Kỳ cuối: VỤ TRỘM ĐỘNG TRỜI ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO?
Như bài trước chúng tôi đã nói, năm 1953, Nguyễn Văn Thợi bị bắt giam tại khu Việt Bắc. Những ngày trong nhà giam, Thợi kết thân với Nguyễn Sơn Trương (tức Bạt), quê ở thôn Sen Hồ, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, Bắc Giang. Bạt là con địa chủ Rật khét tiếng. Hòa bình lập lại, Bạt bỏ quê đi Hà Nội, Bắc Ninh câu kết với nhiều thành phần phức tạp. Có lần về quê, Bạt tung tin Mỹ sẽ giúp Ngô Đình Diệm thả bom nguyên tử ở miền Bắc và lôi kéo mọi người bỏ vào Nam để tránh chiến tranh. Vốn là con địa chủ, Bạt có hiểu biết khá rộng về cổ vật, vì vậy khi ra trại, Bạt rủ Thợi đến Bảo tàng Lịch sử thăm dò và chúng đã “gặp may”.
SỐ PHẬN HẨM HIU CỦA CHIẾC ẤN TÍN
Nguyễn Văn Thợi khai: “Tháng 6-1961, tôi và Bạt vào Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ở Hà Nội lâu nhưng tôi chưa bao giờ vào đó vì chẳng có gì để ăn trộm nhưng Bạt cứ kéo tôi vào. Khi đi ngang qua tủ trưng bày ấn và âu đựng trầu bằng vàng, Bạt nói: “vàng ròng đấy”. Tôi bảo: “Vàng giả” nhưng Bạt bảo: “Vàng thật đấy, mày biết gì, cứ lấy đi”. Tin lời Bạt, chúng tôi thống nhất sẽ lấy trộm hai đồ vật này. Bạt dùng đất sét lấy mẫu chìa khóa, tôi ra phố Hàng Bài mua ba chiếc chìa khóa. Ngày 4-7-1961, lúc đó khoảng 12 giờ trưa, Viện Bảo tàng rất vắng người. Tôi dùng chìa khóa mở tủ (hai chiếc đầu bị gãy, miếng đồng tìm thấy tại hiện trường chính là phần bị gãy của chìa khóa). Bạt nhấc cánh tủ lên để lấy ấn vàng. Vẫn sợ cái ấn là vàng giả, tôi mở thêm cái tủ nữa lấy một âu đựng trầu. Tôi gói hai vật này làm hai gói, giấu trong người của tôi và Bạt. Khi xuống đến cổng, tôi ra bắt chuyện với mấy anh bảo vệ để Bạt chuồn ra ngoài...”.
Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, 24 giờ ngày 5-4-1962, Nguyễn Văn Thợi mò vào nhà ông Nguyễn Văn Bến, ở cạnh Hợp tác xã mua bán (tức là cửa hàng bách hóa) huyện Đông Anh để ăn trộm. Trước đó, anh ta đã dùng thuốc độc trộn với trứng vịt ném cho con chó nhà này ăn và con chó đã chết. Khi vào đến sân nhà ông Bến, Thợi lại thay đổi ý định, trèo qua tường nhà đột nhập vào Hợp tác xã mua bán huyện Đông Anh. Hôm đó đúng là một ngày xui xẻo, lục lọi mãi, Thợi chỉ tìm được một chiếc áo mưa, một áo bông, một bút máy Trường Sơn và 17 đồng.
Đang chuẩn bị chuồn thì những nhân viên bảo vệ phát hiện, hô hoán ầm ĩ. Thợi liều mạng chống cự quyết liệt nhưng Công an huyện kịp thời có mặt, tên trộm khét tiếng đã thúc thủ. Trong trại tạm giam của Công an Đông Anh, Thợi cùng một can phạm khác dùng miếng sắt cạy được bốn viên gạch ở tường nhà giam, chỉ cần cạy thêm hai viên nữa là đủ chui ra ngoài thì Thợi bị chuyển về Hỏa Lò. Những ngày đầu ở Hỏa Lò, nghe những can phạm khác khoe khoang “chiến tích”, Thợi chỉ cười khẩy và không hé răng nửa câu.
Trong thời gian này, công tác điều tra, truy tìm thủ phạm vụ trộm ấn tín vẫn được tiến hành ráo riết. Khi nhận được thông tin ở Đông Anh bắt được tên trộm có tên Nguyễn Văn Thợi, trinh sát đã nghĩ ngay đến một kẻ cũng có tên là Nguyễn Văn Thợi từng có quan hệ với Đỗ Văn Sửu, Đỗ Mộng Dần. Ngay lập tức, mẫu vân tay của Thợi được đem ra đối chiếu với ba mẫu vân tay thu được tại hiện trường. Anh em mừng vui khôn xiết. Từ đây, tên trộm thế kỷ đã khai ra hai vụ trộm động trời mà có lẽ đến nhiều năm sau, những người công tác trong ngành điều tra hình sự còn nhớ mãi.
Sau khi cùng với tên Bạt lấy được ấn vàng, Thợi cùng Bạt mang ấn sang nhà Thể (tức Huệ) ở thị trấn Yên Viên, Hà Nội, chôn gần bếp, đặt một chậu bát lên trên. Xong việc, cả hai cùng về nhà Đỗ Văn Sửu ở 54 Yên Phụ đánh chén một bữa. Khi đã ngà ngà, Thợi ngủ lại, còn Bạt ra thuê nhà trọ ngủ. Sáng hôm sau, Thợi và Bạt xuống chợ trời mua ba cái đục và một cái búa đem sang nhà Thể.
Chiếc ấn vàng được chặt ra làm bốn miếng, chiếc núm hình con rồng bị chặt ra làm đôi. Chặt vàng phát ra tiếng động nên Thể phải đi ra ngoài để cảnh giới. Sáng sớm hôm sau, Thợi và Bạt mua vé tàu đi Lạng Sơn, mang theo toàn bộ số vàng này. Thời kỳ còn buôn thuốc phiện, Thợi quen một người tên là Yếu làm nghề thợ rèn ở gần ga Kỳ Lừa. Thợi mang đống vàng ra thuê ông Yếu nấu lên thành khối cho dễ cầm. Buổi đêm, chờ mọi người đi ngủ hết, ông Yếu đốt lò đánh thành năm miếng. Thấy lượng vàng quá nhiều, ông Yếu nảy lòng tham.
Đợi bọn Thợi ngủ dậy, ông ta nói: “Có thể lọc được vàng”. Thợi liền lấy miếng vàng khoảng sáu lạng đưa ông Yếu làm thử. Ông Yếu cho vàng vào chiếc nồi bằng gang đun lên. Khi vàng chảy ra như nước thì ông Yếu đổ xuống đất nhưng vàng vẫn có màu đen, ông Yếu bảo “không thành công”. Thợi lại đưa thêm một miếng nữa cho ông đun tiếp. Đang đun, chiếc nồi bị thủng, toàn bộ số vàng chảy xuống bếp tro, ông Yếu lừa bọn Thợi, bảo: “Không lấy lại được nữa”. Điên tiết vì bị chơi xỏ nhưng Thợi và Bạt không dám làm căng vì sợ lộ. Chúng đem vàng sang nhà ông Lộc làm nghề thợ bạc ở giếng nước gần chợ Kỳ Lừa.
Thợi đưa trước cho ông Lộc hai miếng chừng năm lạng vàng để ông làm thử. Thấy khối vàng ròng, ông Lộc như mở cờ trong bụng nhưng vẫn nói: “Vàng này cứng lắm, không làm được đâu, nếu nấu lại thì bị hao, hai chỉ còn một thôi”. Thợi đành phải bằng lòng vì kỳ thực có một đống vàng trong người nhưng lại không có lấy một đồng, hắn đành phải đồng ý và hẹn một tuần sau đến lấy. Hai tên trộm nhảy tàu về lại Hà Nội. Khi đến Bắc Giang, Bạt cầm khoảng 50 lạng vàng chuồn mất.
Sau này, Thợi gặp lại Bạt ở Hà Nội, Bạt khoe mang vàng nhờ người đánh thành nhẫn, phần còn lại đem về quê giấu. Với 50 lạng vàng trong người, Thợi về lại nhà Đỗ Văn Sửu ngủ. Vì đã được ông Thể kể chuyện Thợi mang vàng sang giấu nên Sửu ra sức hỏi Thợi về chuyện vàng. Giấu mãi không được, Thợi đành kể thật và sau đó, hắn lên Lạng Sơn lấy vàng từ chỗ ông Lộc được 2,5 lạng (số vàng này được ông Lộc kéo thành 25 cái nhẫn) và Thợi bán hết để ăn tiêu.
Lời khai của Thợi tại cơ quan điều tra còn ghi rõ: “Một tuần sau, tôi quay lại nhà ông Thể lấy chín lạng nữa đem lên Lạng Sơn nhờ ông Lộc đánh thành nhẫn. Sau đó lên lấy thì ông Lộc chỉ đưa cho 40 cái nhẫn (khoảng bốn lạng vàng). Số nhẫn này tôi mang về Hà Nội nhờ vợ Sửu bán hộ. Bán mãi ở Hà Nội sợ lộ nên tôi hai lần mang vàng xuống Hải Phòng, nhờ ông Bách ở bến Vạn Kiếp bán được khoảng 500 đồng”. Số vàng Thợi nhờ vợ chồng Đỗ Văn Sửu bán, sau này Sửu chỉ đưa lại 600 đồng, còn lại vợ chồng Sửu nợ nhưng sau này quỵt luôn.
Thợi khai rằng, những lần ngủ lại nhà vợ chồng Sửu, đêm nào anh ta cũng bị vợ chồng Sửu lần mò ăn trộm vàng, có lần bị mất vài đồng cân, có lúc 30 đồng, 50 đồng, nhiều đến nỗi chính anh ta cũng không nhớ hết. Biết là bị vợ chồng Sửu “ức hiếp”, nhưng không còn chốn nương thân, trong khi công an lại đang ráo riết điều tra vụ án, vì thế anh ta đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, bởi ngủ lại nhà Sửu thì không cần giấy thông hành. Cũng xin nói thêm, toàn bộ giấy thông hành giả của Thợi mang tên Sơn, Khiêm, Chiểu, Chiến, Trương đều do Đỗ Văn Sửu cung cấp với giá 100 đồng/giấy. Có lần Sửu đưa cho Thợi cả giấy thông hành khống, để Thợi muốn viết tên gì thì viết.
Trước khi bị bắt ba tháng, Thợi đã gần như “cháy túi”. Trong một đêm mưa giông rét mướt, Thợi đến nhà Sửu xin ngủ nhờ nhưng bị vợ chồng Sửu đuổi đi vì biết không “cào cấu” được đồng nào nữa. Thợi đành thất thểu đến nhà ông Hội làm nghề thợ giặt ở phố Hàng Buồm xin tá túc một đêm. Đến lúc ấy Thợi mới ngấm cuộc đời giang hồ bị trả giá quá đắt. Thợi mang số vàng chừng 18 lạng và cái âu đựng trầu bằng vàng nhờ con dâu ông Thể dẫn đến một hiệu vàng ở Yên Viên đánh thành nhẫn, hoa tai. Tại đây, Thợi cũng bị ăn chặn gần một nửa.
Số còn lại khoảng hơn ba chục lạng, Thợi nhờ ông Bạo bán thịt chó ở phố Mã Mây mang đi đánh thành nhẫn và bán hộ. Theo Thợi thì ông Thể mới chính là kẻ ăn chặn của hắn nhiều nhất, khoảng 12 lạng vàng, bởi lúc chôn vàng, hắn nhớ như in là có một miếng chừng 12 lạng, nhưng lúc đến lấy thì không còn, tất nhiên ông Thể chối bay chối biến.
Tuy nhiên, luôn tỏ ra một tay biết chơi đẹp, Thợi hào phóng tặng gia đình Thể và Sửu sáu lạng vàng, tặng mẹ đẻ Sửu, vợ Sửu và một số người nữa, mỗi người vài đồng cân. Còn khoảng 14 lạng vàng đã đánh thành nhẫn, Thợi mang lên nhà chị dâu ở Thái Nguyên, chôn ở đầu hồi nhà nhưng vì mỗi lần hết tiền phải lên tận Thái Nguyên lấy nên hắn mang hết về nhà ông Thể giấu để tiêu dần.

Phòng nhà Nguyễn trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
THẤY BỞ ĐÀO MÃI
Chỉ sau khi gây ra vụ trộm ấn tín chừng vài ngày, Thợi quay lại xem tình hình thế nào thì thấy cánh cửa bảo tàng vẫn như cũ khi ấy bảo tàng còn chưa phát hiện ra vụ trộm. Nhưng lần trộm đó, vì đi cùng với Bạt và cũng phải chia cho nhiều người nên số vàng Thợi được “chẳng thấm vào đâu” (theo lời hắn khai), nên lần thứ hai, Thợi quyết định làm một mình. Hắn đến phố Hàng Bài đặt làm bốn chiếc chìa khóa.
Chiều 3-1-1962, Thợi giả làm khách tham quan bảo tàng. Do đã vài lần vào đây nên Thợi biết trong bảo tàng có một căn phòng tối, không có ai ở nên chui vào đây đợi đến đêm mới ra tay. Trong lúc chờ hành động, hắn đã phóng uế ra và dùng luôn tờ giấy gói ô mai lấy từ nhà Đỗ Mộng Dần ra để dùng. Một giờ sáng, Thợi mò ra theo dõi người gác cửa dưới nhà. Khi người này đổi gác, Thợi tranh thủ chạy ra phía tủ đựng ấn, dùng chìa khóa làm ở phố Hàng Bài để mở. Hai chiếc đầu không mở được, đến chìa thứ tư mới thành công, hắn gói chiếc ấn và hai quyển kim sách chạy ra ngoài.
Thợi giấu chiếc ấn ở ven đê sông Hồng, sau đó về nhà Sửu ngủ đến sáng. Buổi chiều hôm sau, Thợi ra ven đê đào ấn lên và lại mang sang nhà Thể ở Yên Viên giấu. Thợi cắt thử bốn tờ kim sách mang đến nhà người thợ bạc ở Yên Viên thử, người ta nói vàng giả, hắn liền vo viên lại đem đến nhờ ông Bạo bán hộ. Ông này bảo đây là bạc rất rẻ. Không cần suy nghĩ, Thợi liền đi bộ ra hồ Hoàn Kiếm ném xuống. Thợi còn liều lĩnh đến mức, vài ngày sau lại đến “tham quan” Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để xem còn gì ăn trộm được, nhưng lần này bảo tàng treo biển “Tạm nghỉ hai tháng để chỉnh đốn lại, khi nào mở cửa sẽ thông báo sau”.
Căn cứ vào lời khai này, cơ quan công an đã đến nhà Thể khám xét và thu được một ấn bạc nặng 74 lạng cùng nhiều dụng cụ như cưa, búa, đục. Khám nhà những đối tượng liên quan, CA thu thêm 33 lạng, 5 phân vàng ta, 1 lạng vàng tây, 2,5kg bạc (trong đó có 1kg là của quyển kim sách), 1.965 đồng tiền mặt và một số tài sản khác. Hai mươi đối tượng đã bị bắt giam nhưng Bạt thì vẫn bặt vô âm tín.
Trở lại câu chuyện về Bạt. Sau khi mãn hạn tù về tội dụ dỗ đồng bào vào Nam, Bạt tiếp tục phạm tội và tháng 4-1961 bị Công an huyện Việt Yên bắt. Ngày 16-5-1961, đang trên đường di lý từ Bắc Giang về Hà Nội thì hắn trốn thoát, sau đó đã cùng với Thợi gây ra vụ trộm ấn tín nói trên.
Theo lời khai của bà Mùi (vợ Bạt), năm 1961, Bạt về quê và nhắn người gọi vợ ra chợ làng, đưa cho một gói vàng. “Tôi rất lo lắng nhưng Bạt trấn an tôi đừng lo, sau này sẽ thu xếp ra Hà Nội. Khoảng tháng 5-1961, Bạt lại về quê. Sau khi ăn cơm, Bạt đưa tôi một bọc giấy báo bảo mang cất. Về đến nhà, tôi mở ra mới biết là vàng. Đến ngày 17-7-1961, tôi về Sen Hồ ăn giỗ ông cụ, đêm khuya thì Bạt về. Chị Hương là chị họ của Bạt bảo tôi sang nhà chị để gặp Bạt”. Đêm hôm đó, dân quân phát hiện Bạt đang ẩn náu ở quê liền tổ chức phục bắt. Biết bị phát hiện, Bạt bỏ chạy và bị bắn trọng thương, sau đó chết ở nhà thương Phủ Doãn, nay là Bệnh viện Việt-Đức, Hà Nội.
Trong hai ngày 3 và 4-2-1964, Tòa án nhân dân Hà Nội mở phiên tòa xét xử Nguyễn Văn Thợi và đồng bọn về các tội danh “trộm cổ vật có giá trị lớn; phá hủy di tích lịch sử; trộm tài sản hợp tác xã; tàng trữ và tiêu thụ của gian; vi phạm chính sách quản lý vàng bạc của nhà nước”, Nguyễn Văn Thợi bị tuyên tù chung thân, Đỗ Văn Sửu 11 năm tù giam, Đỗ Văn Huệ (tức Thể) 4 năm tù giam, các đối tượng khác từ 1 đến 3 năm tù giam và đều phải truy hoàn số vàng đã tiêu thụ.
Gần 50 năm đã trôi qua, vụ trộm hy hữu trong lịch sử và có thể nói là vụ trộm gây xôn xao dư luận nhất trong thế kỷ XX chỉ còn trên những trang hồ sơ cũ nhoè mực, nhưng trong ký ức của những người trực tiếp điều tra, khám phá thì hình như vụ án mới chỉ xảy ra hôm qua. Với chúng tôi, nó còn nguyên tính thời sự cũng như rút ra từ đó khá nhiều bài học về công tác kỹ thuật hình sự, khám nghiệm hiện trường. Chỉ tiếc rằng, chiếc ấn tín mang giá trị lịch sử to lớn đã không thể thu lại được nguyên vẹn.
HỒ PHƯƠNG (CATP)