Giáo dục mạnh thì có nhiều người lãnh đạo giỏi, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều kỹ sư, bác sĩ giỏi, nhiều viện, trung tâm nghiên cứu-phát minh, đội ngũ công nhân có chuyên môn cao... Vậy nền giáo dục hiện đại Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới?
Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ thời đại Hồ Chí Minh, Việt Nam nhỏ bé chúng ta mới được cộng đồng thế giới quan tâm nhiều trong những ngày gần đây khi vị giáo sư trẻ, nhà toán học Ngô Bảo Châu nhận Giải thưởng Fields, giải thưởng danh giá nhất dành cho người có cống hiến to lớn cho nền toán học thế giới với công trình khoa học "Bổ đề cơ bản". Hiển nhiên, đây là công trình khoa học sáng lạn nhất của Việt Nam từ trước đến nay đóng góp vào nền khoa học nhân loại.
Đốm lửa nhỏ Ngô Bảo Châu
Nhiều người Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung hẳn sẽ đặt dấu hỏi, vì sao một nước có nền toán học vào chưa cao như Việt Nam lại có sự kiện Ngô Bảo Châu? Là thành quả của nền giáo dục Việt Nam? Người Việt Nam có thể đóng góp nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho nhân loại hơn so với mức khiêm tốn hiện nay ? v.v và v.v...
![]() |
| Giáo sư Ngô Bảo Châu phát biểu tại Hội trường lớn tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình tối 29/8 |
Dù có thể ghi nhận về lòng hiếu học Việt Nam, về nguồn cội gia đình và những người thầy đã nhìn ra và chăm chút, thổi bùng ngọn lửa đam mê học Toán rồi đến với nghiên cứu Toán học của Ngô Bảo Châu..., nhưng cũng phải thừa nhận, Ngô Bảo Châu sẽ không có những thành quả như ngày nay nếu anh không có môi trường làm việc của mình, một môi trường làm việc lý tưởng, tối ưu, phục vụ cho việc nghiên cứu và sáng tạo đến thăng hoa.
Việc có thêm các Ngô Bảo Châu khác trong tương lai hay không là điều khó tiên đoán, nhưng xin được nói thẳng, sẽ không thể có một Ngô Bảo Châu ngày nay nếu anh không làm việc trong môi trường của các nước văn minh, phát triển, và được thực sự tự do học thuật.
Và cũng xót thay, tài năng Việt Nam lại khó phát triển và thăng hoa được ở đất nước mình mà phải ở xứ người. Chúng ta tự hào về anh, có thể tung hô anh nhưng hãy cứ để anh sống trong môi trường nghiên cứu khoa học phù hợp với tài năng của anh, đừng ràng buộc, níu kéo anh ra khỏi môi trường mà anh đã "thích nghi" trong thời gian qua.
"Hệ lụy" giáo dục Việt Nam chưa kết thúc
Thế giới bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của thông tin và tri thức, nhiều nước đã đi vào thời kỳ hậu công nghiệp. Trong môi trường đó, kinh tế, xã hội, tin học phát triển như vũ bão, đòi hỏi con người cần phải tư duy mau lẹ, nhanh nhạy để bắt kịp với sự phát triển của thời đại. Khi thế giới bước sang cấp độ "phẳng" 3.0 (Thế Giới Phẳng-Thomas Friedman), các quốc gia sẽ diễn ra cuộc tranh đấu mới căng thẳng và gây gắt, cuộc chiến đấu thâu tóm chất xám và việc làm.
Những quốc gia nào không có đủ nguồn nhân lực có chất xám sẽ bị các quốc gia khác giành giật việc làm, tài nguyên và sẽ trở thành đội ngũ làm thuê cấp thấp cho các quốc gia khác.
Nước Việt Nam ta đã hưởng được 65 mùa xuân độc lập tự do, 35 năm thống nhất hoà hợp, nền kinh tế đã thay máu, biến da đổi thịt từng ngày. Nhưng nếu nhìn ra thế giới, sẽ thấy qua 30 năm, Nhật Bản từ chỗ đổ nát, hoang tàn vì chiến tranh, với nguồn tài nguyên "sẵn có" là bão tố và động đất, đã vươn lên trở thành một quốc gia hùng mạnh. Singapore từ một làng chài đánh cá nhỏ bé qua một đời Thủ tướng Lý Quang Diệu đã trở thành "hòn ngọc Đông Á" ...
![]() |
| Nhiều sinh viên học chính quy mới ra trường, đào tạo bài bản phải đang chờ việc hoặc đi theo một nghề khác không có chút chuyên môn được đào tạo. Ảnh minh họa |
Các nước đó có được những thành tựu to lớn và diệu kì như thế đều có bệ phóng vững chắc là giáo dục. Giáo dục mạnh thì có nhiều người lãnh đạo giỏi, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều kỹ sư, bác sĩ giỏi, nhiều viện, trung tâm nghiên cứu-phát minh, đội ngũ công nhân có chuyên môn cao...Tất tần tật đều nhờ có giáo dục mạnh. Vậy nền giáo dục hiện đại Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới.
Xã hội nước ta có sự chênh lệnh lớn về 'thầy' và 'thợ'. Vấn đề này được dư luận và Nhà nước đặt ra hơn thập niên rồi, nhưng nó không chỉ 'nguyễn như vân' mà ngày càng có chiều hướng mất cân đối lớn hơn, và không đáp ứng về chất lượng. Người được đào tạo trúng tuyển vào các cơ quan, công ty nhất là công ty có vốn nước ngoài buộc phải đào tạo lại mới tạm gọi là đáp ứng đòi hỏi của công việc.
Số người được đào tạo hiện nay trong các trường ĐH, CĐ dường như không căn cứ vào nhu cầu thực tế. Thay vào đó là kiểu đào tạo đại trà, số lượng đào tạo tuỳ thuộc vào "sở thích" của lãnh đạo trường, miễn sao không có báo chí và cơ quan chức năng lên tiếng là xong, nếu sau này có trục trặc xảy ra thì chuyện đã rồi (!)
Việc Bộ GD cho phép mở quá nhiều trường ĐH ở mỗi tỉnh là điều rất khó hiểu, vì chưa thật sự hợp lý và cần thiết. Số trường mở quá nhiều dẫn đến nhiều hệ luỵ: Trường mở ra đại trà chắc chắn tỉ lệ nghịch với chất lượng đào tạo. Số thí sinh đến đăng ký học theo kiểu xét điểm học bạ các môn có liên quan, nghĩa là không giới hạn số lượng đào tạo, là một điều chưa từng thấy trong một nền giáo dục nào trên thế giới.
Nhiều trường cao đẳng, kể cả cao đẳng y tế lấy điểm vào trường ở nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 chỉ 6 hoặc 7 điểm, tính bình quân mỗi môn không quá 2.5 điểm (xếp vào loại học lực kém) thì đội ngũ này ra trường sẽ làm gì trong xã hội đây và xã hội này sẽ tiến lên theo kiểu nào?
Chất lượng giảng dạy và đội ngũ giảng viên, giáo viên hiện có nhiều vấn đề. Nhiều giáo viên vào ngành cách đây 25 đến 30 năm, phần nhiều là những người không đạt chuẩn, họ học hệ 9 +3, bất kể điểm thi thấp đến tận cùng (1, 2 điểm cũng đỗ). Đây là đội ngũ giáo viên sắp đến tuổi về hưu, nên giải quyết chế độ về hưu cho đối tượng này.
Trái lại, nhiều sinh viên học chính quy mới ra trường, họ trẻ, đào tạo bài bản phải đang chờ việc hoặc đi theo một nghề khác không có chút chuyên môn được đào tạo. Chất xám, tiền của bị lãng phí một cách không thương tiếc, nhưng nhiều người trong só họ vẫn phải chạy ngược chạy xuôi mà không kiếm được việc làm. Sao không thay dòng máu đã già nua bằng dòng máu nóng và trẻ hơn, năng động hơn?
Ở cấp độ giảng viên, có quá nhiều trường dừng lại ở mức trình độ đại học "dạy" đại học- kiểu "cơm chấm cơm", một hiện tượng phổ biến của các trường ĐH cách đây mấy chục năm, đến giờ vẫn chưa thoát khỏi. Giảng viên chưa có chuyên môn sâu, cách nói, dùng từ, đặt câu còn chưa chính xác, chưa nói đến chất lượng các bản báo cáo khoa hoc, luận văn, luận án.
Chuyện bằng cấp giả từ chứng chỉ, bằng sơ cấp cho đến luận án tiến sĩ được báo chí và công an thanh tra báo cáo trong thời gian qua đã làm dấy lên vấn đề về "văn hoá bằng cấp" ở nước ta. "Mốt" bằng cấp là một thực trạng chua xót. Một ví dụ, theo yêu cầu của các cơ quan tuyển dụng cả công và tư, mọi đối tượng khi nạp hồ sơ xét tuyển, ngoài bằng cấp chuyên môn, phải có ngoại ngữ ít nhất là chứng chỉ B tiếng Anh.
Nhưng một bộ phận là giáo viên mần non và các cán bộ chính quyền cấp cơ sở, họ có bao giờ dùng tiếng Anh đâu mà đòi chứng chỉ? Nước ta có hàng vạn giáo viên mần non và cán bộ cấp cơ sở, có bao nhiêu trong số hàng vạn người học tiếng Anh để lấy bằng? Xin thưa, có lẽ cũng nhiều như "sao buổi sớm". Nhưng vì đâu mà ai cũng có chứng chỉ thì... biết rồi, còn hỏi mãi!
![]() |
| "Mốt" bằng cấp là một thực trạng chua xót. |
Vậy muốn có được một hệ thống giáo dục lành mạnh, vấn đề bằng giả dứt khoát phải loại trừ. Đội ngũ các chuyên gia đầu ngành vào loại 'cây đa', 'cây để' quá khiêm tốn nhưng lại phải gánh vác vai trò là những chiếc máy cái, đào tạo hàng nghìn tiến sĩ cho đất nước. Mối lo về chất lượng đội ngũ giáo viên chưa dứt thì đến vấn đề to tát hơn về chất lượng cũng như số lượng của học vị. Từ thời Pháp thuộc cho đến nay ngót hơn thế kỉ chỉ đào tạo được có hơn 10.000 tiến sĩ, làm sao trong vòng 20 năm tới lai phải có thêm cho bằng được 23.000 tiến sĩ đây?
Việt Nam thiếu một môi trường phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu chuyên sâu mang tầm khu vực và Á châu. Chính vì thiếu nhân tố này, chất lượng giáo dục sẽ không thể như mong muốn, không đào tạo được những con người vừa giỏi lý luận lại vừa thông thạo thực tiễn. Khoa học kỹ thuật không thể thu hút được chất xám của ta ở nước ngoài và của nước ngoài đến nước ta.
Ngày trước, Cụ Hồ nói "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Lúc ấy đất nước chiến tranh nhưng chúng ta vẫn đào tạo, thu hút được rất nhiều người giỏi như Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Đại Nghĩa, bộ tứ "Lâm-Lê-Tấn- Vượng", Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn... Ngày nay đất nước thống nhất, hoà hợp, yên bình, sự nghiệp trồng người càng phải được chăm lo. "Hào kiệt" nước ta bao giờ chẳng có và là một bộ phận không thể tách rời với quá trình dựng nước và giữ nước. Nhưng điều quan trọng là phải tạo môi trường và không gian để những "hào kiệt" đó xuất hiện.
Phan Ngọc Uy (Tuần Việt Nam)


