kê ưu và nhược điểm
của việc chọn học ở „university” và „college” như sau:
1. Tên trường dễ nhận biết (Name
Recognition)
Các „university” lớn tên dễ
được mọi người biết hơn các „college”
nhỏ. Ví dụ như ở miền Tây nước Mỹ, Stanford
University được nhiều người biết đến hơn là Pomona College dù rằng cả hai trường đều là các trường nổi tiếng và
rất khó xin vào học. Có nhiều lý do: đại học lớn có nhiều cựu sinh viên hơn,
các đội tuyển thể thao cũng mạnh hơn, làm nghiên cứu nhiều hơn nên trong các
tạp chí tên cũng xuất hiện nhiều hơn.
2. Các chương trình chuyên nghiệp
(Professional Programs)
Ở
các „university” lớn chương trình đào tạo cử nhân ở các lĩnh vực như kinh doanh
hay kỹ thuật tốt hơn.
3. Số sinh viên trong một lớp (Class Size)
Ở
các „liberal arts college” lớp học
thường ít sinh viên hơn so với ở các „university”.
4. Thảo luận ở lớp (Classroom Discussion)
Do
số sinh viên ở lớp ít, bạn có nhiều cơ hội để trao đổi, hỏi và tranh luận; quan
hệ giữa giáo sư và các sinh viên gần gũi hơn tại các „college”.
5.
Quan hệ với các Bộ môn (Access to the Faculty)
Ở
các „liberal arts college” việc dạy
sinh viên là ưu tiên số một, chỗ làm và việc thăng tiến của cán bộ phụ thuộc
nhiều vào việc dạy học. Ở các „university”
lớn chuyên sâu về nghiên cứu, việc nghiên cứu được đặt cao hơn việc giảng dạy.
Cũng vậy, ở các nơi có đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ, các Bộ môn dành cho họ nhiều
thời gian hơn cho hệ cử nhân.
Mặt khác ở „college” với số
lượng sinh viên ít, họ sẽ có khó khăn về kinh phí khi thuê các giáo sư có trình
độ quốc tế do các trường này mục đích chỉ đào tạo bậc cử nhân. Chữ „Liberal Art
College” dịch ra
tiếng Việt là „giáo dục khai phóng”, cũng chỉ ra mục đích chính về đào tạo tại
các trường đó.
6. Dùng sinh viên cao học giảng dạy
(Graduate Instructors)
Các
„liberal arts colleges” nhỏ thường
không có chương trình cao học nên ở đó không có sinh viên cao học tham gia dạy
học như ở các „university”. Tuy nhiên
bạn đừng nghĩ là học do sinh viên cao học dạy là không tốt. Có những người rất
giỏi, giỏi hơn cả các giáo sư đương nhiệm.
7. Hoạt động thể thao (Athletics)
Ở
các „university” lớn đội tuyển mạnh
hơn do được chọn trong số đông sinh viên hơn.
8. Khả năng làm lãnh đạo (Leadership
Opportunities)
Bạn
dễ có cơ hội tham gia lãnh đạo ở các tổ chức tại các „college” nhỏ hơn là ở các trường lớn. Bạn sẽ dễ nổi bật hơn trong
trường.
9. Xin ý kiến và hướng dẫn (Advising and
Guidance)
Ở
các „universities” lớn thường có các
Văn phòng cố vấn phục vụ đông sinh viên, nên việc xin ý kiến nhiều khi lâu vì
phải xếp hàng. Ở các „college” nhỏ,
thường giáo sư làm kiêm luôn cố vấn nên bạn dễ xin ý kiến hơn, thầy biết bạn rõ
hơn nên các lời khuyên chính xác hơn.
10. Ẩn mình (Anonymity)
Nếu
bạn thích ẩn mình trong đám đông? Bạn chỉ muốn là người quan sát im lặng trong
lớp? Bạn sẽ dễ hơn nếu học ở một „university”
đông sinh viên.
Sau
khi có bằng cử nhân, sinh viên có thể xin học cao học để lấy bằng thạc sỹ (master). Thời gian trung bình học bậc
thạc sỹ là từ 1,5 đến 2 năm; tiếp theo là làm nghiên cứu sinh để có bằng tiến
sỹ (Ph.D). Thời gian làm nghiên cứu sinh trung bình bậc tiến sỹ là 5, 6 năm
(xem: http://study.com/how_long_does_it_take_to_get_a_phd.html).
Ở các ngành khoa học tự nhiên, làm tiến sỹ thời gian ngắn hơn so với các ngành
xã hội như tâm lý và giáo dục.
Một số ngành chuyên môn đặc biệt như Y,
Thần học, Luật… nhận học sinh đã có bằng cử nhân (ví dụ học Y thì phải có bằng
cử nhân về Sinh-Hóa hay các ngành liên quan). Xem trên sơ đồ: Professional Schools. Thời gian học
trường loại này tổng hết khoảng 7 năm. Một số sinh viên học xong các trường này
sau đó cũng có thể chuyển sang làm nghiên cứu sinh để có bằng tiến sỹ (xem sơ
đồ).
Sau bậc tiến sỹ hoặc sau tốt nghiệp các
trường chuyên ngành, còn có nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ hay và làm nghiên cứu (Posdoctoral Study and Research).

NHV (tổng hợp từ nhiều
nguồn)