
Liên Xô sụp đổ - thế giới bị đảo lộn
Đối với Vladimir Putin, người đã và có thể sẽ lại là Tổng thống Nga, sự tan rã của Liên bang Xôviết - hai năm sau khi Bức tường Béclin sụp đổ - là “thảm họa địa chính trị lớn nhất” trong thế kỷ 20. Nó gây ra một cú sốc trên quy mô toàn cầu. Những người Nga sống trong giai đoạn lạm phát đáng sợ và khó khăn tiền tệ trong những năm đầu hậu Xôviết đã phải trả một cái giá quá đắt. Mặc dù vậy, ít người ở ngoài nước Nga hối tiếc về sự ra đi của đế chế cuối cùng của thế kỷ.
Thậm chí với người Nga tình hình còn tồi tệ hơn. Thế kỷ 20 đem đến Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, những người Bônsêvích lên nắm quyền, tiếp theo là nạn đói giết hại hàng triệu người dưới thời Stalin. Trái lại, sự chấm dứt của Chiến tranh Lạnh hầu như không khủng khiếp đến vậy. Cuộc chạy đua hạt nhân sau năm 1945 giữa Liên Xô và phương Tây tạo ra một tình trạng ổn định nguy hiểm, nhưng cũng tạo ra những cuộc chiến tranh từ Triều Tiên và Việt Nam tới Ănggôla, Trung Mỹ và Ápganixtan – một sự tiếp nối của Chiến tranh Lạnh với các phương tiện đẫm máu hơn nhiều. Trên thực tế, sự sụp đổ của Liên Xô không được thương tiếc ở ngoài nước Nga, trừ những người từng dựa vào nó để giành giật và duy trì quyền lực. Tại sao mọi chuyện lại kết thúc nhanh như vậy? Và làm thế nào nó có thể thay đổi một thế giới đã được hình thành suốt 4 thập kỷ thống trị và cạnh tranh giữa các cường quốc?
Nhiều người cho rằng giấc mơ “chiến tranh giữa các vì sao” với việc xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa của Ronald Reagan đã gây ra sự sụp đổ của khối Xôviết: Công nghệ tiên tiến đã đe dọa Cremli bằng một cuộc chạy đua vũ khí mới mà họ không có khả năng đáp ứng. Dù vậy Liên Xô vẫn có thể áp đảo hệ thống phòng thủ đó đơn giản bằng cách cho ra đời thật nhiều tên lửa. Đó là lý do tại sao hệ thống phòng thủ của Mỹ không bao giờ được xây dựng. Nhưng dù thế nào thì chính Liên Xô đã thua trong cuộc Chiến tranh Lạnh, thay vì Mỹ chiến thắng.
Ngoài sức mạnh quân sự, các yếu tố khác tạo nên sức mạnh của Liên Xô đã bị xói mòn trong nhiều năm. Nền sản xuất kế hoạch hóa tập trung có thể tạo ra hàng tấn sắt thép và xi măng, hoặc xe tăng và tên lửa. Nhưng nó cũng khiến các nhà máy cho ra lò những sản phẩm không ai muốn, trong khi các cửa hiệu thì trống trơn các mặt hàng cần thiết như thực phẩm và tủ lạnh. Giá trị thâm hụt – trong đó sản phẩm được làm ra ít có giá trị thực tế thấp hơn so với vật liệu được dùng để sản xuất chúng – không thể tiếp diễn mãi. Trong khi đó, nền kinh tế ngầm do tội phạm lũng đoạn, được tạo ra bởi tình trạng cầu vượt quá cung, có giá trị chiếm tới 30% (thậm chí hơn) trong nền kinh tế thực.
Ngay cả khi nếu “Bức tường Béclin” không sụp đổ, và dưới thời cải tổ của Mikhail Gorbachov, kinh tế Liên Xô cũng sẽ vẫn rất khó khăn (đến nay Nga vẫn vậy) để tiếp nhận một kỷ nguyên thông tin với những con chíp điện tử. Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) – khối thương mại được hình thành với sự tham gia của Liên Xô, bảy nước Đông Âu, Mông Cổ, Cuba và Việt Nam - cũng chỉ hoạt động được dưới sự trợ giúp khổng lồ của Liên Xô và với các đồng tiền không có giá trị. Sự vươn vòi đế quốc - tài trợ cho các phong trào du kích ở châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh và ủng hộ cho các thể chế kiệt quệ và không được ưa thích ở Ănggôla tới Ápganixtan – càng làm tình hình thêm khó khăn.
Các đế chế thuộc địa sụp đổ trong thời gian gần đây, như Anh, Hà Lan, Pháp, đã để lại đôi chút dấu ấn mà người dân địa phương phải thán phục một cách miễn cưỡng: Phương thức quản lý, hệ thống pháp luật, và thậm chí cả ngôn ngữ. Nhưng với Xôviết thì không. Dấu ấn của nó nhanh chóng biến mất ở các nước Đông Âu tìm kiếm tự do và thị trường mở cửa. Tuy nhiên, khối Xôviết đã tạo ra một kiểu mẫu về trật tự thế giới dựa trên sự cạnh tranh giữa Liên Xô và Mỹ, và một phần dựa trên một cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng với một Trung Quốc đang trỗi dậy trong cộng đồng Xã hội chủ nghĩa và thế giới không liên kết. Và khi Liên Xô bỏ mặc cả hai mặt trận này, mọi ngóc ngách trên thế giới đều có sự thay đổi.
Đầu tiên phải kể đến các thể chế ủng hộ khối Xôviết, đặc biệt là Cuba và Việt Nam . Họ đã bị một cú sốc kinh tế nghiêm trọng do chế độ “giá cả hữu nghị” và trợ cấp nguyên vật liệu thô đầu tiên giảm mạnh, sau đó biến mất nhanh chóng. Quan hệ thương mại sụp đổ. Không còn bán được đường, niken và cam với mức giá bị nâng cao, hoặc nhập khẩu dầu thô giá rẻ từ Liên Xô , Cuba rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Đến giữa thập niên 1990, nền kinh tế này bị giảm 1/3. Vì vậy, Cuba buộc phải ngừng sự ủng hộ đối với thể chế Sandinista ở Nicaragoa và phải chứng kiến sự tan rã đồng loạt của các phong trào cánh tả khác ở Trung Mỹ. Nguồn tài trợ cho các phong trào Mácxít ở châu Mỹ bị cắt bỏ.
Châu Phi cũng không thoát được cơn địa chấn. Các lực lượng quân sự của Cuba được rút khỏi Êtiôpia năm 1989 và Ănggôla hai năm sau đó. Trước đó, họ được gửi đến các nước này bằng đường biển và hàng không theo kế hoạch của các nhà lãnh đạo Xôviết để giúp các thể chế Mácxít nắm giữ quyền lực. Mối đe dọa cộng sản sụp đổ trên khắp miền Nam châu Phi khi cuộc chiến ở Môdămbích chấm dứt. Không còn coi Nelson Mandela là mối đe dọa đối với nền chính trị Nam Phi, thể chế cầm quyền chỉ bao gồm những người da trắng đã giải phóng ông khỏi nhà tù, tổng kết chế độ xã hội chủ nghĩa ở châu Phi. Sau đó chính quyền cho phép bầu cử tự do và việc này đã thổi bay chế độ phân biệt chủng tộc Apácthai.
Nếu như châu Phi giành được quá nhiều sự quan tâm của các nước lớn trong những năm 1980, thì sau khi Liên Xô sụp đổ, nó lại nhận được quá ít. Khi cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng kết thúc, thế giới đã không đoái hoài đến khu vực này, khi mà Ruanđa bị nhấn chìm trong một cuộc diệt chủng và Cônggô sa vào cuộc nội chiến bất tận. Vì vậy, đã xuất hiện một cuộc tranh cãi về việc ai nên gìn giữ hòa bình khi không có ai gìn giữ hòa bình ở châu Phi.
Châu Á cũng vậy, cuộc chiến tranh ủy nhiệm đã kết thúc, nhưng quá trình tan rã của Chiến tranh Lạnh vẫn tạo ra những thay đổi lớn. Một trong những kẻ thua cuộc là Bắc Triều Tiên. Nhằm tìm kiếm một đồng tiền mạnh thông qua việc bán dầu mỏ và vũ khí, Nga đã thiết lập mối quan hệ mới với một Hàn Quốc thịnh vượng ngay trước khi Liên Xô sụp đổ. Trung Quốc thực dụng ngay lập tức theo chân. Tại Việt Nam , mất sự ủng hộ của Liên Xô đã buộc nước này phải tìm đến cải cách kinh tế và tăng cường quan hệ với các láng giềng – và sau đó là với cả cựu thù Mỹ.
Ấn Độ từng phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô về vũ khí và sự ủng hộ chính trị nhằm chống lại Trung Quốc và Pakixtan. Mỹ và Trung Quốc (Trung Quốc từng có một cuộc chiến tranh biên giới nảy lửa với Ấn Độ) đều có quan hệ gần gũi với Pakixtan. Dù phải mất thời gian dài đau đớn, Ấn Độ cuối cùng đã mở cửa cho đầu tư phương Tây, sau đó cải thiện quan hệ với Mỹ - một đối trọng cần thiết để chống lại một Trung Quốc đang trỗi dậy trong khi ảnh hưởng và sự hào phóng của Nga mất dần.
Trong khi đó, Đông Nam Á phải tìm cách duy trì thế cân bằng 5 xung lực, với một Trung Quốc đang lên, một nước Nga yếu đi, một nước Mỹ bận tâm cho chuyện khác, một Hàn Quốc đầy tham vọng và một Nhật Bản chưa rõ ý đồ. Dù có quan hệ thương mại khá vững, Đông Nam Á giờ đây vẫn đang phải loay hoay với việc này.
Ở Trung Đông - bãi chiến trường của các siêu cường – những chuyến hàng vũ khí của Nga bán cho Xyri, Irắc và một số nước khác đã không thể giúp đẩy nhanh tiến trình hòa bình giữa thế giới Arập và Ixraen. Giờ đây nơi này đã thuộc về Mỹ: Năm 1991 không chỉ chứng kiến sự thành công của liên minh do Mỹ dẫn đầu trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, mà còn là sự khởi đầu của các cuộc đàm phán hòa bình nghiêm túc. Ngay cả nhà lãnh đạo Palextin Yasser Arafat đã thừa nhận rằng không có lựa chọn nào khác là phải chấp nhận vai trò trung gian của Mỹ, cho dù Xyri, Irắc và Iran phản đối. Nhưng cuối cùng, Arafat cũng không đạt được một thỏa thuận. Sự thất vọng và sau đó là vụ tấn công khủng bố năm 2001 ở Niu Yoóc và Oasinhtơn đã kéo Mỹ trở lại, và thế giới lại bị đảo lộn lần nữa.
Liệu có phải một thế giới đơn cực như người ta vẫn nói, khi Mỹ một mình độc chiếm cả thế giới, đã xuất hiện? Đối với các chính quyền kế nhiệm của Mỹ trong thập niên 1990, các tiến trình giải quyết vấn đề Xômali, Ruanđa, vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, sự chia rẽ của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với vấn đề thanh sát hạt nhân ở Irắc, mạng lưới khủng bố al-Qaeda lan rộng và sự nổi lên của Trung Quốc, một trật tự thế giới mới dường như đã trở nên hỗn loạn và xô bồ. Nhưng với những gì đã diễn ra, một thế giới đa cực phức tạp lúc đó cũng đang hình thành.

Đông Âu thời hậu Xôviết
Đông Âu 20 năm sau, nếu nhìn từ năm 1989, dường như là một giấc mơ viển vông. Một thế hệ mới đã trưởng thành trong những xã hội tự do và có sự điều hành của luật pháp. Nỗi lo kinh tế sụp đổ và bất ổn chính trị đã được chứng minh là thiếu cơ sở. Mười nước Đông Âu đã thoát khỏi bức tường cũ và gia nhập Liên minh châu Âu. Đã có thêm hai nước, Crôatia và Anbani, vừa gia nhập NATO.
Với những vấn đề còn tồn đọng hoặc mới phát sinh đối với các nước trong khu vực, chính những cử tri của các nước này chứ không phải người ngoài sẽ quyết định ai sẽ lên nắm quyền và điều hành như thế nào. Thẩm phán, luật sư và cảnh sát đã thoát khỏi sự kiểm soát của đảng cộng sản. Tòa án có thể trì trệ, các chính trị gia thích xen vào chuyện người khác và tham nhũng vẫn là một vấn nạn, nhưng không ai có thể đứng ngoài sự trừng phạt.
Một ngoại lệ lớn, đó là Nam Tư. Năm 1989 nước này được xem như là một kiểu mẫu của sự đa chủng tộc và đa nguyên – sự giao thoa giữa chế độ xã hội chủ nghĩa tập trung và thế giới tư bản chủ nghĩa phương Tây khắc nghiệt và xa lạ. Giờ đây Nam Tư vẫn là một kiểu mẫu, nhưng tệ hại hơn nhiều. Suốt một thập kỷ, thế giới bên ngoài không thể chấm dứt tình trạng các tay súng theo chủ nghĩa dân tộc và sắc tộc biến những thù hằn xa xưa thành những cuộc trả thù đẫm máu. Khoảng 140.000 người đã chết trong các cuộc chiến ở Bôxnia, Crôatia và Kosovo, sau khi những chính trị gia độc tài tiến hành thanh trừng những kẻ mà họ cho là có âm mưu lật đổ.
Cuộc chiến đó tồi tệ hơn bất cứ cuộc chiến nào mà các nước Trung Âu từng chứng kiến, mặc dù so với độ kinh hoàng của thời kỳ phát xít thì nó còn kém xa. Ngay cả ở bên ngoài Nam Tư, các tư tưởng độc tài và mù quáng vẫn ám ảnh các chính trị gia. Các đảng phái phân biệt chủng tộc cực hữu đến rồi đi ở một số nghị viện, và vẫn đang hiện diện trong Chính phủ Xlôvenia. Nhưng họ không bao giờ giành được quyền lực chính trị đầy đủ trong 20 năm qua. Đó là một lý do để có thể thở phào và tự hào.
Thành tựu về kinh tế cũng đáng kể không kém. Cuối năm 1989 không khó khăn gì để gợi lại hình ảnh Đông Âu chìm trong nghèo đói hàng thập kỷ. Chỉ những ai ngoài 60 tuổi mới nhớ thị trường tự do vận hành như thế nào. Trong nhiều thập kỷ, tuyên truyền chính trị đã coi chủ nghĩa tư bản gần giống với những kẻ ăn thịt người. Nền công nghiệp được kiểm soát bởi nhà nước và điều hành bởi những người trong đảng. Sự quản lý đồng nghĩa với tìm kiếm tài nguyên và tích trữ chúng, mà không quan tâm tới chi phí, khách hàng và cạnh tranh. Buôn bán với nước ngoài nghĩa là tranh cãi với các nhà lập kế hoạch ở Nga, chứ không phải thực hiện các hợp đồng bằng tiếng Anh.
Vì vậy, ngay cả khi có sức mạnh ý chí để ổn định nền kinh tế, tư nhân hóa tài sản nhà nước và tự do hóa thị trường, liệu các nước Đông Âu có thành công? Lech Walesa, Tổng thống được bầu tự do đầu tiên của Ba Lan, đã chỉ ra rằng biến một bể cá thành một bát súp thì dễ, làm ngược lại mới khó.
Tuy nhiên, giá cả tự do, tỷ giá hối đoái tự do, thị trường lao động tự do và tư nhân hóa tự do đã chứng minh một thành công lớn. Động lực lợi nhuận, dù có xấu xa, bẩn thỉu và tầm thường thế nào đi nữa, đã giải phóng hàng triệu tài năng kinh doanh vốn bị giam hãm. Nhà đầu tư nước ngoài, ban đầu bị bó tay bởi tình trạng điện thoại thiếu thốn, đường sá chật chội và quan chức phiền nhiễu, nay đã kéo nhau vào Đông Âu, mang theo sự chuyển giao khổng lồ về trình độ quản lý và kỹ thuật. Làn sóng đầu tư đầu tiên bị hấp dẫn bởi lao động giá rẻ. Làn sóng thứ hai bị thu hút bởi sự gia nhập EU. Tư cách thành viên EU còn cải thiện cuộc sống theo các cách khác: buộc Đông Âu đẩy nhanh tiến độ cải cách để có thể gia nhập và nhận được hàng tỷ euro phục vụ công cuộc hiện đại hóa. Các đường biên giới một thời bị đóng cửa bởi những bãi mìn giờ chỉ còn là những đường vẽ trên bản đồ. Người ta có thể lái xe từ biển Bantích tới Địa Trung Hải mà không cần trình hộ chiếu. Môi trường nước và không khí sạch sẽ hơn so với năm 1989, giao thông nhanh hơn và an toàn hơn.
Đối với những người trẻ tuổi, năng động và nhiều tham vọng, 20 năm qua là một vận may. Đối với những người già, bảo thủ và kém khả năng, cuộc sống trở nên khó khăn đáng kể. Tuy nhiên, bên ngoài Đông Đức cũ, những người nuối tiếc quá khứ không còn đóng vai trò nào trong nền chính trị. Chỉ có ở CH Séc, Đảng Cộng sản vẫn có vai trò chính trị. Ở những nước khác, những người theo quốc tế vô sản trước đây đã tự khoác cho mình chiếc áo mới trung tả mỏng manh.
Ngoài dân chủ và thịnh vượng kinh tế, thành tựu lớn thứ ba là sự khôi phục một phần tính năng động xã hội, lòng tin, lễ nghĩa và lòng tốt. Thất vọng lớn nhất đó là sự tiếp nối của quyền lực và sự giàu có của các quan chức thuộc hệ thống cũ, những người đã chứng tỏ họ có thể vận hành chế độ tư bản họ từng lên án tốt hơn là vận hành chế độ xã hội chủ nghĩa họ từng rao giảng. Các ông chủ của đảng và cảnh sát mật tay sai đã tích trữ tiền ở nước ngoài, dùng nó để mua tài sản giá rẻ trong những năm hỗn loạn của thập kỷ 1990.
Châu Âu phương Tây dường như vẫn xa vời nếu đứng nhìn từ các nước Trung Âu. Ngược lại, Toomas Hendrik Ilves - Tổng thống Extônia, người từng theo học ở Mỹ và có miệng lưỡi sắc sảo - cho rằng người dân phương Tây vẫn coi người dân ở các nước cựu cộng sản là “những người tàn tật phiền toái không cần để tâm”. Nếu nhìn từ một quán cà phê tồi tàn trong bối cảnh cuối năm 1989, năm 2009 có vẻ khá ổn. Nhưng người dân Trung Âu vẫn có thể được tha thứ nếu họ nhìn hiện tại bằng cặp mắt yếm thế.
Trung Quốc - sự khôn khéo của Đặng Tiểu Bình
Tháng 10/1989, tờ “Nhân dân nhật báo”, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tuyên bố: “Người dân Đông Đức đang tăng cường tình đoàn kết dưới sự lãnh đạo của đảng”. Một tháng sau, “Bức tường Béclin” sụp đổ. Đến nay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn nhớ sự kiện này một cách đau đớn.

Đặng Tiểu Bình
Các phương tiện thông tin đại chúng nhà nước của Trung Quốc hầu hết vẫn tránh nói về chủ đề này, cũng như họ đã im lặng hồi tháng 6 vừa qua về sự kiện biểu tình ủng hộ dân chủ (Thiên An Môn) của Trung Quốc năm 1989. Cuộc biểu tình này đã được nhà lãnh đạo Nga Mikhail Gorbachov chứng kiến, và sau đó đã bị đàn áp đẫm máu sau khi ông này trở về nước. Có thể họ đã làm theo mệnh lệnh từ Ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng Cộng sản. Mối quan tâm của Đảng về sự nghiệp thống nhất đất nước (đòi lại Đài Loan) đã không giúp nước này giảm bớt sự cắn rứt lương tâm về số phận của Đông Đức.
Dù vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tốn khá nhiều công sức để phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu. Các nhà xuất bản đã đưa ra nhiều cuốn sách phân tích và rút ra bài học từ các sự kiện này. Khi cú sốc đầu tiên trôi qua, Đảng Cộng sản không chỉ nhanh chóng hàn gắn quan hệ với các thể chế dân chủ mới ở Đông Âu, mà còn đưa ra các chiến lược nhằm tránh bị cùng chung số phận.
Cuối năm 1989, sự lo lắng của Trung Quốc đã tăng lên và chính sách ngoại giao trở nên lúng túng đến mức khó tưởng tượng nổi nước này có thể thỏa hiệp được với một trật tự thế giới mới. Những bất ổn mới xuất hiện là điều khó tránh khỏi. Hầu như không ai có thể tin được là Giang Trạch Dân - nhà lãnh đạo được ít người biết đến, được bổ nhiệm làm Tổng bí thư sau sự kiện Thiên An Môn - có thể trụ vững.
Niềm tin cố hữu của Trung Quốc rằng sẽ không có điều gì bất trắc xảy ra ở Đông Âu đã khiến cho nước này có một quan điểm rất mạnh bạo. Đầu tháng 10/1989, ngay cả sau khi đã có hàng ngàn người dân Đông Đức trốn khỏi đất nước, Trung Quốc cử một nhà lãnh đạo cao cấp tới Đông Đức nhân dịp kỷ niệm 40 năm ra đời Chủ nghĩa xã hội. Erich Honecker - một nhà lãnh đạo bảo thủ của Đông Đức, 77 tuổi và rất được nể trọng bởi các chính trị gia cao tuổi của Trung Quốc - là một người ủng hộ việc đàn áp người biểu tình ở Thiên An Môn. Việc ông Honecker từ chức ngay sau đó khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc hoảng sợ.
Việc nhà lãnh đạo 85 tuổi Đặng Tiểu Bình giữ được bình tĩnh và giúp các nhà lãnh đạo khác vượt qua bão tố là một câu chuyện hấp dẫn. Tháng 9/1989, trong một bài phát biểu nhiều năm sau mới được công bố, Đặng Tiểu Bình nói với các đồng chí: “bình tĩnh, bình tĩnh và bình tĩnh” để tiếp tục công cuộc cải cách (chủ yếu là kinh tế) của Trung Quốc. Bài phát biểu của ông Đặng, cùng với các nội dung chi tiết khác của nó, hiện vẫn là tư tưởng lãnh đạo ở Trung Quốc. Tinh thần chính của nó thường được thể hiện bằng bốn chữ “giấu mình, chờ thời”. Ông Đặng muốn Trung Quốc tiếp tục phát triển kinh tế và tránh sa vào cuộc chiến về hệ tư tưởng. Trên thực tế, kinh tế đã cứu nguy cho Đảng.
David Shambaugh, một học giả người Mỹ, viết trong một cuốn sách xuất bản năm ngoái rằng kết luận quan trọng nhất của Trung Quốc từ sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản ở các nước khác đó là: một nhà nước-đảng cứng nhắc với một tư tưởng giáo điều, lãnh đạo bảo thủ, tổ chức đảng tê liệt, nền kinh tế trì trệ chắc chắn sẽ dẫn tới sụp đổ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã “rất chủ động” tự cải cách và điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình mới.
Không phải ai cũng đồng tình như trên. Một trang web do một nhóm người Đức lập nên chuyên đăng tải các bình luận về sự kiện “Bức tường Béclin” có tên www.berlinwitterwall.com, đã xuất hiện đầy rẫy những bình luận của người Trung Quốc phàn nàn về “vạn lý tường lửa” – một cách ví von về hệ thống kiểm duyệt Internet do nhà nước Trung Quốc lập ra. Truy cập vào trang web này đã bị các nhà kiểm duyệt Trung Quốc ngăn chặn trong thời gian qua.
Tuy nhiên, sự kiểm soát báo chí của Trung Quốc hiện nay không chặt chẽ như sau khi Bức tường Béclin sụp đổ. Tuần san Southern Metropolis – một tạp chí nổi tiếng với những bài chỉ trích – đã dành 19 trang trong số ra ngày 30/10 để nói về sự kiện “Bức tường Béclin”. “Với những người yêu chuộng tự do, những nỗ lực dỡ bỏ các bức tường ngăn chặn và cản trở sự giao tiếp không bao giờ dừng lại”, một bài báo viết. Một bài khác cho rằng dù người Đức có phải đối mặt với khó khăn nào đi nữa, “sẽ có rất ít người muốn quay trở lại những ngày trước khi Bức tường Béclin được dỡ bỏ”.
Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tới Trung Quốc ngày 15/11 tới, về phương diện ngoại giao ông sẽ tránh đề cập tới ý kiến cho rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc nên biến mất như các đảng cộng sản ở Đông Âu. Trong một bài nói chuyện trước các quan chức cao cấp của Mỹ và Trung Quốc hồi tháng 7/2009 tại Oasinhtơn, ông Obama nhấn mạnh việc dỡ bỏ “Bức tường Béclin” đã tạo ra một “đợt thủy triều toàn cầu hóa, đang dâng cao và sẽ tiếp tục định hình thế giới”. Có thể ông Obama đã không đề cập những tác động của sự kiện “Bức tường Béclin” tới chế độ cộng sản, nhằm tránh gây lúng túng cho đối tác kinh tế quan trọng. Chiến lược của Đặng Tiểu Bình đã mang lại hiệu quả.
***
Hai mươi năm trước đây, người dân Béclin đã phá đổ bức tường một thời chia cắt thành phố của họ, sự kiện này không chỉ chấm dứt giai đoạn Liên Xô thống trị Đông Âu mà còn đánh dấu hồi kết trong đại chiến lược của người Mỹ thời hậu chiến tranh. Trong 40 năm, chiến lược ngăn chặn đã trở thành kim chỉ nam cho mọi nhà lãnh đạo của cả 2 đảng ở Mỹ và 2 thập kỷ sau sự kiện Bức tường Béclin các nhà hoạch định chính sách Mỹ vẫn chưa tìm được chiến lược mới thay thế cho chiến lược ngăn chặn. Đó là nội dung bài viết đăng trên mạng www.cfr.org của Hội đồng quan hệ đối ngoại Mỹ. Sau đây là nội dung bài viết:

Việc phát triển các chiến lược cơ bản là sử dụng sức mạnh của Mỹ vẫn là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh thế giới ngày càng trở nên phức tạp. Quân đội Mỹ đang phải căng sức ở các chiến trường Ápganixtan và Irắc, trong khi đó kinh tế Mỹ vẫn đang bấp bênh. Những mối đe dọa xuyên quốc gia ngày càng nhiều và Mỹ đang loay hoay chưa tìm được lối thoát trong việc hoạch định một đại chiến lược mới. Nó không đơn giản như thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ chỉ phải đối đầu với một kẻ thù lớn.
Năm 1946, trong những bài viết nổi tiếng của mình trên tạp chí Đối ngoại của Mỹ, Tham tán công sứ Mỹ tại Mátxcơva George Kennan đã phân tích một loạt lý do để Mỹ đi tới quyết định sử dụng kết hợp các công cụ sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị nhằm ngăn chặn kẻ thù, là Liên Xô, không mở rộng thêm các khu vực kiểm soát trên thế giới. Quan điểm của Kennan là giữ cho những khu vực trọng tâm của thế giới như Tây Âu và vùng vịnh Pécxích, nằm ngoài tầm với của Liên Xô trong khi đó chờ cho hệ thống chính trị, xã hội Liên Xô tự gây sức ép lên chính họ. Kennan dự đoán Điện Cremli sẽ không chịu ngồi yên và nếu Mỹ kiềm chế được tham vọng bành trướng của Liên Xô, hệ thống Liên Xô sẽ phải tự điều chỉnh chính họ để tìm lối thoát và dẫn đến tan rã hoặc suy thoái quyền lực. Đó là một dự báo chính xác sau những sự kiện diễn ra từ năm 1989 đến 1991.
Trong hàng chục năm Mỹ theo đuổi chiến lược ngăn chặn, đã có rất nhiều tranh cãi về cách thực hiện chiến lược này thế nào là hiệu quả nhất. Chính Kennan cũng lên tiếng chỉ trích rằng Mỹ đã áp dụng quá mức chính sách quân sự. Sự chia rẽ trong nội bội nước Mỹ đã lên cao điểm khi xảy ra tranh cãi về việc áp dụng mức độ thích hợp chính sách ngăn chặn trong chiến tranh Việt Nam thời Johnson và Nixon cũng như chính sách đối với Trung Mỹ thời Reagan. Tuy nhiên, cả 2 đảng ở Mỹ đều có một quan điểm thống nhất là phải ngăn chặn kẻ thù Chiến tranh Lạnh của Mỹ, nó trở thành mục tiêu trọng tâm trong mọi chính sách đối ngoại của Mỹ.
Sự chuyển hướng chính sách thời hậu Chiến tranh Lạnh
Khi Bức tường Béclin sụp đổ, nền tảng chính sách đối ngoại của Mỹ bỗng trở nên lỗi thời. Lúc này đã xuất hiện một vài tác phẩm xuất sắc phân tích về tình hình thế giới thời kỳ Chiến tranh Lạnh mới kết thúc như "Hồi kết của lịch sử" của Francis Fukuyama hay "Sự va chạm giữa các nền văn minh" của Samuel Huntington, tuy nhiên đó chỉ là những đánh giá chứ không phải gợi ý cho chiến lược.
Chiến lược chi tiết nhất được giới thiệu trong Hướng dẫn Kế hoạch Quốc phòng năm 1992 của Lầu Năm Góc thời Dick Cheney, khi đó tờ New York Times đã lấy được những thông tin bí mật này. Hướng dẫn đó xác định "Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là ngăn chặn sự tái xuất hiện của một đối thủ mới, cả trên lãnh thổ của Liên Xô cũ cũng như những nơi khác, điều đó sẽ gây ra mối đe dọa như những gì Liên Xô đã làm trước đây". Vấn đề gây tranh cãi là tài liệu này cho rằng Mỹ cần phải ngăn chặn không chỉ kẻ thù của họ giành được quyền lực lớn hơn ở những khu vực trọng yếu mà còn phải ngăn chặn cả những đồng minh lớn như Đức và Nhật. Nhà Trắng đã không chấp nhận tài liệu đó của Cheney, sau này Brent Scowcroft, Cố vấn an ninh quốc gia của George H.W. Bush còn mô tả đề xuất chiến lược của Lầu Năm Góc khi đó là một sự "quái gở".
Điều xác định được rõ ràng khi Bill Clinton trở thành tổng thống là mục tiêu định hình một chiến lược mới vừa đơn giản vừa đúng hướng cho nước Mỹ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Clinton thường xuyên thúc giục các trợ lý về việc chưa tìm ra được một tầm nhìn kiểu Kennan, Clinton cho rằng ông ta cần phải tìm ra một chiến lược mới thay thế chiến lược ngăn chặn để xác định rõ ràng chính sách đối ngoại của Mỹ. Thậm chí năm 1994, một trợ lý ngoại giao hàng đầu của Clinton đã tổ chức một bữa ăn tối với Kennan, khi đó đã 90 tuổi, để tham khảo ý kiến. Kennan đã khuyên rằng thế giới đến nay đã quá phức tạp, đừng cố tìm một vài từ để hoạch định ra một chiến lược lớn mà phải nghĩ ra một hoặc hai đoạn để xác định chiến lược.
Kennan đã đề cập đến một thực tế cơ bản của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh: Không còn một kẻ thù đơn lẻ và trước mắt là một loạt những thách thức đa dạng như phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, biến đổi khí hậu, bệnh dịch, khủng bố, sự lớn mạnh của những cường quốc mới và toàn cầu hóa.
Cuộc chiến chống khủng bố
"Cuộc chiến chống khủng bố" là thuật ngữ cũng đơn giản và rõ ràng như "ngăn chặn", nó được đề ra khi Chính quyền Bush thực hiện các biện pháp đối phó sau vụ tấn công 11/9. Nhưng ngay cả các quan chức cấp cao của Mỹ cũng không hài lòng với cụm từ này, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, cố vấn hàng đầu của Bush cho biết ông không gọi đó là "cuộc chiến chống khủng bố". Sau đó Colin Powell cũng cho rằng "cuộc chiến chống khủng bố" là một cụm từ không hay, đó chỉ là một vấn đề mang tính tội phạm chứ không phải là sự trở lại của Liên Xô. Và cho dù đó là cách đúng đắn để chiến đấu chống lại chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo thì nó cũng không giúp giải quyết được mọi thách thức đã nêu ở trên.
Tuy nhiên, việc đề ra một chiến lược là rất quan trọng. Quá trình phát triển một chiến lược đòi hỏi phải đánh giá được chính xác sức mạnh của Mỹ để có thể đạt được những mục tiêu đề ra, nói cách khác là hòa hợp được các nguồn lực để phục vụ mục tiêu, điều này thường ít được nêu lên trong các cuộc thảo luận về chính sách đối ngoại. Khi Bức tường Béclin sụp đổ cũng là lúc một chiến lược đơn lẻ và đơn giản của Mỹ kết thúc, ngày nay nước Mỹ cần phải có một loạt các chiến lược.
Tổng thống Obama đã tránh thảo luận về một "Học thuyết Obama" vì ông nhận thức được sự phức tạp của thế giới ngày nay cũng như những hạn chế trong sức mạnh của Mỹ. Rõ ràng Obama đã thay đổi cách tiếp cận của Mỹ đối với thế giới, chú trọng vào chủ nghĩa đa phương và can thiệp. Nhưng hầu như ông cũng chưa xác định cụ thể những mục tiêu của cách tiếp cận mới đã được áp dụng này.
Mục tiêu giảm thiểu mối đe dọa hạt nhân
Giảm bớt các mối đe dọa hạt nhân là một lĩnh vực mà Obama đã bộc lộ quan điểm rõ ràng qua việc ủng hộ một loạt các chính sách theo như lời kêu gọi của ông là vì một thế giới không vũ khí hạt nhân. Cho dù mục tiêu một thế giới không vũ khí hạt nhân là khó đạt được nếu không muốn nói là không thể và vì vậy nó làm giảm giá trị nâng tầm mục tiêu này thành một chiến lược, thì những bước đi mà Obama đã hoạch định để theo đuổi mục tiêu đó vẫn rất có giá trị và nhất quán. Obama đã kêu gọi giảm bớt vai trò của vũ khí hạt nhân trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ, giảm bớt số lượng vũ khí chiến lược trong một hiệp định START mới với Nga, đạt được Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT), đạt được một thỏa thuận mới chấm dứt sản xuất vật liệu dùng cho vũ khí hạt nhân, tăng cường Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân, tạo ra một ngân hàng nhiên liệu thế giới để khuyến khích việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì hòa bình và không có nguy cơ phổ biến, bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân trước sự nhòm ngó của các kẻ khủng bố.
Không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân là một trong 4 vấn đề then chốt mà Obama đã nêu ra trong bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9 vừa qua, ông cũng vạch ra một chính sách toàn diện để tiếp cận những vấn đề đó và nó có thể sẽ trở thành nền tảng để phát triển một chiến lược. Obama cho rằng quá trình phát triển dân chủ và nhân quyền không nằm ngoài 4 vấn đề then chốt đó (3 vấn đề còn lại là thúc đẩy hòa bình và an ninh, bảo tồn hành tinh, và một nền kinh tế toàn cầu tạo ra cơ hội cho tất cả mọi người), tuy nhiên, ông chưa nêu ra một chiến lược mới để thúc đẩy những giá trị đó. Ngay cả đối với việc chống chủ nghĩa khủng bố, Obama mới chỉ đang phát triển một chiến lược cho Ápganixtan chứ chưa phải là cách tiếp cận toàn diện để chống lại chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo.
Chắc chắn những vấn đề nêu trên là rất khó khăn và đó là đặc điểm cơ bản của thế giới thời hậu chiến lược ngăn chặn. Lời khuyên của Kennan về việc cần phải hoạch định ra nhiều chiến lược cùng một lúc vẫn còn nguyên giá trị đối với Mỹ. Tuy nhiên, việc định ra được một loạt chiến lược đúng đắn cũng là một thách thức lớn trong bối cảnh phức tạp của thế giới ngày nay.
***
Mikhail Gorbachov, cựu Tổng thống Liên Xô, đã được xếp ngồi hàng ghế đầu trong lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Béclin sụp đổ (9/11/1989-9/11/2009). Nhân sự kiện này, kênh truyền hình CBC News của Canađa đã có cuộc phỏng vấn nhân vật được coi đã góp phần làm sụp đổ nhà nước Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

Mikhail Gorbachov
CBC News: Hai mươi năm sau sự sụp đổ của Bức tường Béclin, ông có cảm thấy tự hào về những gì xảy ra trong ngày 9/11/1989?
Gorbachov: Tôi rất tự hào về những gì đã xảy ra. Nó là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất thế giới và đã được bàn luận rộng rãi. Vào tháng 6/1989, chúng tôi đã thảo luận vấn đề này với Thủ tướng Đức Helmut Kohl. Các phóng viên đã hỏi chúng tôi: Liệu các ngài có bàn về vấn đề tái thống nhất nước Đức? Tất nhiên, chúng tôi đã bàn về nó. Họ hỏi: Khi nào sự kiện tái thống nhất sẽ diễn ra? Cả hai chúng tôi đều trả lời: Vào thế kỷ 21.
Đây là một lộ trình rất nhiều chông gai. Tất nhiên, chúng tôi đã có "perestroika" và "glasnost" ở Liên Xô, chủ nghĩa đa nguyên về chính trị đã có tại đây, nền kinh tế thị trường, chính sách đối ngoại mới, tự do, và xu thế này đã được tiếp nhận vào Trung và Đông Âu. Và những người Đức chống lại xu thế này lúc đó giống như một số người bị bệnh hủi. Họ bị gạt lại phía sau. Những gì chúng tôi phải làm là đóng chiếc đinh cuối cùng vào cỗ quan tài Chiến tranh Lạnh.
CBC News: Ông có được mời tới Đông Đức vào tháng 10/1989 hay không?
Gorbachov: Chúng tôi đã nhận được lời mời tới Đông Đức vào ngày lễ quốc khánh, tôi đã suy nghĩ liệu mình có nên tới đó hay không vì không khí đang rất sôi sục. Tình hình đã có tiến triển, tôi đã cảm nhận được điều đó, nhưng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đức khi đó Erich Honecker lại không nhận thấy điều đó. Đặc biệt khi chúng tôi tham dự một cuộc mít tinh vào ban đêm, tôi thấy đám đông thanh niên và những người trung lưu, tay giương cao đuốc, hô vang các khẩu hiệu, tất cả đều ủng hộ sự tái thống nhất.
Thủ tướng Ba Lan Miechyslav Rakovski lại gần tôi từ phía sau… ông ta nói Mikhail Sergeevich, Ông có hiểu người Đức không? Tôi trả lời: Tôi có thể đọc và hiểu những gì họ đang gào thét. Ông ta nói: Ông hiểu đó là sự kết thúc. Tôi trả lời: Đúng vậy, nó là sự kết thúc. Hành động cuối cùng đang mở ra trước mắt chúng tôi.
CBC News: Ông có nhớ ngày 9/11/1989, đêm đó ông có ngủ không?
Gorbachov: Tôi vẫn ngủ bởi chúng tôi đã quen với nó và biết rằng nó là một quy luật phát triển. Tuy nhiên, một kịch bản hoàn toàn khác với những gì chúng tôi tưởng tượng. Chỉ sau 24 giờ, 3 triệu người Đức đã bỏ chạy sang đây và rời bỏ chúng tôi.
CBC News: Ông có nghĩ nó là sự kết thúc của một kỷ nguyên?
Gorbachov: Đúng vậy, nó là điểm cuối cùng, điểm dừng cuối cùng của Chiến tranh Lạnh. Họ nói với chúng tôi: Hãy vứt bỏ và bắt đầu nghĩ về một trật tự thế giới mới. Đúng vậy, một trật tự thế giới mới.
CBC News: Năm 1987, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan khi đó nói ở Béclin rằng "Ông Gorbachov, hãy mở cánh cửa này; phá bỏ bức tường này". Cảm xúc của ông thế nào?
Gorbachov: Tôi thực sự không ấn tượng. Điều đó không có gì mới đối với chúng tôi. Chúng tôi biết sau khi xây dựng Bức tường này rằng sớm hay muộn nó cũng sẽ bị phá bỏ.
CBC News: Ông từng nói nhiều lần rằng ông không sử dụng sức mạnh quân sự vào năm 1989 để tránh xảy ra Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba. Hiện giờ ông còn nghĩ như vậy không?
Gorbachov: Rất khó tưởng tượng thảm hoạ sẽ như thế nào nếu chúng tôi cho phép can thiệp. Chúng tôi có nửa triệu binh sĩ đang đóng quân tại đây, được trang bị tới tận răng. Nơi đây tập trung nhiều vũ khí, lực lượng được huấn luyện tinh nhuệ, vũ khí hạt nhân nhất. Một quyết định như vậy sẽ là một sai lầm có thể dẫn tới thảm họa và nó sẽ kết thúc bằng Chiến tranh thế giới lần thứ ba./.
Theo TTXVN