Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

” Hội chứng đố kỵ người giàu „ qua sự kiện Flappy Bird tại Việt Nam

03/03/2014 10 phút đọc Theo: Trong thời phong kiến
Hiện tượng game Flappy Bird đang là câu chuyện thời sự nóng bỏng trong suốt từ đầu năm 2014 đến nay. Nguyễn
” Hội chứng đố kỵ người giàu „ qua sự kiện Flappy Bird tại Việt Nam

         Hiện tượng game Flappy Bird đang là câu chuyện thời sự nóng bỏng trong suốt từ đầu năm 2014 đến nay. Nguyễn Hà Đông, môt lập trình viên độc lập người Việt Nam đã tạo ra một trò chơi ứng dụng trên hệ điều hành Android và iOS mang tên Flappy Bird cho thế giới di động. Chưa cần đến các hình thức quảng cáo nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (24/5/2013 đến 1/2/2014), Flappy Bird đã trở thành trò chơi miễn phí số 1 trên App Store tại 53 quốc gia khác nhau. Song song đó, thông tin Hà Đông đạt doanh thu khoảng 1 tỷ tiền quảng cáo mỗi ngày từ game này cũng nở rộ và được dư luận ráo riết quan tâm, bàn luận đa chiều. Đặc biệt là những dư luận trái chiều về Flappy Bird đã lan tỏa như một hội chứng bất thường trong xã hội, gây nhiều áp lực tiêu cực lên tác giả. Hệ quả của chúng là một quyết định đầy bất ngờ vào ngày 10/2/2014 của Nguyễn Hà Đông, khi anh chọn cách gỡ bỏ hot-game của mình ra khỏi các ứng dụng trong thế giới ảo, giống như cái cách mà chú chim nhỏ trong trò chơi này, ngay khi mới bay lên cao, bất ngờ bị đụng vào đường ống rồi rơi bịch xuống đáy chết yểu vậy.

Nguyễn Hà Đông và màn hình Flappy Bird (google.com)

Dư luận xoay chiều từ sự kiện Flappy Bird

         Sự thành công của Flappy Bird quả thực là một kỳ tích đáng ngưỡng mộ, đúng như nhà đầu tư mạo hiểm Ouriel Ohayon của Thung lũng Silicon, người đồng sáng lập hãng Appsfire SAS đã nhận xét “đây là thành công gần như chưa có tiền lệ đối với giới phát triển ứng dụng độc lập”.  Sau sự kiện này, các nhà lãnh đạo của nước ta cũng đã gặp gỡ, trao đổi và động viên Nguyễn Hà Đông. Dư luận trên thế giới vẫn chưa hết ngỡ ngàng và trăn trở về câu chuyện như cổ tích trong thế giới ảo hiện đại này. Tuy nhiên, điều đáng nói là các luồng dư luận trong nước và tác động của nó. Trước đó, một số báo chí và nhiều diễn đàn đã cố dịch đăng hoặc đưa ra các ý kiến đầy hoài nghi, thiếu tính xây dựng kiểu như "Đông đã gian lận, Đông sao chép ý tưởng, Đông có thể bị kiện bởi Nintendo, Lãnh đạo Bộ Tài chính yêu cầu Tổng cục thuế vào cuộc để rà soát". Đặc biệt là rất nhiều các bình luận của nhiều bạn trẻ Việt Nam trên các diễn đàn ảo hoặc các trang mạng xã hôi đã thể hiện sự thiếu khách quan, đố kỵ theo kiểu GATO (ghen ăn tức ở). Trước những áp lực quá tải đó, Hà Đông đã phải chán nản chia sẻ trên Twitter của mình rằng “Tôi thực sự xin lỗi. Tôi đã trở nên quá tải. Một người không thể xử lý tất cả mọi chuyện”, hoặc “Tôi có thể gọi Flappy Bird là một thành công của tôi. Nhưng nó cũng hủy hoại cuộc sống đơn giản của tôi. Vì thế bây giờ tôi ghét nó”, và có lẽ đó cũng là nguyên nhân chính khiến tác giả đi đến quyết định gỡ bỏ hot-game của mình khi nó còn đang trên lộ trình thành công rực rỡ. Đến sau khi trò chơi này bị tác giả gỡ bỏ, người ta mới giật mình tiếc nuối và quay sang đặt vấn đề về sự đố kỵ đã giết chết sáng tạo ra sao, hay mổ xẻ nguyên nhân vì sao Flappy Bird lại bị khai tử. Giá mà mọi người chúng ta đều có cách nhìn tích cực, xây dựng và trách nhiệm ngay từ đầu, có sự động viên kịp thời với Đông thì chắc chắn Flappy Bird còn bay cao và xa hơn nữa. Dẫu biết rằng, dư luận thiếu tích cực cũng chỉ từ những thành phần không thiện chí, nhưng khi nó đã trở thành một “bộ phận không nhỏ” và gây ra những hệ lụy thiếu lành mạnh thì chúng ta cần có sự suy ngẫm, phân tích và nhìn nhận nghiêm túc để rút ra những bài học cần thiết cho tương lai.

Có chăng “Hội chứng đố kỵ người giàu”?

        Hiển nhiên, câu chuyện về Flappy Bird không chỉ là câu chuyện riêng về sự giàu có và tiền bạc. Tuy nhiên, thử đặt vấn đề rằng nếu thành công của Nguyễn Hà Đông không gắn liền với các thông tin về tiền bạc, thu nhập khủng thì liệu có rộ lên quá nhiều những dư luận trái chiều đến như vậy không? Câu trả lời chắc sẽ theo hướng phủ định. Vậy vì sao nhiều người trong chúng ta lại có thái độ không lành mạnh khi thấy người khác giàu lên và luôn nghĩ về những đồng tiền xấu như thế?

        Năm 2003, trong buổi nói chuyện thuộc chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Hà Lan tại Trường ĐH. Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Ngọc Lưu, một Việt kiều Hà Lan từng là chuyên gia tư vấn kinh tế cho nhiều quốc gia trên thế giới, đã nêu vấn đề vui với chúng tôi rằng “Vì sao khi khen một người Việt Nam là giàu có, người ta sẽ giật mình và phản ứng lại rằng: “Không đâu, đừng bỏ bom nhau thế!”. Còn ở các nước phát triển nếu khen ai đó giàu có, họ sẽ vui vẻ nhún vai đáp lại: “Chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều!”? Điều gì dẫn tới thái độ ứng xử khác biệt như vậy? Sao chúng ta lại ngại “bị khen” là giàu? Nhà thơ Vũ Quần Phương từng ngậm ngùi thổ lộ sự đồng tình với quan điểm "Sống chậm, chết nhanh, ít của để dành, nhiều người thương tiếc". Tại sao phải ít tiền, ít của để dành thì mới được nhiều người thương tiếc? Không ít người trong chúng ta từng trăn trở bởi thế sự nghèo thì sẻ chia thông cảm, giàu thì mất bạn mất bè. Đành rằng có những người khi làm ăn thành đạt, giàu có thì xa lánh, khinh khi bạn bè thủa hàn vi, nhưng cũng có rất nhiều người vì ghen ghét, đố kỵ trước sự thành công và giàu có của bạn mình mà thành ra khó chịu, xa lánh. Ở khía cạnh kinh tế, có thể phân tích đại khái rằng: Giả dụ, chúng ta xem những lợi ích kinh tế trong xã hội của một quốc gia giống như một chiếc bánh hình tròn. Ở những nước phát triển, sự công bằng và minh bạch trong quản lý kính tế khá rõ nét thì khi người nào đó thành đạt và trở nên giàu có, mọi người sẽ cảm nhận rằng cùng với sự giàu lên của người đó, “chiếc bánh lợi ích” chung cũng phình ra to hơn và phần lợi ích của họ cũng tăng lên theo sự phình ra của “chiếc bánh” đó. Và với nền tảng nhận thức tốt, hầu hết mọi người dễ tiếp nhận những người giàu có bằng ánh mắt tôn trọng và khâm phục. Ở đó người giàu sẽ không ngại “bị khen” là giàu có, vì đó là kết quả từ quá trình lao động tường minh của họ. Họ đã đóng thuế, tạo công ăn việc làm, quyên góp từ thiện,… cho xã hôi. Còn tại những nước đang lạc hậu, chậm phát triển và chưa thực sự minh bạch trong quản lý kinh tế thì khi người nào đó giàu lên, những người khác dễ mường tượng rằng người giàu đó đã và đang chiếm mất phần “bánh lợi ích” của họ. Bởi vì, “chiếc bánh lợi ích chung” hầu như không thấy phình ra, điều kiện dân sinh xã hội dường như không thay đổi, chỉ thấy khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Do đó, họ thường nảy sinh tư tưởng đố kỵ, có thái độ nghi ngờ và ghen ghét với những người giàu. Vì thế ở đây, người giàu (ngay cả khi đó là tài sản chân chính) sẽ e ngại khi dễ bị hiểu nhầm, bị nhiều người ghen tức, nhòm ngó. Dĩ nhiên điều đó còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức của mỗi người. Suy cho cùng, sự ích kỷ cá nhân vốn dĩ tồn tại ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, nhưng nền tảng văn hóa cũng là yếu tố chi phối mạnh quan điểm “đố kỵ người giàu” này. Bởi thế, ở nước ta mới có câu nói vui khá phổ biến rằng “không sợ khó sợ khổ, chỉ sợ nghèo không đều” là vậy.

        Trong thời phong kiến, xã hội kém phát triển, nguồn lực tiền tài và cơ hội làm giàu bị trói buộc, hạn chế nên sự giàu có đa phần có nguồn gốc từ bọn gian thương, tham quan ô lại, địa chủ, cường hào, ác bá, phỉ tặc, … Các cụm từ nợ máu, áp bức, bóc lột,… hãy còn hằn sâu trong tâm khảm của nhiều người Việt và tác động tới nhiều thế hệ. Thành phần giàu có từng bị xã hội xem thường, ghét bỏ, lên án và đấu tố. Ngay cả những người buôn bán làm giàu hợp pháp cũng chỉ được xếp thấp nhất trong các giai tầng xã hội “Sỹ - Nông – Công – Thương”. Nhiều người giàu bị gắn với biệt danh “trọc phú”. Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cùng với nền tảng văn hóa phong kiến vốn có nên chuẩn mực đánh giá của cộng đồng phải tuân theo đúng hệ quy chiếu xã hội phù hợp với thời đó. Tuy nhiên thời nay, xã hội đã thay đổi. Cùng với sự phát triển văn minh của nhân loại, sự tự do hóa mậu dịch và quá trình hội nhập đa phương,… tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh, sáng tạo,… để mọi người làm giàu hợp pháp. Những ấn tượng, quan điểm ấu trĩ, lạc hậu phong kiến cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh phát triển và hệ quy chiếu mới của xã hội. Trong quan điểm nhân văn, sự giàu có không hoàn toàn là thước đo giá trị phẩm giá và địa vị xã hội của một cá nhân. Nhưng sự giàu có chính đáng luôn được đánh giá cao và tôn vinh đúng mức.

         Việt Nam chúng ta là nước đang phát triển, mới vượt qua ngưỡng quốc gia nghèo chưa lâu, còn lạc hậu và còn nhiều bất cập trong vấn đề quản lý kinh tế. Chúng ta lên án, bài trừ những cách làm giàu phi pháp, bất lương, cách kiếm tiền bất chính là cần thiết. Nhưng, những người làm giàu bằng sự thông minh, tài trí và sáng tạo, bằng lao động chân chính rất cần được mọi người chung tay ủng hộ, động viên và quan tâm kịp thời để họ có điều kiện phát triển tốt hơn. Bởi vì, họ đã và sẽ góp phần tích cực hơn cho sự phát triển kinh tế của đất nước, góp phần nâng cao uy tín và hạn chế sự tụt hậu của nước nhà trong kỷ nguyên hội nhập và phát triển toàn cầu này.

                                                                                                                                 ( THỨC TUẤN gửi báo Quêviệt)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu