Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Chiến dịch Tây Nguyên dưới con mắt sử gia Mỹ

25/03/2010 15 phút đọc Theo: Khoa học đời sống
"Trên thực tế, mười ngày sau cuộc tiến công Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam Cộng hòa trong nửa bắc của đất nước
Chiến dịch Tây Nguyên dưới con mắt sử gia Mỹ

"Trên thực tế, mười ngày sau cuộc tiến công Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam Cộng hòa trong nửa bắc của đất nước tan rã vì Thiệu gây ra hoang mang tuyệt đối cho nó" - Chiến dịch Tây Nguyên được nhìn lại trong cuốn sách giải phẫu một cuộc chiến tranh" của sử gia người Mỹ Gabriel Kolko.

 

Đầu 3/1975, kết quả cuộc chiến tranh chắc chắn phản ánh toàn bộ hai thập kỷ của những gì xảy ra ở Nam Việt Nam, nhưng hình thức chính xác của sự kết thúc sẽ được gắn liền ở một mức độ đáng chú ý, vào suy xét và thái độ xử sự của Nguyễn Văn Thiệu.

 

Mỹ hoàn toàn dựa vào Thiệu để chứng minh lòng tin và hiệu quả tượng trưng của chính sách đối ngoại, làm cho cố gắng lâu dài của mình không mạnh gì hơn một con người mà một chế độ mà ngay từ đầu đã phụ thuộc vào Mỹ. Đó là một mối quan hệ đầy nguy hiểm cho cả chính quyền phò lẫn những người cộng tác với Mỹ ở Sài Gòn.

 

Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975, trận đánh mở  màn cho cú điểm
Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975, trận đánh mở màn cho cứ điểm "tử huyệt" Tây Nguyên. Ảnh CAND


Quyết định của Đảng tiến công cao nguyên Trung Bộ đã xảy ra vào lúc vị trí của Việt Nam cộng hòa trong khu vực đặc biệt suy yếu. Những bộ tộc miền núi trong các đơn vị vũ trang địa phương của Việt Nam cộng hòa, đặc biệt là quanh Buôn Ma Thuột, công khai chống lại Thiệu nhất là vì sự cướp bóc của quân đội Việt Nam cộng hòa.

 

Họ không muốn báo cáo việc di chuyển rất nhiều Quân đội nhân dân Việt Nam vào khu vực trong tháng 2. Tinh thần quân đội Việt Nam cộng hòa ở cao nguyên cũng thấp như ở khắp các nơi khác; tỷ lệ nghiện ma túy được báo cáo là 30% ở vùng Pleiku và ma túy là do sĩ quan bán cho.

Tuy vậy tình báo của quân đội Việt Nam cộng hòa biết trước vào giữa tháng 2 rằng một cuộc tiến công lớn sắp xảy ra ở cao nguyên và Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính; nhưng tư lệnh vùng chiến thuật II thì cho rằng Pleiku là mục tiêu chính và ông ta chuẩn bị theo hướng đó.

 

Trong khi đó thì Quân đội nhân dân Việt Nam làm cho ông ta càng tin vào nhận định của mình bằng cách tổ chức những hành động nghi binh cả ở khu vực đó lần ở quanh Huế và tây Sài Gòn, một lần nữa buộc toàn bộ lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa đóng quân tại chỗ.

 

Họ bố trí rất cẩn thận nhằm cắt tất cả các đường chính để không thể đưa thêm quân vào cao nguyên hoặc đưa từ Pleiku  và Kon Tum để tiếp viện cho Buôn Ma Thuột, hoặc không cho quân của Thiệu thoát nếu Thiệu ra lệnh rút lui chiến lược khỏi khu vực, một cuộc rút lui mà họ biết đang được thảo luận trong nhiều tháng rồi.

Lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa ở cao nguyên có đủ dự trữ để chiến đấu trong hai tháng. Các tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chuẩn bị cho một chiến dịch hai tháng, trước khi mùa mưa gây khó khăn cho trang bị nặng của họ.

 

Tính toán của họ là dựa trên khả năng của quân đội Việt Nam cộng hòa. Như một sĩ quan Mỹ về sau kết luận: "Người Bắc Việt Nam không khởi xướng chiến dịch với một ưu thế lực lượng áp đảo". Dự kiến lạc quan nhất của họ là toàn bộ cao nguyên có thể chiếm được trong năm 1975, tuy năm 1976 là đích có nhiều khả năng hơn. Trừ khi Thiệu ra lệnh rút lui nếu không họ cho là phải có thời gian để chiếm các đô thị lớn của cao nguyên.

Cuộc tiến công Buôn Ma Thuột xảy ra sáng sớm ngày 10/3. Các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất tốt, gây được bất ngờ và chặn được mọi tiếp viện đến thành phố. Khi không quân Việt Nam cộng hòa được phái đến, một máy bay đánh vào trung tâm tổ chức bảo vệ thành phố, phá hủy hoàn toàn trung tâm đó và kết thúc mọi sự phòng thủ có tổ chức. Tiếp theo là một loạt các sự kiện bộc lộ nhược điểm cơ cấu cơ bản của các lực lượng Việt Nam cộng hòa trên khắp đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm thành phố và ngày hôm sau Thiệu ra lệnh cho tư lệnh vùng chiến thuật II chiếm lại, coi nó quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum.

 

Hai trung đoàn quân tích cực, tận tụy của quân đội Việt Nam cộng hòa được không vận xuống một đô thị 30 km đông Buôn Ma Thuột ngày 14/3 và hy vọng sẽ đánh tốt vì gia đình của họ bị kẹt ở Buôn Ma Thuột.

 

Nhưng vì nhiều người trong gia đình của họ đã rời thành phố và chạy tán loạn khắp nơi, binh lính liền bỏ đơn vị và vũ khí để đi tìm gia đình. Sự trung thành của binh lính với gia đình mà phần lớn sống gần họ đã được lập lại khắp nơi, làm sụp đổ hoàn toàn tình đoàn kết chiến đấu và kỷ luật, và làm một nguyên nhân cơ bản thất bại Việt Nam cộng hòa.

Tư lệnh sư đoàn hai mươi ba cũng bỏ nhiệm sở để đưa gia đình ra ngoài bằng máy bay lên thẳng. Vì đông đảo binh lính và gia đình họ làm tắc nghẽn các đường khi tìm cách chạy thoát ra bờ biển cách đó gần một trăm km, sự hoảng sợ và hỗn loạn bắt đầu lan ra trên khắp khu vực.

Cuộc tiến công mở màn ở cao nguyên Trung Bộ được tiếp theo với một loạt các cuộc tiến công nhỏ hơn ở khắp nơi làm cho Thiệu hoang mang không biết các mục tiêu chính và khả năng của Cách mạng như thế nào.

Vì vậy sự có mặt của Cách mạng trên khắp Nam Việt Nam đã gây ra những sức ép và bối cảnh cho sai lầm chiến lược tai họa của Thiệu, mà nếu không có nó, chiến tranh có thể còn kéo dài như Cách mạng đã tính toán.

Vì số lớn các lực lượng vũ trang của Cách mạng là các đơn vị chính quy, chủ yếu từ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho nên các lực lượng địa phương rải ra trên khắp đất nước có một tầm quan trọng chất lượng đối với Thiệu và ảnh hưởng đến tính toán và triển khai lực lượng của ông ta.

Về phía mình, Quân đội nhân dân Việt Nam tự do tập trung lực lượng để giành ưu thế bởi vì các đơn vị địa phương ở vùng chiến thuật I hoặc ở đồng bằng sông Cửu Long đã là mối đe dọa cho quân đội Việt Nam cộng hòa trong những ngày trước cuộc tiến công mở màn vào Buôn Ma Thuột và trong những tuần tiếp theo, khi các lực lượng địa phương kiểm soát các đô thị lớn phía bắc Nam Việt Nam.

Chính sự cần thiết nghiệt ngã phải triển khai quân đội trên toàn đất nước, mặc dù chống lại những du kích ít hơn về số lượng và được trang bị nghèo nàn hơn, đã đưa đến sai lầm chiến lược của Thiệu và sự kết thúc choáng váng của chiến tranh trong chỉ sáu tuần.

Thiệu đã tìm cách biến quân đội Việt Nam cộng hòa thành một vũ khí chính trị quá lâu nên ông ta không thể thay đổi được, vì vậy với chiến dịch Tây Nguyên ông ta có ít lựa chọn trước mắt.

 

Cả Lam Sơn 719 lẫn cuộc tiến công mùa xuân 1972 đã bộc lộ tính chất không vững vàng và không thông thạo của ông ta với tư cách là một nhà chiến lược quân sự. Vì những lý do chính trị rõ rệt, Thiệu đã chống lại sự cải tổ chiến lược mà các lực lượng của ông ta đã được thảo luận từ tháng 8/1974.

Ngày 10/3 sau khi tham khảo lần cuối cùng với Đại sứ quán Mỹ, Mac-tin đang ở Mỹ cho đến cuối tháng để chữa răng, Thiệu quyết định triển khai lại quân đội của mình.

 

Sáng ngày 11/3, khi Buôn Ma Thuột đã mất, ông ta báo cho các cố vấn quân sự cấp cao về kế hoạch chỉ giữ những thành phố bờ biển then chốt trong các vùng chiến thuật I và II và bỏ tất cả vùng cao nguyên, trừ vùng Buôn Ma Thuột sẽ được chiếm lại. Cùng với nửa nam của đất nước, vùng đó sẽ hình thành một cơ sở cho một Việt Nam cộng hòa có thể bảo vệ về mặt lãnh thổ và có một dự trữ chiến lược.

Được các kẻ nịnh hót quân sự của ông ta là những quan chức cấp thấp ở Sứ quán Mỹ hà hơi, Thiệu đưa ra quyết định tai họa nhất của cuộc chiến tranh như là một cố gắng tuyệt vọng để đối phó với cuộc tiến công của Cách mạng. Hai ngày tiếp theo ông ta nghiền ngẫm lại kế hoạch mà một số bộ phận trên thực tế đã được thực hiện, gặp nhà bói toán của ông ta và gặp Tet Xa-rông, cả hai người này đều hoài nghi.

 

Rồi ngày 14 tháng 3, ông ta bay đi Cam Ranh để ra lệnh cho tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh vùng chiến thuật II, bỏ toàn bộ cao nguyên trong vòng hai ngày. Họ sẽ dùng các lực lượng rút từ khu vực Kon Tum - Pleiku để chiếm lại vùng Buôn Ma Thuột.

 

Phú không được nói với ai về kế hoạch di tản trừ các sĩ quan cấp cao, nhất là ông ta cũng không báo cho các đơn vị địa phương, trước khi cuộc di tản bắt đầu. Đây là một kế hoạch ngẫu hứng, không được dự định từ trước và khi Phú thất bại trong việc chiếm lại Buôn Ma Thuột, thì tất cả các nhân tố đã làm cho thảm họa trở thành điều chắc chắn, tuy tính chất ác liệt thì khó có thể tưởng tượng được hết.

Trong khi không có quan chức Mỹ nào dính líu vào kế hoạch này, nhưng họ biết nó sắp xảy ra. Liền sau khi nó bắt đầu, Oét-mo-len ở Oa-sinh-tơn gọi nó là một "hành động khôn ngoan". Chỉ khi nó tỏ ra là thảm họa, họ mới tìm cách tách xa mình ra. Mặc dù không có người Mỹ trọng yếu nào tham gia quyết định cụ thể, nhưng họ đã góp phần trong các cuộc thảo luận sau tháng 8, gây cảm hứng cho chủ trương đó. Trên hết, chính họ đã chọn Thiệu như là tổng tư lệnh và làm cho lời nói của ông ta trở thành mệnh lệnh.

Cuộc rút lui bắt đầu ngày 16/3. Sau khi tướng Phú gặp các sĩ quan của mình ở Pleiku, ông ta trở về hưởng sự an toàn của Cam Ranh, bỏ cho họ tự xoay xở lấy.

 

Một sĩ quan có hỏi về số phận của những nhân viên Việt Nam cộng hòa, những lực lượng địa phương và gia đình của binh lính Việt Nam cộng hòa, thì Phú ra lệnh, đúng theo lệnh của Thiệu: "Hãy quên họ đi. Anh không có trách nhiệm chăm sóc họ?... Nếu anh nói với họ về việc đó anh sẽ không kiểm soát được và không thể xuống đến Tuy Hòa vì sẽ có tình trạng hoảng hốt (xem Hosmer quyển "Fall of South Vietnam" trang 188).

Tuy nhiên, khi quân đội Việt Nam cộng hòa rút lui theo một con đường đã bị bỏ và không còn nhận ra được nữa, để xuống vùng bờ biển, thì gia đình của họ cũng theo với họ, và ngay tức khắc xảy ra một sự hỗn loạn cực độ. Nổi loạn, cướp bóc, hiếp dâm xảy ra trong suốt cuộc rút chạy và sự hoảng sợ do việc bỏ cao nguyên gây ra đã lan rộng đến vùng xa xôi như Huế.

 

Những đợt sóng các lực lượng quân sự, gia đình họ và những người dân sự chen chúc nhau trên con đường ngập cỏ, bụi cây, không còn những chiếc cầu quan trọng, đã hỗn loạn hoàn toàn và còn bị chính máy bay của họ bắn phá, ít nhất ba phần tư lực lượng quân sự của vùng chiến thuật II đã bị tiêu diệt trong cuộc tán loạn đó và trong 400.000 người dân sự tìm cách chạy xuống vùng biển, chỉ một phần tư tới nơi.

 

Những người sống sót loan truyền những câu chuyện về sự khủng khiếp và lừa dối của Việt Nam cộng hòa làm cho mọi người càng thêm hoảng sợ.

 

Từ đó trở đi, đại bộ phận quân đội Việt Nam cộng hòa, kể cả các sĩ quan, dành lòng trung thành của họ cho gia đình họ chứ không phải cho các cấp chỉ huy mỗi khi bị Cách mạng tiến công, và một bộ phận rất lớn trang bị của họ bị vứt bỏ dọc đường.

Trong khi đó, những đơn vị tương đối nhỏ của Quân đội nhân dân Việt Nam gây sức ép đối với những cơ sở của quân đội Việt Nam cộng hòa gần Huế, là những cơ sở có thể dễ dàng giữ vững cho đến khi tin tức về cuộc tán loạn ở cao nguyên lọt đến họ.

 

Quan trọng hơn nữa là sư đoàn dù tinh nhuệ ở phía bắc Huế, ngày 12/3, được điều về Sài Gòn vì lý do chủ yếu là chính trị, do đó mà làm yếu nghiêm trọng sự phòng thủ của vùng chiến thuật I.

Ngày 13, tư lệnh vùng chiến thuật I, trung tướng Ngô Quang Trưởng gặp Thiệu yêu cầu bỏ lệnh đó, và Thiệu báo cho ông ta bỏ tất cả vùng chiến thuật I, tập trung phòng thủ quanh Đà Nẵng và xây dựng một dự trữ chiến lược với những lực lượng dôi ra.

 

Khi Trưởng trở về Huế, Thiệu chỉ thị cho ông ta đẩy nhanh việc rút quân; ngay khi việc rút quân bắt đầu thì quân đội Việt Nam cộng hòa tại vùng chiến thuật I bắt đầu tan rã.

 

Gia đình quân đội chạy theo, những người dân sự hốt hoảng và ngay tức khắc, một bể người như loạn trí làm tắc nghẽn các ngả đường. Cướp bóc xảy ra khắp nơi, các đơn vị tan rã khi binh lính bỏ hàng ngũ đi tìm gia đình. Nhân dân khiếp sợ vì những cuộc cướp bóc, hiếp dâm không bao giờ dứt và vì những cuộc bắn nhau giữa lính các đơn vị của quân đội Việt Nam cộng hòa.

Khi sự khiếp sợ lan tràn, cuối cùng hai triệu người đổ vào Đà Nẵng; và một cảnh tưởng hỗn loạn và suy đồi vô hạn diễn ra. Thiệu gọi Trưởng về Sài Gòn ngày 19 và cho ông ta hoàn toàn tự do làm theo chiến lược của riêng mình.

 

Vào lúc đó, sự tan rã của quân đội và sự cuồng loạn của quần chúng không còn để cho ông ta bao nhiêu lựa chọn. Trưởng đòi bảo vệ Huế và Thiệu đồng ý. Thiệu lên đài truyền hình chiều hôm sau với một phát biểu kỳ lạ bốn phút nhằm làm an tâm những người theo ông ta nhưng lại làm cho họ bực mình vì phát biểu quá ngắn. Ông ta tuyên bố sẽ giữ Huế với bất cứ giá nào.

 

Nhưng cũng chính chiều hôm đó, ông ta bí mật một lần nữa ra lệnh cho Trưởng chỉ tập trung phòng thủ Đà Nẵng và cho lữ đoàn dù cuối cùng về Sài Gòn ngay. Trên thực tế, mười ngày sau cuộc tiến công Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam cộng hòa trong nửa bắc của đất nước tan rã vì Thiệu gây ra hoang mang tuyệt đối cho nó.

 

(Trích chương: Cái bắt đầu của sự kết thúc: Tháng 3 năm 1975 và cuộc tán loạn quân sự, sách Giải  phẫu một cuộc chiến tranh, Tác giả Gabriel Kolko)

 

Khoa học Đời Sống 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu