![]() |
| Ngô Đình Diệm bị bắn chết vào tháng 11.1963 - Ảnh: T.L |
Từ nhỏ, ông Thiệu đã phải vất vả đi bán từng cái bánh ú, bánh đậu phụng ngào đường để kiếm thêm tiền sinh nhai. Mỗi dịp Tết Nguyên đán, nhà ông thường nấu bánh tét để cúng tổ tiên theo tục lệ và tín ngưỡng của người theo đạo Phật ở Phan Rang. Sau khi ông và bà Mai Anh cưới nhau năm 1951, ông đã cải đạo sang Công giáo và từng nói với tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ tại dinh Độc Lập: “Tôi bao giờ cũng sẵn sàng nghe theo lời khuyến cáo của các cha”.
Là con chiên ngoan đạo, cả bà Mai Anh lẫn ông Thiệu đã lắng nghe thông điệp của Giáo hoàng Phao-lô đệ lục phát đi từ Vatican trước tình hình đàn áp Phật giáo của Diệm - Nhu lúc bấy giờ: “Giáo hoàng biểu lộ sự chú tâm và đau đớn theo dõi các biến cố bi thảm đương giày vò nhân dân Việt Nam, và giáo hoàng ngày càng lo âu, cầu nguyện cho tất cả mọi người (trong và ngoại đạo ở Việt Nam) sẽ sống trong mối hợp tác khoan dung và sự tương kính lẫn nhau về các quyền tự do tín ngưỡng và tình huynh đệ tương thân”.
Vợ chồng ông Thiệu cũng biết linh mục Lê Quang Oánh từng bày tỏ sự đồng tình với cuộc đấu tranh của Phật giáo qua quyết tâm thư gửi từ Đà Lạt: “Chúng tôi lên án “tội bất công” (của Diệm - Nhu) đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam cộng hòa”.
| Bà Nguyễn Thị Mai Anh và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từng nghe người ta gán cho chế độ Ngô Đình Diệm từ "độc tài" hoặc "gia đình trị". Nhưng thật ra, dùng chữ "toàn trị" (totalitarisme) thì chính xác hơn (...). Là vì trong 9 năm cầm quyền (1954 - 1963), ông Diệm đã đưa toàn thể xã hội vào trong guồng máy của đảng Cần lao Nhân vị của Phong trào Cách mạng quốc gia, của Thanh niên cộng hòa, của Phụ nữ liên đới... GS Cao Huy Thuần |
Cũng vậy, mục sư Donald Harrington trong buổi giảng tại thánh đường New York ở Mỹ đã phát biểu: “Người (bồ tát Thích Quảng Đức) đã làm cho mỗi người Hoa Kỳ phải đi tìm linh hồn của người và làm cho Chính phủ Hoa Kỳ biết rằng, trừ phi chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo đối với Phật giáo, nếu không tất cả mọi viện trợ của Hoa Kỳ đều nên chấm dứt tức khắc”.
Trước thông điệp của Vatican và tinh thần ủng hộ Phật giáo, chống Diệm - Nhu của các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Hàn Quốc..., ông bà Nguyễn Văn Thiệu không khỏi suy nghĩ để chọn lựa một thái độ thích đáng. Nên khi đại diện của Hội đồng Quân nhân lật đổ Diệm - Nhu bí mật đến gặp để giao nhiệm vụ, ông Thiệu đã đồng ý hợp tác. Và với cương vị đại tá Tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh đóng tại Biên Hòa, ông được chỉ định trực tiếp cầm quân đánh vào dinh Tổng thống của ông Diệm (dinh Gia Long).
Có thể nói, đó là mũi tấn công quyết định để kết thúc số phận của nền “đệ nhất cộng hòa” và sự sống còn của hai ông Diệm - Nhu (lúc này bà Trần Lệ Xuân đã ra nước ngoài). Có thể bà Mai Anh “chạnh lòng” phần nào đối với sinh mệnh của các ông Diệm - Nhu (?), và băn khoăn trước nhiệm vụ khó khăn của chồng mình, nên bà muốn trì hoãn việc tiến quân của chồng bằng cách bỏ thuốc ngủ vào thức uống của ông Thiệu.
Cách làm thô sơ này được TS Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn của Tổng thống Thiệu, và Jerrold L.Schecter ghi lại trong hồ sơ mật “Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập” khá rõ: “Vào đêm đảo chính, nhiệm vụ của Thiệu là chiếm dinh Tổng thống. Vợ ông ta (bà Mai Anh) vì muốn bảo vệ chồng nên đã bỏ thuốc ngủ vào cà phê của chồng. Nhưng Thiệu vẫn thức dậy được và mặc dù không đứng vững nổi, ông ta đã đến đánh chiếm dinh Tổng thống, dầu hơi muộn màng. Vì lúc ấy, Diệm và Nhu đã đến chỗ lánh nạn ở Chợ Lớn, tại nhà một nhà buôn người Hoa tên là Mã Tuyên ở đường Đốc Phủ Thoại. Ngôi biệt thự đã được trang bị một hệ thống liên lạc khẩn cấp, và một trong những máy điện thoại được nối với hệ thống điện thoại ở dinh Tổng thống để khi Diệm nói chuyện với các tướng trong đêm khuya thì họ không biết ông Diệm đã không còn ở trong dinh nữa. Đội phòng vệ dinh Tổng thống đã tiếp tục chiến đấu suốt đêm mà không hề biết rằng lãnh tụ của họ đã ra đi”.
Khi ấy, ông Thiệu vẫn ra lệnh tấn công quyết liệt và chiếm dinh Tổng thống vào rạng sáng 1.11.1963. Khi tràn vào, quân của ông đã lùng sục lấy đi nhiều đồ cổ của ông Diệm, các chai rượu ngoại của ông Nhu. Đồ trang sức và trang phục của bà Trần Lệ Xuân, những thứ gì đem bán lấy tiền được đều bị vơ vét. Để đối phó, ông Thiệu ra lệnh dùng roi da đánh phạt những người lính bị bắt quả tang trong khi cướp bóc. Khi quay về trụ sở Bộ Tổng tham mưu và thấy chiếc xe bọc thép từ phía Chợ Lớn chạy về đậu trước sân, ông Thiệu cùng các sĩ quan cao cấp của Hội đồng Quân nhân đảo chính ra lệnh mở cửa sau của xe bọc thép, thấy lộ ra xác chết của hai ông Diệm và Nhu bị lỗ chỗ vết đạn và vết lưỡi lê đâm, “Thiệu sửng sốt, ngậm ngùi ngã mũ cúi chào trước hai thi thể”. Về sau này, ông Thiệu bảo: “Nếu khi tấn công vào dinh Gia Long, gặp anh em Tổng thống Diệm - Nhu, tôi sẽ đưa họ về trụ sở Bộ Tổng tham mưu trên một chiếc xe Jeep mui trần, như thế chẳng ai dám giết họ công khai như vậy”.
Khi đã là tổng thống, hằng năm vào ngày 1.11, ông Thiệu ra lệnh tổ chức lễ quốc khánh trọng thể khắp miền Nam như một “ngày hội quốc gia”. Cũng ngày đó, bà Mai Anh và ông Thiệu âm thầm tưởng niệm người đã khuất, như tài liệu TS Nguyễn Tiến Hưng và Schecter đã ghi: “Thiệu cùng vợ tổ chức riêng một lễ tưởng niệm Tổng thống Diệm ở đền thờ trong dinh Độc Lập và cầu nguyện cho linh hồn họ yên nghỉ. Cuộc lễ được linh mục riêng của Thiệu cử hành và ông linh mục đã hỏi suy nghĩ của ông Thiệu (vào dịp lễ này) và nghe trả lời: “Chúng tôi cầu mong cho linh hồn của ngài (Ngô Đình Diệm) mau được lên thiên đàng và mong ngài sẽ cầu nguyện cho chúng tôi (Nguyễn Văn Thiệu và gia quyến, thuộc hạ) trong giờ phút khó khăn này. Như thế Thiệu đang an ủi cho Diệm trong thế giới bên kia và cầu nguyện cho cả Diệm lẫn... chính mình nữa”.
Vì sao vậy?
![]() |
| Bà Mai Anh (áo dài hoa) trong một dịp tiếp xúc với người dân Chợ Lớn - Ảnh: T.L |
Ông Thiệu và vợ là bà Mai Anh đều rất lo sợ điều ấy sẽ một lần nữa ứng vào hoàn cảnh của họ. Nhất là vào những ngày căng thẳng trước khi ký Hiệp định Paris 1973, lúc Mỹ đang muốn rút khỏi cuộc chiến tại Việt Nam và muốn đàm phán thực chất với Hà Nội, thì Thiệu lại cho “quá trình đàm phán là quá trình thất bại”. Nghĩa là quan điểm của ông Thiệu có khác với Mỹ.
Điều đó Mỹ chẳng ưa gì và chắc hẳn sẽ chẳng ngần ngại trong việc “thanh toán” Thiệu khi cần, vào thời điểm thích hợp nào đó... Linh cảm điều ấy nên ông Thiệu bồn chồn, lo lắng, mường tượng lại cảnh hai ông Diệm - Nhu bị giết chết năm nào như một chuyên gia hàng đầu của Thiệu ở dinh Độc Lập thuật lại: “Cảnh tượng Diệm và Nhu nằm trên sàn chiếc thiết giáp M113 đã ám ảnh Thiệu. Ông ta luôn luôn ghê sợ sự mưu sát do Mỹ chủ mưu hoặc hỗ trợ. Việc lật đổ và sát hại anh em Diệm - Nhu cho Thiệu thấy rằng, nếu người Mỹ không hài lòng với một nhà lãnh đạo Việt Nam, thì họ sẽ loại trừ người đó không thương tiếc (...) Theo Lucien Conein thì các tướng Sài Gòn đã dự định đưa Diệm - Nhu đến vùng săn bắn của chính phủ ở Pleiku cho đến khi có máy bay (của Mỹ) đến đưa ra nước ngoài”.
| Tôi biết bà Thiệu (Nguyễn Thị Mai Anh) đã chưng diện bằng kim cương làm ai cũng phải chú ý (trong mỗi lần dạ hội, dạ vũ, hoặc tiếp xúc) và riêng Tổng thống Thiệu đã xây một cơ đồ rất to lớn ở Pháp và Thụy Sĩ (...) Điều ấy chắc không làm tất cả phải kinh ngạc vì có lẽ hầu hết tổng thống tại các nước không ổn định luôn tìm cách kiếm ra tiền cho riêng họ, để phòng khi họ bị mất chức (có thể chi dùng, sinh sống). Điều ấy càng rõ hơn khi tôi đi dự hội nghị ở thủ đô Manila với cấp lãnh đạo của chính phủ Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Thái Lan và Nam Triều Tiên hồi năm 1966, gặp Tổng thống của Philippines là Marcos đã kéo tôi ra một bên và nói riêng với tôi lời khuyên khôn ngoan đối với một người trẻ tuổi, rằng: "Này anh, anh nên lo cho tương lai của anh, hãy nghĩ đến nguy cơ của một cuộc đảo chính lật đổ anh". Rồi Marcos kết luận: "Giả dụ như có chuyện gì xảy ra, anh nên nghe theo tôi (mà đề phòng trước). Như tôi (Marcos) luôn luôn có sẵn hai valy ở bên giường ngủ của mình (để khi có biến cố là hai tay cầm hai valy bay đi ngay | |
| Nguyễn Cao Kỳ |
Để tránh hậu quả khôn lường, ông Thiệu đã sắp xếp để bà Mai Anh và các con mình rời Việt Nam ra nước ngoài trước ngày quân giải phóng chọc thủng phòng tuyến bảo vệ vành đai Sài Gòn. Còn lại một mình ở dinh Độc Lập, ông Thiệu nhắc nhở lực lượng phòng thủ Phủ Tổng thống hãy thường xuyên xem chừng và canh phòng cẩn mật tầng hầm quân sự thiết kế cách mặt đất khoảng hơn 1m (dưới tầng trệt dinh Độc Lập).
Ở hầm này, có phòng chỉ huy tham mưu tác chiến, có tổng đài liên lạc với các tỉnh, có trung tâm thông tin phát thanh và phòng ngủ trực chiến của tổng thống. Sâu hơn nữa, có hầm trú ẩn an toàn dành cho gia đình tổng thống và bộ tham mưu, nằm sâu cách mặt đất khoảng 4m. Khi bà Mai Anh đi rồi, ông Thiệu không ít lần rời phòng ngủ của mình ở lầu 3 để xuống các tầng hầm này xem xét, đôn đốc kiểm tra, dường như ông muốn chuẩn bị thật kỹ cho chỗ ẩn núp của mình một khi có “sự cố” bất ngờ trong tháng 4. Từ tầng hầm bước lên, ông có thể dạo một vòng quanh tầng 1 qua phòng Khánh tiết, phòng họp Hội đồng nội các, phòng Đại yến.
Lên tiếp đó là tầng 2 dinh Độc Lập, nơi ông đã tiếp các tổng thống, phó tổng thống, đón chào đại diện các quốc gia trên thế giới đến thăm hữu nghị. Giờ đây trước mắt ông tấm thảm tròn màu đỏ không còn giữ vẻ tươi thắm như cũ nữa. Nó cùng với những món đồ cổ ra vẻ đã mất màu phong lưu, song vẫn gợi ông nhớ đến một số kỷ niệm với người vợ đã đi xa. Và rồi, đến một giờ định mệnh, ông phải rút chạy khỏi dinh trước khi quân giải phóng tràn vào.
Đã có nhiều tài liệu viết về cuộc ra đi không mấy vui vẻ của ông. Hầu hết đều tường thuật với nhiều chi tiết không hay ho lắm, kèm theo các lời chế giễu, bình luận chua chát, pha lẫn căm giận. Trong số đó, chúng tôi nghĩ rằng xét về mặt tư liệu, có lẽ tường thuật của cố vấn tổng thống là TS Nguyễn Tiến Hưng đáng tin cậy. Vì thế chúng tôi tóm lược những giờ phút cuối cùng của ông Thiệu khi rời dinh Độc Lập để đến phi trường Tân Sơn Nhất ra đi như dưới đây:
“Để hợp pháp hóa sự ra đi của Thiệu, Tổng thống Hương (người kế vị Thiệu) ký lệnh chỉ định Thiệu làm phái viên đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa sang Đài Loan (...) Sự xếp đặt cho sự ra đi của Thiệu do Thomas Polgar, Trưởng ban Tình báo CIA (ở Sài Gòn) đảm nhiệm dưới sự chỉ dẫn của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Martin. Thiệu nói với Polgar ông muốn Trần Thiện Khiêm và một vài cộng tác đi cùng mình sang Đài Loan. Chiếc máy bay DC-6 dành cho Đại sứ Martin đã bay từ Sài Gòn sang Thái Lan vào đêm 25.4. Polgar và tướng liên lạc của CIA là Charles Timmes gặp Thiệu và những người cùng đi tại nơi ở của Khiêm ở bộ tổng tham mưu nằm bên ngoài sân bay Tân Sơn Nhất. Polgar đã sắp xếp 3 chiếc xe mui kín màu đen, gồm xe của đại sứ, xe của đại diện toàn quyền và xe của chính mình, tất cả đều do nhân viên CIA làm tài xế. Khiêm đã bố trí một sĩ quan tin cậy cho phép những người Mỹ ra vào không gây ra sự cố gì. Thiệu và những người cùng đi chỉ được phép mỗi người mang một xách tay. Không có hành lý gì khác. Bà Mai Anh vợ ông Thiệu và các con đã rời Sài Gòn trước và đang ở Luân Đôn (Anh).
Trong lúc Thiệu và những người cùng đi uống rượu tiễn biệt tại nhà Khiêm, Polgar chuẩn bị các thủ tục cho họ trước giờ bay. Xong việc, họ nhanh chóng lên những chiếc xe đen, mui kín, để đến sân bay (...) Thiệu ngồi giữa Polgar và Timmes, để lính gác cổng chỉ thấy người Mỹ khi nhìn vào xe - Polgar giải thích như thế. Xe chạy thẳng đến sân bay dành cho hàng không Mỹ, ở đó Đại sứ Martin đã có mặt để đưa tiễn Thiệu. Lúc này, sắc mặt và bộ điệu của Thiệu trông sầu thảm và nhẫn nhục. Nhưng ông cố giữ vẻ đường bệ bước lên máy bay với lời chúc lành của Đại sứ Martin. Cuộc ra đi diễn ra khá nhanh và lặng lẽ không một nghi thức tiễn biệt nào...”.
Giao Hưởng (Thanh niên)

