Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Đà Nẵng đã nhầm lẫn về vai trò của mình

15/12/2010 11 phút đọc
Xung quanh quyết định gây tranh cãi của UBND TP. Đà Nẵng về việc không nhận sinh viên tốt nghiệp hệ đào tạo tại chức
Đà Nẵng đã nhầm lẫn về vai trò của mình
Xung quanh quyết định gây tranh cãi của UBND TP. Đà Nẵng về việc không nhận sinh viên tốt nghiệp hệ đào tạo tại chức vào các cơ quan nhà nước, VTC News đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

 GS.TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

- Thưa ông, chúng ta có thể hiểu quyết định không nhận sinh viên tại chức vào các cơ quan nhà nước của UBND TP.Đà Nẵng là như thế nào?

Trước hết, cần phải làm rõ UBND TP.Đà Nẵng ra quyết định đó với tư cách gì. Là một cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương nên quyết định của UBND TP.Đà Nẵng là một mệnh lệnh hành chính với các cơ quan quản lý Nhà nước thuộc thẩm quyền.

UBND TP.Đà Nẵng đã nhầm lẫn về vai trò của mình. Nếu là cơ quan trực tiếp sử dụng lao động thì có quyền ra quyết định để tuyển dụng được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhưng ra một quyết định mang tính chất quản lý Nhà nước thì hoàn toàn không phù hợp với tư cách của họ.

- Trong quyết định của UBND TP.Đà Nẵng có điều gì chưa hợp lý, thưa ông?


Ngay ở Đà Nẵng, UBND TP.Đà Nẵng đang là chủ quản của một số chương trình đào tạo tại chức. Như vậy nếu là cách làm nhất quán thì UBND TP.Đà Nẵng phải không cho phép các cơ sở đó đào tạo tại chức. Như vậy chứng tỏ TP.Đà Nẵng vẫn cho đào tạo nhưng lại không công nhận thì đó là sự mâu thuẫn. Nếu lý giải bằng cách nói hệ tại chức sẽ có các cơ quan ngoài nhà nước tuyển dụng thì cũng không phải là hợp lý bởi ở nhà nước chắc gì đã hấp dẫn hơn so với bên ngoài.

Kinh nghiệm của tôi khi làm việc ở ĐHQGHN đã chỉ ra rằng, nhiều em có trình độ giỏi khi được giữ lại làm giảng viên thì đã không ở lại, các em đó ra ngoài làm việc vì có môi trường làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn.

Vì vậy, không phải là cứ ở cơ quan nhà nước thì là những người giỏi nhất. Nếu chúng ta không sử dụng người có khả năng của hệ tại chức thì rất có thể chúng ta cũng không thể tìm ra được người tài, thậm chí có khi đó chỉ là những người có trình độ “làng nhàng” của hệ chính quy.

- Sau quyết định của Đà Nẵng liệu có tạo nên hiệu ứng dây chuyền khi các tỉnh khác cũng học tập theo quyết định này?

Theo tôi không thể có chuyện đó được. Bởi văn bản quy định như vậy vừa chưa có sự cân nhắc thận trọng về mặt thực tiễn, cơ sở khoa học cũng chưa đầy đủ, thậm chí cơ sở pháp lý còn đang tranh cãi. Việc xem xét văn bản đó có trái với các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước hay không các Bộ liên quan cũng đang xem xét. Thậm chí khi tôi đọc ở trên báo chí, thì người đại diện chính quyền ở Đà Nẵng cũng vẫn chưa khẳng định được nó có hoàn toàn đúng hay không? Một khi anh đã ra văn bản anh phải yên tâm hoàn toàn về tính chất pháp lý của văn bản đó.

Qua sự việc vừa rồi, nhiều tỉnh cũng có những ý kiến trái chiều khác nhau. Tuy nhiên các tỉnh cũng cần phải nghe ngóng đến dư luận xã hội để có những quyết định cân nhắc có nên áp dụng như thế hay không. Tôi tin quyết định này sẽ không làm ảnh hưởng đến các tỉnh khác và bản thân TP.Đà Nẵng sẽ cũng phải có những thay đổi cho phù hợp hơn với thực tiễn.

- Các nước trên thế giới thường tuyển công chức như thế nào, thưa ông?


Ở nước ngoài người ta không trọng về bằng cấp, khi tuyển viên chức người ta sẽ tuyển bằng cách phỏng vấn, yếu tố bằng cấp này hay bằng cấp kia chỉ là điều kiện để xem xét. Nhưng cuối cũng người tuyển dụng phải trực tiếp trao đổi với những nhân sự ứng tuyển. Tuyển dụng không thể mang tính chất làm cả gói được mà phải mang tính chất cá nhân. Tức là anh cần tuyển vào một vị trí nào thì sẽ cần tìm được người có đầy đủ các điều kiện phù hợp với vị trí đó. Và ở đó thì người lãnh đạo đơn vị sẽ chính là người trực tiếp tham gia tuyển dụng. Chỉ có ở Việt Nam là thậm chí người trúng tuyển cũng không biết mặt của lãnh đạo mình.

 GS.TSKH Đào Trọng Thi.

- Hiện nay, dư luận mặc định rằng chất lượng tại chức là không tốt, và coi đó như một thứ “con ghẻ”. Quan niệm như vậy phải chăng là không công bằng với hệ tại chức?


Bản thân của mô hình tại chức nếu được thực hiện nghiêm túc thì đó là một mô hình tốt bởi vì nhu cầu được học sau khi đi làm là rất nhiều. Nếu trong quá trình đầu vào, quá trình học tập và đầu ra nếu thực hiện nghiêm túc thì chất lượng tại chức cũng như chính quy. Vì vậy theo quy định của Luật Giáo dục Việt Nam không có sự phân biệt nào giữa bằng tại chức và chính quy. Giá trị của bằng tại chức tương đương với bằng chính quy vì yêu cầu và đòi hỏi là như nhau.

Tuy nhiên trên thực tế rõ ràng hệ đào tạo tại chức ở nước ta hiện nay còn quản lý rất lỏng lẻo, từ khâu tuyển chọn đầu vào đã không có chất lượng, quá trình đào tạo không thực chất, quá trình kiểm tra đánh giá cũng hời hợt. Vì vậy dẫn tới việc đầu ra có chất lượng không tốt. Tôi phải khẳng định rằng trên thực thế chất lượng của hệ đào tạo tại chức thua xa đối với hệ đào tạo chính quy.

Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần phân biệt hai vấn đề hoàn toàn khác nhau đó là chất lượng của một hệ đào tạo thì khác so với chất lượng của từng sản phẩm cụ thể. Chất lượng của một nhân sự được đào tạo cụ thể chỉ mang tính cá nhân. Ví dụ cùng một hệ tại chức cũng có người giỏi người kém, cùng một hệ chính quy cũng có người giỏi người kém. Khi chúng ta tuyển người cho đơn vị mình thì chúng ta đâu đánh giá hệ đào tạo ấy, mà chúng ta phải đánh giá một cá nhân được đào tạo cụ thể. Như vậy tại chức hay chính quy nếu cứ là người giỏi thì sẽ được sử dụng. Vì vậy, quan điểm coi tại chức là một đứa “con ghẻ” thì không công bằng với hệ đào tạo này.

- Nhiều người cho rằng, chất lượng tại chức thấp là do không ít người học chủ yếu là học bằng tiền, còn người thầy cũng vì thế mà dạy cho qua quýt cho xong chuyện?


Hệ tại chức của chúng ta hiện nay đã bị biến tướng và thay đổi trong nhiều vấn đề. Hệ tại chức mở ra để cho những người đã đi làm nhưng vẫn có nhu cầu được học tập để nâng cao trình độ. Tuy nhiên, hiện nay có một bộ phận không nhỏ các em học sinh sau khi thi trượt ĐH thì đã ở nhà một vài năm để sau đó thi vào hệ tại chức vì đầu vào quá dễ.

Trong khâu quản lý, kiểm tra, đánh giá thường rất lỏng lẻo thậm chí có cả tiêu cực trong đó. Việc trò đi tiền thầy, thầy nhận tiền để làm sai lệch kết quả thì trong thực tế vẫn có. Chính điều đó khiến chất lượng tại chức rất thấp.

- Nhiều ý kiến cho rằng, khi không thể đáp ứng được yêu cầu về chất lượng thì chúng ta nên bỏ loại hình đào tạo tại chức. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Tôi không dám tin tưởng vào chất lượng tại chức hiện nay nhưng điều đó không có nghĩa là không tin vào mô hình này. Bản chất của vấn đề đã bị lạm dụng, bóp méo, việc thực hiện cũng không nghiêm túc, chính xác.

- Như vậy phải chăng trách nhiệm của Bộ GD&ĐT ở đây là đã buông lỏng quản lý?

Rõ ràng ở đây là trách nhiệm của Bộ GD&ĐT khi buông lỏng quản lý từ khâu tuyển chọn đầu vào, quá trình đào tạo và cả ở chất lượng đầu ra.

- Thưa ông, số lượng sinh viên tại chức hiện nay là khoảng bao nhiêu? Theo đánh giá của ông, số lượng sinh viên như vậy có lớn hay không?

Hệ đào tạo tại chức chỉ là một trong các loại hình đào tạo không chính quy. Hiện nay hệ đào tạo này có số lượng ngang với sinh viên chính quy. So với điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo thì số lượng như vậy là quá lớn. Ở ĐHQGHN, chủ trương tiến tới đào tạo tại chức chỉ còn 15% so với chính quy. Ở một số trường ngoại ngữ thì tại chức còn nhiều hơn chính quy.

Gần đây Bộ GD&ĐT đã có quy định tới các trường là số lượng sinh viên tại chức không được vượt quá sinh viên chính quy dẫn tới các trường vẫn lấy số lượng sinh viên tại chức xấp xỉ chính quy vì vẫn nằm trong quy định. Theo tôi số lượng này cần phải hạn chế hơn nữa.

- Nếu chúng ta hạn chế loại hình đào tạo này thì mặc nhiên trái với chủ trương khuyến khích học tập suốt đời của Đảng và Nhà nước và ở nhiều nước trên thế giới người ta vẫn khuyến khích học tập suốt đời, thưa ông?

Ở các nước tiên tiến trên thế giới, người học có thể học dưới mọi hình thức miễn là đảm bảo chất lượng đầu ra. Nếu đạt chuẩn chất lượng đầu ra thì người học mới được cấp bằng. Ở các nước đó từ lâu người ta đã đào tạo theo tín chỉ nên ranh giới giữa chính quy và tại chức dường như là không còn. Những người có điều kiện học tập thường xuyên sẽ có điều kiện tích lũy số lượng tín chỉ quy định nhanh hơn, ra trường sớm hơn. Mặt khác những người không có điều kiện thì có thể tích lũy đủ số lượng tín chỉ quy định nhưng sẽ mất nhiều thời gian hơn. Học theo tín chỉ sẽ có lớp môn học, trong đó có cả người học chính quy và người học tại chức.

Việc hạn chế số lượng sinh viên tại chức là không trái với quy định của Nhà nước vì mặc dù chủ trương là tạo mọi điều kiện học tập suốt đời cho người dân nhưng phải phù hợp với điều kiện đảm bảo chất lượng ở ta. Lượng cơ sở vật chất chỉ có như vậy, số lượng giảng viên ít mà lại chủ yếu phục vụ chính quy nên không thể đủ phục vụ số lượng tại chức lớn như hiện nay. Thậm chí ngay cả bản thân hệ chính quy thì tỉ lệ sinh viên/giảng viên đã cao hơn tiêu chuẩn cho phép vì vậy không thể gánh thêm số lượng tại chức lớn như vậy. Ta không mở cửa đào tạo nếu ta không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo. Nếu cứ cố đào tạo sẽ tạo ra một lớp người không có trình độ. Như vậy thậm chí còn có hại cho xã hội hơn và việc không đào tạo.

Xin cảm ơn ông!

Phạm Thịnh thực hiện (VTC News)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu