Như
nhiều độc giả đã biết, sau khi thay đổi thể chế vào
năm 1989, Ba Lan là một miền đất hứa đối với người
Việt. Khi ở Ba Lan xuất hiện một khu buôn bán lớn nhất
Đông Âu, gọi là chợ trời Sân vận động Mười năm,
con số người Việt sang Ba Lan sinh sống lên tới vài chục
ngàn người, có nguồn báo chí còn đưa tin là có khoảng
100 ngàn người Việt sinh sống ở Ba Lan. Nhưng do tình thế
thay đổi, con số này đã khác trước, người ta đã
nghiên cứu và ước tính hiện nay tổng số người Việt
sinh sống ở Ba Lan cũng chỉ còn khoảng 30 ngàn người.
Gần
đây có một số lượng khá đông người Việt lại sang
Ba Lan xin giấy tờ cư trú. Những người có visa Schengen
được vào Ba Lan tự do, nếu xin được việc làm ở một
công ty nào đó thì những người này được quốc gia này
cấp cho giấy phép lao động và thẻ cư trú từ 1 đến 3
năm. Sau 5 năm làm việc đàng hoàng, có đóng thuế và bảo
hiểm đầy đủ và liên tục, người nước ngoài được
cấp thẻ cư trú lâu dài, gọi là thẻ định cư. Rồi có
thể đón thêm người thân sang đoàn tụ hay học tập.
Vậy
chúng ta hãy thử tổng kết xem trong gần 30 chục năm qua,
ngoài chuyện phải suốt ngày suốt năm miệt mài vất vả
làm ăn kinh tế, người Việt ở Ba Lan đã giải quyết
vấn đề hợp pháp hóa cư trú cho bản thân mình như thế
nào và đã có những khó khăn gì trong chuyện xin visa cho
người thân trong gia đình mình, để được đi từ Việt
Nam sang quốc gia này đoàn tụ cùng sinh sống?

Được
sinh sống ở một quốc gia chuyển mình sang chế độ dân
chủ và tự do thực sự, quyền con người ở Ba Lan quả
là ngày càng được cải thiện. Ba Lan đã thay đổi vài
lần nhiều điều khoản cụ thể trong Bộ luật về người
nước ngoài hay là kiểm tra kỹ lại những cách nhìn nhận
(interpretacja) Bộ luật về quốc tịch Ba Lan ra từ năm
1962, có thể khó khăn hơn phần nào, nhưng nói chung số
lượng người Việt xin được cấp thẻ cư trú hay quốc
tịch Ba Lan mỗi năm vẫn luôn khá cao.
Có
thể nói là người Việt chưa có điều kiện thực sự
tìm tòi và thông hiểu thật kỹ về những Bộ luật của
Ba Lan liên quan đến người nước ngoài. Thường là những
người Ba Lan vẫn „bày cách” cho người Việt để áp
dụng những điều khoản của các Bộ luật. Bởi vì là
từ xưa tới nay người dân Ba Lan rời bỏ quê hương đi
ra nước ngoài sinh sống vẫn khá đông, cho nên có thể
nói là người ta đã có nhiều kinh nghiệm trong những
chuyện hợp pháp hóa cư trú ở những quốc gia sở tại.
Việc
người Việt chưa thể hiểu kỹ về pháp luật, cũng do
là có nhiều rào cản ngôn ngữ, vì tiếng Ba Lan phổ
thông được cho là đã rất khó, vậy ngôn ngữ pháp luật
lại càng khó hơn đối với người nước ngoài nói chung
và đối với người Việt nói riêng. Hiện nay trong cả
cộng đồng người Việt mới chỉ mới xuất hiện một
hai người gốc Việt, mà đang bắt đầu muốn trở thành
những luật sư với trình độ cao ở Ba Lan, để có thể
sát cánh với người Việt cùng giải quyết những vấn
đề khó khăn, đặc biệt là trong những chuyện liên quan
đến giấy tờ cư trú, nơi thường xảy ra rất nhiều
tranh cãi hay kiện tụng.
Bởi
vì là chuyện ứng dụng từng nguyên tắc của mỗi Bộ
luật đều có thể ví von như chuyện nhìn vào một chiếc
cốc với một nửa dung tích đang có nước. Một phe thì
cho là chiếc cốc đang đầy đến một nửa, phe kia cho là
chiếc cốc đang có ít nước, bị vơi, chỉ còn một phần
hai. Vậy nên chuyện người nước ngoài có mức thu nhập
như thế nào cho đủ sống và trong thực tế cần phải
chi phí bao nhiêu cho cuộc sống vẫn luôn là vấn đề
tranh cãi, mặc dù người ta đã đặt ra mức tiền tối
thiểu cho mỗi cá nhân đủ sinh sống ở Ba Lan là khoảng
600-700 zloty (con số này hoặc mức lương tối thiểu luôn
thay đổi).
Vậy
khi chưa có những luật sư cứng cỏi và danh giá, người
Việt có thể đặt mọi hy vọng vào đâu, để có thể
an tâm lập nghiệp ở nới đất khách quê người, còn
chuyện thủ tục giấy tờ thì đã có người khác „lo
hộ”? Tức là tìm đâu ra được một vài người hay một
vài công ly tư vấn chuyên làm dịch vụ giúp đỡ người
nước ngoài, mà có uy tín cao?
Đó
là một câu hỏi rất khó! Bởi vì là chính bản thân
người Việt chúng ta còn quá „ngây thơ” hay là vẫn
luôn muốn ứng xử theo những thời xa xưa, tìm cách „chạy
chọt”, như trong thời chế độ cũ, mà người ta vẫn
thường làm. Có vẻ nhiều người không muốn hiểu là
thời buổi đã khác xa trước, khi ở Ba Lan người ta đang
chống tham nhũng rất tốt. Những bộ luật luôn được
sửa đổi, các điều khoản đều mang tính chất có lôgíc
cao, rất chặt chẽ, để nhân viên xem xét hồ sơ có thể
cứ theo thủ tục mà làm, tức là làm gì, cho ra quyết
định như thế nào cũng phải theo đúng từng điều luật.
Để
thông hiểu và chấp hành đúng pháp luật, điều hiển
nhiên là cần phải biết tiếng Ba Lan. Cứ cho là người
Việt cần cù chăm chỉ làm ăn, không có thời gian học
ngôn ngữ, do vậy có thể còn nhiều hạn chế về vấn
đề này, nhưng khi bạn đưa cuốn hộ chiếu của mình
cho ai đó, để họ làm những công việc thủ tục hành
chính cho bạn, ít ra cũng phải tìm hiểu xem người đó
có thông thạo ngôn ngữ Ba Lan và có đáng tin cậy hay
không.
Ở
Ba Lan, quyền tự do của con người ngày càng cao, do vậy
ai cũng có quyền chọn cho mình một người được ủy
quyền, để người đó có thể đi đến các công sở làm
đại diện và làm thay cho bạn một số công việc mà bạn
cần. Nhưng đúng là bạn cũng phải có trách nhiệm chọn
lựa, tìm được đúng những người mà trong khi giải
quyết những công việc nào đó cho bạn, không để bạn
phải nhận những hậu quả xấu về sau này.
Trước
đây, có những trường hợp người Việt đi cùng một
người dịch vụ đến phòng công chứng để ký văn bản
giấy tờ gì đó, thí dụ như một hợp đồng thành lập
công ty trách nhiệm hữu hạn (hoặc khi chỉ ký một trang
giấy ủy quyền). Thành lập công ty là một thủ tục
phức tạp, vì hợp đồng có vài trang hoặc thậm chí có
hơn chục trang với những điều khoản rất khó mà cần
phải đọc kỹ. Vậy mà có người Việt không biết sõi
tiếng Ba Lan, tiết kiệm chi phí không gọi phiên dịch,
thuyết phục được nhân viên công chứng là người đó
hiểu rõ tiếng Ba Lan, nghiễm nhiên đặt bút ký vào mọi
văn bản, để trở thành một giám đốc một công ty, rồi
sau này sẽ phải ngạc nhiên là công ty có vấn đề về
chuyện thuế hải quan hay thuế VAT, với những thất thoát
hàng triệu zloty, mặc dù đó là công ty trách nhiệm hữu
hạn. Có nhân viên công chứng đã bị ảnh hưởng, vì đã
quá dễ dãi với người Việt, chấp nhận trình độ
tiếng của họ, coi là đã đủ để hiểu cả một hợp
đồng lớn. Hiện nay mọi chuyện đã khác hẳn xưa.
Do
vậy, nhiều khi người Việt gặp vấn đề là do chính
bản thân mình quá „dễ dãi” hay cố tình muốn dễ dãi
khi giải quyết những công việc liên quan đến giấy tờ.
Như đã đề cập, ở Châu Âu quyền tự do của con người
rất cao, ai cũng có thể đi sang những quốc gia khác để
giải quyết những công việc liên quan đến cuộc sống
của bản thân. Có bạn nữ người Việt đang sinh sống ở
Ba Lan nhưng đã kiên trì nhờ ai đó ở bên CH Séc tìm cho
mình một người bạn đời, để sang bên đó làm thủ
tục cưới xin. Tất nhiên, là người tự do, bạn có thể
đăng ký kết hôn mọi nơi, nhưng ít ra khi sang bên CH Séc,
ít ra bạn cũng nên tìm cho mình một phiên dịch đàng
hoàng, để khi có được tờ giấy đăng ký kết hôn thì
mọi số liệu tên tuổi của bạn phải được ghi khớp
theo đúng thực tế, tránh hậu quả nặng nề về sau này.
Đẵ
có trường hợp có bạn có họ tên thí dụ là Hoàng Thị
La, mang tờ giấy đăng ký kết hôn về Ba Lan với số
liệu ghi tên là Hoang Thi, họ là La, vì ở Tây thường
ghi tên trước (dòng trên trong giấy kết hôn), họ ghi sau
(dòng dưới). Hai vợ chồng thống nhất là con cái sinh ra
sẽ mang họ mẹ, vậy là họ La. Không khớp như vậy mà
cũng không chịu nhờ ai đó biết tiếng kiểm tra. Vậy
gây ra hậu quả là con cái sinh ra sẽ mang họ La.
Bây
giờ cứ cho là bạn đã ly thân với ông chồng Séc kia,
nhưng theo lý thuyết, cháu bé vẫn là con của ông chồng
cũ. Khi có giấy khai sinh, bạn phải nộp đơn cho tòa, xin
làm lại giấy khai sinh theo đúng tình trạng thực tế,
tức là đứa con không phải của người chồng cũ, mà là
con đẻ của người bạn đời đang sinh sống cùng bạn ở
Ba Lan. Có được tuyên án của tòa thì mới thay đổi
được tên của (hai) người cha trong giấy khai sinh của
cháu bé.
Có
một thủ tục rất cứng nhắc nữa là khi bạn sinh con,
trong vòng 3 tuần bạn phải ra Ủy ban đặt tên cho con và
làm giấy khai sinh cho bé. Nếu muộn, Ủy ban sẽ tự đặt
tên Ba Lan cho cháu bé. Nếu là công dân Ba Lan, chỉ cần 1
trong 2 vợ chồng ra Ủy ban có thể xin đặt lại tên cho
cháu bé. Nhưng khi cả 2 cha mẹ lại là người nước
ngoài thì chuyện đổi tên như vậy lại cần phải có sự
có mặt của cả hai người, điều này không hề dễ dàng
khi người cha đang ở sinh sống ở bên Séc hoặc đã đi
nước khác làm việc, vì các bạn không còn liên lạc, đã
ly thân với nhau từ lâu.
Còn
khá nhiều vấn đề khác, như chuyện thủ tục nhận con,
khi người mẹ độc thân, chuyện cưới xin và ly hôn,
chuyện thành lập công ty xong mà không hoạt động, không
nộp thuế má gì, hay là xin được giấy phép lao động
và thẻ cư trú rồi mà „mất hút”, không chịu nộp
thuế và bảo hiểm ở Ba Lan.
Thành
thực mà nói thì trước đây nhân viên Ủy ban Ba Lan trước
đây khá „dễ dãi” với người Việt, trong những
chuyện giải quyết giấy tờ cư trú hay cưới xin, nhưng
đã có nhiều những trường hợp người Việt „quá đà”,
nỡ để xảy ra những chuyện quá phi lý, không thể tin
nổi. Hậu quả là có vài người Việt cùng với một số
người Ba Lan đã bị các cơ quan an ninh điều tra và tòa
đã tuyên án phạt tội họ, trong những vụ án liên quan
giấy tờ cư trú. Do vậy Ba Lan tuy không phải quá dè dặt
với cộng đồng người Việt như họ thường lo lắng
trong trường hợp nếu có nhiều người dân theo đạo Hồi
sang Ba Lan sinh sống, nhưng người ta đã ngày càng phải
xem xét thật kỹ hơn về những đơn xin cư trú của người
Việt.
Chúng
ta có thể bàn bạc tiếp về những chuyện này trong những
bài sau, để cùng khuyên bảo nhau cố gắng chấp hành
pháp luật thật tốt, để sao cho chính quyền nước sở
tại có thể tin tưởng vào cộng đồng người Việt, giữ
mãi tiếng đồn đây là một cộng đồng khá thuần, hiền
lành và chăm chỉ, hội nhập tốt, ngoài ra tỷ lệ tội
phạm của cộng đồng này chưa bao giò là một con số
đáng quan ngại.
Tức là để Ba Lan vẫn có thể cứ dễ
dàng cấp thẻ cư trú hay quốc tịch Ba Lan cho những người
Việt có nhu cầu sang Ba Lan sinh sống, điều mà tất cả
chúng ta đang cần.
Ngô
Hoàng Minh.