Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Con đường đưa tôi đến với đạo Phật

11/04/2012 15 phút đọc BBT
Kỳ I: Ký ức tuổi thơTôi sinh ra và lớn lên ở Hải phòng, nhà ở phố Trại Cau cũ (nay là Tô Hiệu), gần ngã tư Chợ
Con đường đưa tôi đến với đạo Phật

 Kỳ I: Ký ức tuổi thơTôi sinh ra và lớn lên ở Hải phòng, nhà ở phố Trại Cau cũ (nay là Tô Hiệu), gần ngã tư Chợ Cột đèn-một con đường ranh giới giữa nội đô và vùng ngoại thành. Trong ký ức tuổi thơ, tôi còn nhớ lúc mới 7 tuổi tôi đã được Bà ngoại và Mẹ dẫn đến chùa. Bà ngoại tôi rất mộ Phật. Quê bà ở làng Hành Thiện Nam Định, nơi có truyền thống trồng dâu nuôi tằm và ươm tơ dệt vải. Bà nói có lẽ vì thế mẹ bà đặt tên bà là Thiện. Bà đã có một phần tuổi thanh xuân gắn bó với làng nghề mình trước khi về với ông ngoại tôi. Tuy không biết chữ nhưng truyện Kiều thì Bà thuộc lòng cùng rất nhiều ca dao tục ngữ xưa. Lúc rỗi rãi quanh quẩn bên Bà, Bà hay nhờ tôi giúp „bói Kiều”. Bà thường chắp hai tay ép quyển Kiều vào giữa rồi lẩm nhẩm khấn, sau đó mở bất kỳ một trang. Bà nói Bà chọn trang bên trái (hoặc phải) và dòng thứ bao nhiêu, tôi chỉ việc đọc lên câu ở dòng đó là Bà đã nói tiếp được những câu sau không sai một chữ. Từ những câu Kiều ấy bà lại có lời bình cho quẻ bói của mình mà nhiều khi tôi chẳng hiểu gì cả. Bà hay kể cho tôi nghe về một thế giới Tây phương cực lạc của Đức Phật A Di đà, mô tả cho tôi cảnh Địa ngục với Diêm vương quỷ sứ và vạc dầu. Bà nói Phật dạy ai ở hiền sẽ gặp lành, sau này chết đi sẽ được về cõi Cực lạc, sẽ sung sướng; còn ai làm ác sẽ bị đầy xuống Địa ngục, bị quỷ sứ hành tội. Những câu chuyện của Bà luôn kích thích trí tưởng tượng trong cái đầu non nớt của tôi và để lại những ấn tượng đậm trong tôi từ ngày ấy.

Gần nhà tôi khoảng vài trăm mét có một ngôi chùa tên là chùa Vẻn, còn gọi là chùa An Biên. Làng An Biên khi xưa (tôi cũng chẳng biết chính xác ở đâu) là địa danh xuất xứ của Nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng chống quân Nam Hán. Vì Đền Nghè thờ Bà Lê Chân và chùa An Biên là những di tích lịch sử quanh khu tôi ở nên sau ngày tiếp quản Hải phòng từ tay quân đội Pháp, vùng tôi cư ngụ, dưới chính quyền mới đã được đặt tên là quận Lê Chân.

Tuy thế, ngôi chùa nhiều kỷ niệm tuổi thơ với tôi lại là chùa Dư Hàng. Đi từ nhà tôi, qua đường cái theo một con đường làng có nhiều ao, ruộng lúa và lũy tre đến đó khoảng hơn 2 km. Thời đó từ khá xa đã nhìn thấy cổng chùa, đôi lúc còn nghe cả tiếng chuông chùa vọng lại. Chùa nằm trên một khuôn viên rộng rãi thoáng mát. Bên trái cổng tam quan là khu vườn cây ăn quả rất rộng, rào thưa. Trong vườn trồng nhiều nhãn và vải chiết cành, cây tuy thấp mà đến mùa thì xum xuê trĩu quả. Qua khỏi Tam quan, phía bên phải là một ao tròn xây kè đá, có bậc thang xuống nước. Ao sâu, nước trong và có khá nhiều cá. Trên bờ là những cây bưởi, cây khế. Vào mùa hoa, cả không gian nức mùi hoa bưởi.

chùa Dư Hàng, quận Lê Chân, Hải phòng

Sở dĩ tôi nhớ không gian vườn và ao chùa cũng là vì lớn lên đôi chút, vào những năm đầu học cấp II, tôi đã từng theo bạn bè, nghịch tinh, chui rào hái trộm vải và câu trộm cá ở ao chùa. Trong chùa có nuôi chó dữ, lắm hôm chó đuổi chạy toát mồ hôi, mất cả dép. Thường chúng tôi đi học vào buổi sáng, còn buổi chiều cùng  bạn bè hay trốn nhà rủ nhau vào làng chơi. Hôm thì đi câu cá, bắt chim; hôm thì đi hái sen, trộm quả. Mùa hè còn rủ nhau lội ruộng lượm đòng đòng lúa nếp, móc cua. Có hôm móc vào hang chuột, bị cắn, máu chảy lẫn cả với bùn mà vẫn không sao. Thật chẳng hề ngoa câu ví „Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”.

Trong cuốn album cũ của đại gia đình nhà tôi có một tấm ảnh mà mỗi khi mở ra tôi hay ngắm lại. Đó là tấm ảnh đen trắng có hình mẹ tôi và anh em tôi chụp trong sân chùa Dư Hàng, cạnh mấy bụi mẫu đơn. Khi ấy vào năm 1952 (năm Nhâm Thìn) bà nội tôi qua đời. Sau đám tang, mẹ tôi đã thay mặt gia đình liên hệ với nhà chùa tổ chức cúng 49 ngày cho bà ở chùa. Ngày ấy, một mình, tôi không dám bước vào các khu điện thờ vì cảm giác sờ sợ trước các pho tượng im lìm trong không gian mờ ảo đầy hương khói, nhất là tượng mấy ông Hộ pháp. Các ông cao lớn, mặc võ phục, cắp gươm hoặc vác thanh long đao to tướng, mặt mũi thật dữ, làm sao mà trẻ con không sợ được! Mãi sau này, từ các Thầy tôi mới hiểu được các pho tượng chỉ là biểu tượng tâm linh. Trong thực tế, „Hộ Pháp” chính là ngôn từ chỉ những con người và hành vi của họ nhằm bảo vệ sự trường tồn của Đạo Phật. Ví như ai đó phát tâm cúng tiền tài để xây chùa, tạc tượng, đúc chuông; hoặc ai đó phát tâm cúng dường nuôi dưỡng các vị xuất gia; hoặc ai đó phát tâm ấn tống kinh sách nhà Phật để truyền bá Chánh Pháp họ đều được coi là Hộ Pháp.

Với tôi còn có những cảm nhận từ khi đó còn mãi đến ngày hôm nay. Đó là ở trong chùa từ sư Cụ, sư Thầy, sư Bác đến các chú Tiểu ai nấy đều hiền như đất và ít nói, còn khi nói thì nhẹ nhàng như gió thoảng.

Đặc biệt là câu cửa miệng mỗi khi gặp ai trong chùa: „Adi đà Phật” hoặc „Mô Phật” mà mẹ tôi giải thích đó là lời chào của những người nhà Phật khi gặp nhau.

Năm 1954, một năm trước khi quân đội Pháp bàn giao Hải phòng cho bộ đội Cụ Hồ thì ông ngoại tôi mất. Bà ngoại và mẹ tôi cũng lại lo tang lễ và cúng ông ở chùa Dư Hàng. Một thời gian sau, cả hai bên nội và ngoại cùng lo xây mộ cho bà nội và ông ngoại tôi ở nghĩa trang của chùa. Có điều đặc biệt là trong khu nghĩa trang, muốn tìm ra mộ hai cụ chỉ cần nhắm đến một ngôi tháp cũ kỹ, cao hơn tất cả các ngôi mộ khác, có lẽ là mộ của một vị sư nào đó ở chùa nhưng không nằm ở khu riêng. Mộ của bà nội tôi đặt ở bên trái còn mộ của ông ngoại tôi đặt ở bên phải của ngôi tháp đó.

Trong các ông bà của tôi thì bà ngoại là người tôi được gần gũi nhiều nhất và trong số bảy anh em tôi thì bà cũng quý tôi hơn cả. Tôi có nhiều kỉ niệm về bà không thể nào quên. Lúc bé là vậy, lớn lên đôi chút tôi không thể ngờ được rằng bà cháu tôi lại cùng đứng trên một trận tuyến diệt dốt dưới chế độ Việt nam dân chủ cộng hòa. Vào những năm 1956-1957 tôi vào học cấp II, tôi tham gia dạy Bình dân học vụ lớp buổi tối thì bà tôi cũng tích cực làm một học viên Bình dân học vụ để hưởng ứng phong trào xóa nạn mù chữ cho toàn dân. Bà chăm học nên biết đọc nhanh và chữ viết cũng khá đẹp. Khi tôi vào đại học, bà tôi đã góp sức cùng nhà nước nuôi tôi ăn học cho đến khi tốt nghiệp (học bổng nhà nước 50%, học bổng của bà 50%). Năm 1969, lúc tôi cưới vợ ở Hà nội, bà cũng từ Hải phòng lên dự mặc dù khi đó bom đạn giặc Mỹ bắn phá ác liệt. Bà còn đến tận nơi sơ tán của vợ chồng tôi, ở với chúng tôi 1 tuần, nấu cho chúng tôi ăn những món thật ngon của bà. Thế rồi tôi được đi tu nghiệp ở nước ngoài 4 năm. Năm 1982, sau khi tôi về nước hơn một năm, bà tôi qua đời ở tuổi 82 vì già yếu.

Thời gian trôi đi không chờ một ai. Bà ngoại cũng như mẹ tôi nay đã không còn nữa. Bây giờ, mỗi dịp về thăm lại thành phố Cảng, tôi bao giờ cũng về chùa Dư Hàng, nơi tôi có những kỉ niệm tuổi thơ, nơi bà nội và ông ngoại tôi nằm đó. Tôi cũng không thể không đến chùa Đồng Thiện, thăm mộ, thắp hương cho bà ngoại và mẹ tôi nằm cạnh nhau ở nghĩa trang chùa.

Nhớ đến bà ngoại, tôi chỉ còn biết chắp tay cầu cho bà luôn được an vui ở cõi Tây phương cực lạc xa xăm của Đức Phật A Di đà mà năm xưa bà đã từng kể cho thằng cháu ngoại mình nghe.

(còn nữa)

Viên Đức-Hà Minh Hiểnqueviet.pl

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu