Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online
Việt Nam Tiêu điểm

Việt Nam trong ván bài mới ở Châu Á

14/03/2015 14 phút đọc
Radosław Pyffel Việt Nam là một quốc gia cộng sản theo tên gọi. Kể từ khi „những người cộng sản” nắm chính quyền
Việt Nam trong ván bài mới ở Châu Á

Radosław Pyffel

Việt Nam là một quốc gia cộng sản theo tên gọi. Kể từ khi „những người cộng sản” nắm chính quyền ở miền Bắc và sau đó vào năm 1975 họ chiếm được miền Nam thì họ đã mở rộng hệ thống chính trị độc tài trên khắp đất nước. USA là một quốc gia dân chủ, là trụ cột của chính của cái gọi là thế giới tự do. Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước, hai quốc gia này cứ nện nhau mà không hề tuyên chiến. Những người cộng sản Việt Nam đối xử với tù binh Mỹ rất cương quyết, nhiều khi đúng như đã miêu tả trong bộ phim „Người săn hươu”, còn người Mỹ thì cứ san bằng Bắc Việt bằng những trận ném bom dải thảm hay là trong Nam thì cứ dùng napalm trợ giúp để xua du kích Việt Cộng ra khỏi đường hầm hay cánh rừng. Vậy mà hiện nay Việt Nam lại là một trong những đồng minh quan trọng nhất của USA tại Đông Nam Á, điều này cho thấy rằng trong chính trị không có chuyện gì là không thể.

Mặc dù Trung Quốc được coi là trung tâm của nền văn minh Á Đông, lịch sử Việt Nam được tính từ năm 2879 trước khi Chúa Giê su ra đời, tức là dài hơn lịch sử Trung Quốc, vì Trung Quốc coi là quốc gia này được hình thành từ năm 2852 trước khi Chúa Giê su ra đời. Ngày nay, Việt Nam với khoảng 90 triệu dân là một quốc gia to lớn, đang lo sợ sự lớn mạnh của Trung Quốc và có lẽ coi quốc gia này là một sự nguy hiểm chứ chả phải là một cơ hội gì.

Đụng độ trên biển Đông giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam.

Cuộc xung đột kéo dài từ hàng nghìn năm với vương triều phương Bắc vẫn đang tiếp diễn, cụ thể là chiến trường tranh cãi đang là những hòn đảo ở Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa nằm về phía đông của Việt Nam và trước đây trực thuộc Việt Nam Cộng hòa. Khi bị những người cộng sản nện cho tơi bời, quốc gia này đang tan rã thì Trung Quốc đã tranh thủ đổ bộ lên quần đảo này vào năm 1974, giết hết lính Việt và từ khi đó họ nắm giữ quần đảo này. Theo hình thức, họ cho quần đảo này trực thuộc tỉnh Hải Nam Nhưng sau khi thống nhất, Bắc Việt đòi trả lại những hòn đảo này. Trung Quốc không chỉ từ chối mà còn xua đuổi hết những tàu cá và tàu tuần tra của Việt Nam ra khỏi vùng này. Năm 2014 xung đột càng nghiêm trọng hơn khi Trung Quốc quyết định đưa giàn khoan vào khu vực quần đảo. Trung Quốc cho cả một hạm đội lớn mạnh đi theo giàn khoan để bảo vệ, bao gồm hơn 50 đơn vị. Các đơn vị Việt Nam khi đến gần vùng này đều bị xua đuổi, bị phun nước bằng vòi rồng hoặc là bị húc nát. Giàn khoan không lồ này trở thành kiểu như một phép thử về sự chịu đựng của người Việt, nhưng  Hà Nội không có ý định nhún nhường. Họ cử tàu tuần tra của mình đến đó, cũng có vòi rồng và hai bên thường xuyên phun nhau.

Trong lục địa cũng khối chuyện xảy ra. Tại Hà Nội và vài TP ở miền Bắc đã có những cuộc biểu tình chống Tàu khá mạnh mẽ. Sau vài tháng, Trung Quốc công nhận là giàn khoan đã hoàn thành sứ mệnh của mình và kéo nó đi. Buồn cười hơn cả là chính phủ Trung Quốc thứ hai là Đài Loan cũng xông vào khu đảo này.

Chiến trường tranh cãi thứ hai là quần đảo Trường Sa, nằm ở phía Nam của Biển Đông, mà Philipin gọi là Biển Tây Philipin. Tuyên bố chủ quyền cả quần đảo hay là một phần của quần đảo bao gồm có các nước: ngoài Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, còn có 3 quốc gia khác là Philipin, Malaysia và Brunei, trong đó Trung Quốc và Đài Loan nằm xa nhất so với khu vực tranh chấp. Cuộc xung đột về những quần đảo này không chỉ mang tính chất kinh tế (xung quanh những đảo này có rất nhiều quặng, dầu khí và cũng có một kho nguồn cá vĩ đại), mà trước hết là có ý nghĩa chiến lược, bởi vì 1/3 toàn bộ những vận tải hàng hải của thế giới  đi qua Biển Đông, vậy là khi kiểm soát được hai quần đảo này đồng nghĩa với việc kiểm soát được toàn bộ sự vận tải qua khu vực biển này. Vì là trong năm 2013, khi sang thăm Việt Nam, thủ tướng Trung Quốc Li Keqiang lại nói về khả năng cùng khai thác tiềm năng biển, do vậy hành động với giàn khoan này làm cho Hà Nội khá ngạc nhiên và có một thông điệp đưa ra rõ ràng là Trung Quốc đã tự cảm thấy rất lớn mạnh và họ đã từ bỏ chính sách đang áp dụng tới thời điểm hiện nay, từ thời Đặng Tiểu Bình đưa ra là không nên ưỡn mình vượt khỏi hàng ngang.

Việt Nam và ASEAN

Rất may cho Hà Nội là sự phát triển không ngừng của Trung Quốc đã làm cho những người hàng xóm khác cũng phải lo sợ. Do vậy các quốc gia trong khối ASEAN đang ngày càng có những mối quan hệ mật thiết hơn, khi họ cảm thấy bị nguy hiểm, kể cả quốc gia độc tài (cộng sản) Việt Nam, cũng như Philipin tôn giáo, Malaysia đạo Hồi, hay là thậm chí Miến Điện với toàn đạo Phật. Việt Nam đặc biệt có quan hệ tốt với Philipin, họ cùng tập trận với nhau ở Biển Đông. Việt Nam cũng có hợp tác tốt với vương quốc Brunei nhỏ bé. Đối với Việt Nam, mối quan hệ với quốc gia lớn nhất của ASEAN – Indonesia – là rất quan trọng, quốc gia này ủng hộ các nước thành viên trong khối trong cuộc tranh cãi với Trung Quốc về Trường Sa. Nhưng mối quan hệ với hai quốc gia Đông Dương còn lại (cùng là thuộc địa của Pháp trước đây) thì lại rất khác. Với Campuchia, sau khi xua đuổi được tụi Khơ Me Đỏ, đã cho trở lại chính quyền hoàng gia, quan hệ ít ra là cũng tàm tạm, nhưng Phnôm Pênh lại cứ đề phòng và đang ngày càng thắt chặt quan hệ với Bắc Kinh. Mối quan hệ như vậy còn được nhìn rõ nét hơn trong trường hợp của Lào, quốc gia này có mối quan hệ với Việt Nam y hệt như mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Lào, một quốc gia với 7 triệu dân đang cố gắng cân bằng sự ảnh hưởng của Việt Nam (Việt Nam là nhà đầu tư lớn nhất tại Lào) tìm cách quan hệ tốt với Trung Quốc và Thái Lan.

Nhóm ASEAN là một thí dụ điển hình về chuyện là những quốc gia với lịch sử, nền văn minh và tôn giáo hoàn toàn khác nhau vẫn có thể cùng chung sức với mục đích bảo vệ những lợi ích chung và của từng quốc gia.

Việt Nam trong sự sắp xếp Châu Á

Ở Đông Á và Đông Nam Á, sự chia quân bài được bắt đầu từ sự tăng trưởng có hệ thống về tiềm năng của Trung Quốc và sự thay đổi chính sách của USA theo hướng Châu Á và Thái Bình Dương, đã tạo nên sự thay đổi vị trí quốc tế của một số quốc gia, trong vài trường hợp sự thay đổi này hầu như có tính chất cách mạng. Chắc chắn là những thay đổi ở Việt Nam được coi là có tính chất như vậy. Giới cầm quyền ở Hà Nội đã ý thức được là chỉ trông chờ vào sự giúp đỡ của khối ASEAN là quá ít, để có thể cảm thấy an toàn, do vậy Việt Nam đang tìm đồng minh ở mọi nơi, kể cả những quốc gia không thuộc khối này. Quan hệ với USA là quan trọng nhất. Nếu ngôn từ „xoay gót” gây ra cho một số người ở Ba Lan còn đang nghi ngờ là có phải USA đã thực sự chuyển véc-tơ trong các đường lối chính sách của mình hay chưa, thì trong mối quan hệ Việt Nam -USA, ngôn từ này quả là đáng dùng.

Những người cao tuổi từng là kẻ thù hiện nay đã quên chiến tranh. Sự cường quốc của Trung Quốc đang thống nhất họ. Hiện nay các nhà chính trị USA rất sẵn sàng sang thăm Hà Nội. Thậm chí tướng Demsey – Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, tức là một lãnh đạo quân đội cao cấp nhất trong lực lượng Mỹ, cũng đã sang Hà Nội. Có lẽ chuyến thăm của Thượng nghị sỹ John McCain mới là một điều ngạc nhiên kinh hoàng hơn. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ông đã chiến đấu với cương vị là một phi công, máy bay của ông bị bắn rơi ở Hà Nội. Ông bị tống vào trại tù binh, bị nhốt vào phòng cách ly, bị tra tấn nặng nề. Hiện nay ông hầu như lại được coi là một nhà lobbing kêu gọi hợp tác với Việt Nam. Kết quả là chính phủ Mỹ đã hạn chế chiến dịch cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Hiện nay Hà Nội có thể mua các thiết bị quân sự, được coi là „không sát thương”, thực tế là các thiết bị hậu cần. Chắc chỉ trong thời gian tới, cũng sẽ chả cấm đoán gì mấy. Quan hệ của hai nước đã đủ tốt đẹp đến mức là các hạm đội của hai bên đã cùng tập chiến, tiếp đến sẽ là một chuyện nực cười của lịch sử, khi hiện nay người ta đang nói về chuyện Mỹ sẽ được... thuê cơ sở sân bay ở Đà Nẵng, vì Demsey đã trực tiếp đến đó thăm.

Quốc gia lớn thứ hai mà Việt Nam muốn thiết chặt quan hệ, đó là Nhật Bản. Hai bên tăng cường hợp tác và trao đổi thương mại. Nhật Bản cũng là một nhà đầu tư quan trọng ở Việt Nam. Từ 3, 4 năm nay đã có sự hợp tác quân sự, thủ tướng Abe có chuyến đi xuất ngoại chính thức đầu tiên là đến thăm Việt Nam. Sự hợp tác cũng được tăng cường, bởi vì Nhật Bản đã thoáng hơn trong chính sách xuất khẩu vũ khí, mà nổi tiếng là có chất lượng cao, chắc chắn là Việt Nam sẽ quan tâm đến việc mua vũ khí này, đặc biệt là hiện nay quân đội Việt Nam đang có quá trình chuyển đổi để dùng vũ khí Phương Tây. Không còn nghi ngờ gì là Nhật Bản thiết chặt quan hệ với Hà Nội cả trong lĩnh vực kinh tế cũng như quân sự. Mục đích của Tokio là tạo ra được một liên minh an toàn trong khu vực, mà ở đây Việt Nam đóng một vai trò nếu không được coi là chủ lực, thì chắc chắn là rất quan trọng.

Quốc gia lớn thứ ba đang trở thành đồng minh của Việt Nam là Ấn Độ, khi họ không hề bớt mối lo ngại, vì Trung Quốc vẫn luôn tích cực ở vùng Ấn Độ Dương, tại đó Trung Quốc cho xây hơn chục căn cứ hàng hải. Để trả đũa, Ấn Độ thiết chặt quan hệ của mình với Việt Nam – mà không chỉ trong lĩnh vực chính trị hay kinh tế, mà cả quân sự, cụ thể là cho xuất hiện chiến hạm Ấn Độ vào các cảng biển Việt Nam. Hà Nội không chỉ giới hạn quan hệ chính trị, vì biết rõ là đồng minh có thể là những quốc gia đang xây dựng vị trí kinh tế của họ. Do đó Việt Nam đã thay đổi lại định nghĩa chính sách kinh tế của mình từ lâu, đang kêu gọi không chỉ các tập đoàn lớn vào Việt Nam đầu tư, mà còn khuyến khích Việt kiều về nước làm ăn, kể cả những người đã từng buộc phải chạy trốn khi Việt Nam Cộng hòa thất thủ.

Kinh tế - viễn cảnh vĩ đại

Vào năm 1986 đã bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách kinh tế theo mẫu của Trung Quốc. Theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới, giá trị GDP của Việt Nam trong năm 1986 là 26 tỷ USD, trong năm 2013 GDP đã là 155 tỷ USD. Từ năm 1986 cho đến nay, vậy là sự tăng trưởng GDP đã tăng vài trăm phần trăm. Thực tế là Việt Nam trước đây là một quốc gia nghèo nàn nhất thế giới và khởi đầu từ một con số rất thấp, nay đã có sự tăng trưởng kinh tế quả là thật phi thường. Nhưng mặc dù có những số liệu gây trợn tròn mắt như vậy, đây vẫn đang là một quốc gia nghèo nàn. Cứ so sánh với Philipin thì biết: có số lượng dân số tương đương (lớn hơn khoảng 10%) mà họ có GDP lớn hơn tận 100 tỷ USD, còn khi tính chỉ số về sức tiêu dùng – họ còn lớn hơn cả 150 tỷ USD. Năm 2012 Việt Nam ký hiệp định với EU về quan hệ và hợp tác, hiện nay đang thảo luận về hợp đồng tiếp theo, quan trọng hơn, hiệp định tự do thương mại. Người Việt Nam đã được chuẩn bị khá kỹ về sự hội nhập với thị trường thế giới. Hiện nay đã có một triệu người biết nói tiếng Anh, ngoài ra còn có ngần nấy người dùng được tiếng Pháp. Người ta đánh giá là kinh tế Việt Nam đang có những viễn cảnh huy hoàng. GDP trong những năm tới sẽ tăng trưởng ít nhất là 6% mỗi năm và trong vòng 5 năm sẽ đạt mức cao hơn 50% so với hiện nay. Ngoại kiều cũng có sự tham gia rất lớn về việc tạo ra mức GDP như vậy. Số dân Việt kiều hiện nay có khoảng từ 3,5 đến 4 triệu, hàng năm đang chuyển về Việt Nam khoảng 11 tỷ USD, còn Việt Nam đang đầu tư ở nước ngoài khoảng 17,3 tỷ USD, chiếm 2/3 số lượng xuất khẩu.

Ngoài ra Việt Nam có hình thù lãnh thổ rất thuận lợi cho xuất khẩu. Việt Nam có đường biển rất dài mà lại khá hẹp, do vậy việc vận tải từ cảng vào nội địa là rất gần, chi phí rất ít. Những bến cảng lớn nhất lại được phân bổ khá đều – ngoài bắc có Hà Nội/Hải Phòng, miền trung có Đà Nẵng và trong nam có Sài Gòn, như vậy là cả xuất khẩu và nhập khẩu đều thuận lợi. Việt Nam là một quốc gia đang có thành tích quốc tế, có đội ngũ lao động tay nghề cao mà vẫn đang còn khá rẻ và một hệ thống chính trị bảo đảm được sự yên ổn xã hội. Người Việt, cũng như đa số các xã hội khu vực này, có truyền thống làm ăn tập thể và tự giúp đỡ lẫn nhau, họ đang rất cần có thêm thành tích và họ phản ứng rất nhanh về những thay đổi của thị trường. Vậy chuyện GDP của Việt Nam sẽ cao hơn GDP của Ba Lan sẽ chỉ là vấn đề thời gian.

Việt Nam „xoay gót”

Vài chục năm trước đây Việt Nam cộng sản được coi là đồng minh trung thành của Liên Xô và Trung Quốc. Hiện nay cũng chính Việt Nam này, vẫn do một đảng đó lãnh đạo, đang trở thành đồng minh với các quốc gia mà đã từng gửi lính đến đánh Việt Nam. Việt Nam là một bằng chứng tốt nhất để chứng minh cho việc là sự tăng giá trị của Trung Quốc lại gây ra sự thay đổi các liên minh và có thể sẽ thay đổi thế giới hoàn toàn khác đi, không giống như ở thế kỷ 20 mà chúng ta đã từng biết đến.

Ngô Hoàng Minh dịch

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu