Ngày 30-8-1945, phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm các ông Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Huy Cận đã tiếp nhận ấn, kiếm của vua Bảo Đại tại kinh thành Huế trước sự chứng kiến của hàng vạn đồng bào.
Thời kỳ chiến tranh, hai báu vật này đã bị thất lạc, cho đến nay nhiều người vẫn cho rằng, chiếc ấn được đúc bằng vàng ròng nặng khoảng hơn 10kg được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội và bị kẻ gian lấy trộm năm 1961. Sau một thời gian tìm hiểu, phóng viên Báo CATPHCM đã tiếp cận được hồ sơ gốc rất quan trọng về vụ mất trộm này. Thực ra, chiếc ấn bị mất là ấn vàng của Nam Phương Hoàng hậu, nặng 4,9kg vàng. Việc điều tra khám phá thành công vụ án này trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn là một chiến công xuất sắc của lực lượng Công an.
Kỳ 1: VỤ TRỘM THẾ KỶ
Vì nhiều lý do, vào dịp chuẩn bị lễ Quốc khánh năm 1961, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quyết định trưng bày một số hiện vật quý, trong đó có chiếc ấn của Nam Phương Hoàng hậu, nặng 4,9kg bằng vàng ròng, một âu đựng trầu thuốc bằng vàng nặng 0,5 kg và nhiều quốc bảo khác. Vào buổi sáng thứ ba, ngày 4-7-1961, một số cán bộ của bảo tàng bỗng hoảng hốt vì phát hiện hai trong số những báu vật này là chiếc ấn của Nam Phương Hoàng hậu và âu đựng trầu thuốc đã không cánh mà bay. Ngoài giá trị vật chất, chiếc ấn và âu đựng trầu còn là một kiệt tác nghệ thuật, mang giá trị lịch sử và là tài sản văn hóa vô giá.

Nguyễn Văn Thợi
CUỘC ĐIỀU TRA TỔNG LỰC
Ngay sau khi sự việc xảy ra, Công an Hà Nội đã huy động một lực lượng lớn vào cuộc. Đối tượng lưu manh cộm cán trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh lân cận đều được rà soát, phân loại cẩn thận. Tất cả các gia đình có nghề buôn bán, chế tác vàng bạc cũng được đặt trong danh sách cần phải rà soát. Đích thân Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn lúc bấy giờ đã lệnh cho một số cơ quan chức năng của Bộ phối hợp chặt chẽ với Công an Hà Nội sử dụng mọi biện pháp, phương tiện để điều tra làm rõ một cách nhanh nhất.
Hiện trường xảy ra vụ trộm là một căn phòng có cửa ra vào chắc chắn, kiên cố và không có dấu hiệu cạy phá. Những gì mà tên trộm để lại chỉ là hai mẩu đồng nhỏ, có thể là từ một chiếc chìa khóa bị gãy. Việc rà soát các đối tượng hình sự không cho kết quả. Vì vậy, nhiều người trong đó có cả một số lãnh đạo bảo tàng đã nghĩ đến khả năng kẻ trộm chính là nội bộ cán bộ, công nhân viên của Bảo tàng Lịch sử. Tất cả nhân viên (kể cả đã nghỉ việc, chuyển ngành) đều được mời lên cơ quan Công an làm việc.
Quá trình tìm hiểu về vụ án này, chúng tôi đã đến nhiều đơn vị của Bộ Công an cũng như Công an Hà Nội để tìm tài liệu. Rất nhiều người từng nghe về vụ này nhưng tài liệu thì gần như không có gì. Trong lần làm việc tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, chúng tôi đã tìm được một cuốn sách của trung tá Nguyễn Trung Xuyền, nguyên cán bộ Phòng Tham mưu của viện. Cuốn sách có nhắc đến vụ trộm ấn vàng tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Theo ông Xuyền, trong một buổi làm việc với cơ quan Công an, ông Vũ Lai, (còn gọi là Lợi) - Trưởng phòng Bảo quản, sưu tầm và phục chế - tự nhận mình đã gây ra vụ trộm. Có lần ông Lai khai: “Vì tôi đã có tuổi (thời điểm đó ông Lai 59 tuổi), biết rằng chẳng làm việc được bao lâu nữa thì nghỉ nên rất lo lắng khi trở về tuổi già không biết làm gì để sinh sống. Nhân dịp bảo tàng có bày một số đồ vàng trên phòng nhà Nguyễn nên có ý định sẽ lấy vài thứ để dành cho sau này. Ý định này có từ đầu năm nhưng còn đắn đo chưa dám làm.
Ngày hôm đó, khoảng 16 giờ, tôi mượn chìa khóa mở hai tủ lấy một cái ấn vàng, một hộp đựng trầu thuốc bằng vàng, bọc vào chiếc áo mưa và chôn ở bờ sông Hồng. Độ nửa tháng, sợ ngập nước, tôi ra đào thì đã mất”. Ông Vũ Lai còn bảo vợ đem nộp cơ quan công an một cái áo mưa (dùng để bọc ấn vàng). Một cán bộ bảo tàng khác là ông Huyến cũng bị tạm giữ để điều tra. Tuy nhiên, sau khi xác minh kỹ lời khai của ông Lai, Ban chuyên án kết luận: lời khai này không có cơ sở. Thì ra, là người phải chịu trách nhiệm chính về vụ mất cắp này, ông Lai quá lo lắng đến mất ăn mất ngủ, đành nhận bừa cho xong!

Bác Nguyễn Minh Hùng - nguyên Đội trưởng Đội hình cảnh Công an Hà Nội
THÊM MỘT VỤ TRỘM TÁO TỢN
Trong khi kẻ trộm vẫn nằm trong bức màn bí ẩn thì chỉ năm tháng sau, ngày 4-1-1962, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam lại thêm một phen rúng động. Kẻ gian lại đột nhập lấy đi một ấn bạc mạ vàng có khắc chữ “Cao Đức Thái Hoàng Thái Hậu” và hai quyển kim sách bằng bạc mạ vàng, một quyển khắc chữ “Bảo Long Khải Định thập niên” có hai bìa, bảy tờ và bốn khuyên. Khác với vụ trộm trước, lần này tên trộm còn liều mạng đến mức... phóng uế ra một căn phòng nhỏ gần phòng trưng bày.
Kiểm tra kỹ hiện trường, lực lượng công an còn tìm được bốn mảnh giấy mà tên trộm đã sử dụng sau khi phóng uế và ba dấu vân tay trên mặt kính. Ghép bốn mảnh giấy lại, được một bức thư. Về sau, đây chính là một trong những manh mối quan trọng để lần ra vụ án.
Chúng tôi đã tìm gặp bác Nguyễn Minh Hùng, SN 1925, nguyên là Đội trưởng Đội hình cảnh (bây giờ gọi là Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH) của Công an Hà Nội - một trong những người trực tiếp chỉ huy điều tra vụ án này. Bác Hùng kể: Tháng 10-1954, Đội hình cảnh được thành lập tại huyện Thường Tín, Hà Tây, với gần 100 cán bộ, chiến sĩ.
Đến nay, chỉ còn lại năm người còn sống. Phải nói thẳng rằng, hồi đó chúng ta còn nhiều sơ hở. Ai đời bảo tàng toàn trưng bày đồ thật, mãi sau khi vụ trộm xảy ra, người ta mới chế bản, đồ thật thì bảo quản cẩn mật hơn. Bản thân cán bộ, chiến sĩ Đội hình cảnh cũng không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ điều tra hình sự nhưng anh em vẫn cố gắng vượt qua để có một kết quả khám nghiệm chi tiết và chính xác nhất.
Những tàng thư căn cước của chế độ cũ để lại cũng được ta sử dụng nhưng dấu vân tay thu được không trùng với mẫu vân tay đang lưu giữ. Vào thời điểm năm 1961, tình hình an ninh trật tự ở Hà Nội tương đối phức tạp, người dân nhiều nơi ở các tỉnh khác kéo về Hà Nội, trong đó có nhiều đối tượng tội phạm hình sự, đã gây ra một số vụ trọng án. Đầu tiên, Ban chuyên án tập trung điều tra theo hướng này nhưng không có kết quả.
Trước những khó khăn này, đồng khí Lê Hữu Qua, Cục trưởng Cục CSND được Bộ Công an cử sang làm Trưởng ban chuyên án. Bốn mảnh giấy thu được ở hiện trường là một bức thư của một người có tên Đỗ Mộng Dần gửi cho một người tên Sửu. Trong thư hỏi thăm các cháu Trung, Thanh, Phong và nhắc đến ba người khác có tên là Ất, Giáp, Mão. Mở rộng diện điều tra ra các tỉnh, Ban chuyên án phát hiện ở Kim Bảng, Hà Nam có một người tên là Đỗ Mộng Dần, có các em tên là Ất, Giáp. Giám định chữ viết trong bức thư đó chính là chữ của ông Dần.
Ông Dần có người anh là Đỗ Văn Sửu (tức Lai, SN 1924, trú tại 54 Yên Phụ, Hà Nội), làm nghề bán hàng cơm. Đi sâu xác minh đối tượng Sửu, Ban chuyên án được biết, người này có quan hệ rất phức tạp với một số đối tượng lưu manh, trộm cướp. Trong số đó, có người thường xuyên ăn ở tại nhà Sửu có tên là Thợi. Thợi không có việc làm nhưng tiêu xài rất hoang phí, thường xuyên la cà ở những tiệm hút thuốc phiện.
Thợi dư dả đến mức dù không làm gì nhưng lại thường mang quần áo ra tiệm để giặt. Ngoài ra, Thợi còn thường xuyên cho bạn bè tiền nong. Khoảng tháng 3-1962, Thợi về quê Sửu ở Kim Bảng, Hà Nam chơi và nghỉ tại nhà ông Dần. Gặp ai Thợi cũng tặng quà, mà đều là những món quà có giá trị, thậm chí là vàng. Khi mọi người hỏi lấy đâu ra nhiều tiền thế, Thợi trả lời: “Đi buôn vàng bạc ở tận trên biên giới”.
Xác định Thợi có thể là thủ phạm của vụ trộm, nhưng tiếp cận Thợi lại là một việc vô cùng khó khăn, bởi con người này hành tung rất bí ẩn. Không ai biết đích xác quê quán Thợi ở đâu, ngay cả đám bạn vẫn qua lại nhà ông Sửu cũng không hề biết Thợi là tên thật hay tên giả, vì trong người Thợi luôn có nhiều giấy thông hành mang nhiều tên khác nhau.
(còn tiếp)
Hồ Phương (CATP)