
Với chiều dài về thời gian, chiều rộng về không gian, chiều sâu về truyền thống lịch sử, thơ ca viết về Hà nội có tới hàng ngàn, hàng vạn bài, thậm chí nhiều hơn thế nữa. Thơ ca dành cho Hà nội vô cùng phong phú và đa dạng, đề cập đến mọi mặt đời sống, con người, cảnh vật và các giá trị của thủ đô ngàn năm văn hiến của Tổ quốc chúng ta. Mỗi người trong chúng ta ngay từ khi cắp sách tới trường đều từng nhớ, từng yêu những áng văn thơ bất hủ viết về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Bên tai ta luôn vang vọng tiếng thơ hào sảng của Huỳnh Văn Nghệ: „Từ độ mang gươm đi mở nước/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” hay những vần thơ tuyệt vời của Nguyễn Đình Thi „Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may” hoặc những dòng thơ thấm đậm chất lãng mạn của Quang Dũng „Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Trong phạm vi bài này tôi chỉ xin đề cập đến những bài thơ của cộng đồng người Việt tại Ba Lan viết về Hà Nội. Tư liệu chủ yếu là những tuyển tập thơ cộng đồng „Cánh cò xứ tuyểt” „Nắng chiều” và những tập thơ mà các tác giả đã yêu mến tặng cho tôi, cũng như những bài thơ được đăng trên tập san Văn Việt và Quê Việt trong hơn mười năm qua, chủ yếu là của các cây bút quen thuộc, đã từng sống, công tác, học tập ở Ba Lan như Tạ Minh Châu, Lê Bá Thự, Trần Hoài Văn, Lâm Quang Mỹ, Nhị Hồng, Bùi Huy Phác, Nguyễn Văn Thái, Thanh Hiên, Minh Ngọc, Anh Đào, Lâm Hải Phong, Tuệ Minh, Ái Thi, Trực Chấp. Có thể có những bài thơ hay viết về Thăng Long – Hà Nội của các tác giả khác trong cộng đồng không được đề cập đến ở đây, bởi khi sưu tầm tôi không may mắn được đọc những dòng thơ ấy, xin mọi người lượng thứ.
Người viết bài này đã từng thổ lộ: Có những mối tình lớn theo khoảng cách/ Càng xa, càng nhớ, càng thương/ Khi xao xuyến trong cô đơn đất khách/ Bỗng mơ thèm từng giọt nắng quê hương (Kỷ niệm tuổi thơ). Phải chăng chính vì lý do ấy, những người Việt ở Ba Lan đã từng sinh ra và lớn lên giữa thủ đô Hà Nội hoặc đã gắn bó keo sơn với mảnh đất này lại càng nhớ thương Hà nội không lúc nào nguôi. Nhà thơ, đại sứ Tạ Minh Châu đắm say trong chiều rất yên bình giữa Vácsava, với Hoa lipa vương ngạt ngào suốt phố, chợt thốt lên: Đêm xuống rồi, Hà Nội tự đâu đây/ Ta bỗng lạc giữa một trời hoa sữa/ Ta lội giữa một đường hoa sấu nở/ Ai đi với mình bên hàng cây lipa? (Tháng Bảy). Lê Bá Thự, nhà thơ, nhà ngoại giao có những câu thơ hầu như cùng một tâm trạng như thế: Đêm hè ở Vácsava/ Thoang thoảng mùi hoa lipa/ Anh chạnh nhớ về Hà Nội/ Nhớ hương hoa sữa quê nhà. Rồi nhớ ngày anh sắp đi xa/ Hôn em trong đêm Hà Nội/ Hương nồng, trời đầy sao sa (Hoa lipa và hoa sữa).
Với Trần Hoài Văn - chàng trai sinh ra và lớn lên ở Hà Nội đã không chỉ dừng ở đó: Hà Nội của tôi đâu chỉ có mùi hoa sữa/ Mùi hoàng lan và màu tím bằng lăng/ Đâu chỉ có những con phố cổ/ Mảnh trăng mồ côi, cây cơm nguội vàng/ Hà Nội của tôi là những chiều lộng gió/ Lá xà cừ rụng xác xơ phố nhỏ/ Hà Nội của tôi là những trưa nắmg lửa/ Nóng như nung chảy cả mặt đường/... là những cơn mưa xối xả/ Phút chốc phố nhà thoắt biến thành sông ... là khách sạn, nhà hàng, vũ trường ầm ĩ, đầy rẫy trẻ không nhà, bọn lưu manh, những phường trộm cắp (Hà nội của tôi). Nhắc đến những vần thơ này, tôi lại nhớ cuộc bút chiến thú vị trên tập san Quê Việt diễn ra cách đây hơn mười năm giữa các cây bút Trần Hoài Văn, Anh Đào, Lâm Hải Phong và Tuệ Minh. Tranh luận với những luận điểm trên, Anh Đào - một cô gái còn đang ngồi trên ghế phổ thông trung học lúc đó đã viết: Xin anh đừng chê Hà Nội của em/ Hà Nội đẹp đâu cần hương hoa sữa/ Hà Nội của em dẫu xa mười năm nữa/ Vẫn hiền hòa duyên dáng như xưa/ Hà Nội của em có những cơn mưa/ Chạm mặt đất còn phập phồng bong bóng/ Có ánh mắt em một thời mong ngóng/ Phút tan trường, chè ngọt, sấu chua...(Hà Nội, gửi tác giả Trần Hoài Văn). Lâm Hải Phong, chàng trai đất cảng, từng học đại học ở Hà Nội lại viết: Hà Nội trong anh là những buổi chiều/ Cơm ký túc đã ăn rồi, chẳng nhớ/ Mượn xe đạp lượn vòng quanh phố nhỏ/ Trộm ngắm nhìn người con gái kiêu sa/ Hà Nội trong anh là những bài ca/ Đêm khó ngủ vác đàn ra quậy phá/ Các bạn anh cũng từ nơi xứ lạ/ Đứng quay vòng hát „Hà Nội của tôi” (Hà Nội trong tôi, gửi Anh Đào).Tham gia vào cuộc bút chiến ấy có một cây viết đã luống tuổi, bút danh Tuệ Minh, tên thật là Nguyễn Đình Thái và thường tự nhận mình là Thái quá, để phân biệt với Nguyễn Văn Thái và Bùi Anh Thái: Hà Nội của tôi còn nhiều nhức nhối/ Những cặn bã lưu manh thành „Người Hà Lội”/ Thêm nhạt nhòa những mái ngói thâm nâu/ Đâu phải Thăng Long – „hoài cổ” u sầu/ Vẫn khắc khoải một chút gì „Phái phố”/ Nhớ da diết Nguyễn Tuân và nhớ „phở”/ Nhớ Tản Đà với „Rau sắng chùa Hương”/ Nhớ Ông Đồ già viết câu đối bên đường/ Nhớ Trấn Võ từng hồi chuông chiều đổ/ Nhớ Ngọc Hà (khi chưa nhiều biệt thự)/ Nhớ ông tổ đúc đồng làng Ngũ Xá năm xưa/ Nhớ bún thang, bún ốc và những tiếng rao đêm/ Nhớ tiếng còi tầm, tiếng xe điện leng keng (Hà Nội của tôi).
Nhân nhắc đến bác Thái quá, lại nhớ đến bác Bùi Anh Thái, bút danh Ái Thi với bài viết về Hội chợ xuân của Nhà văn hóa Thăng Long Vácsava: Em đi vào Hội chợ xuân/ Quê hương bỗng cảm thấy gần quanh ta/ Hoa mai vàng một góc nhà/ Đào phai, đào thắm ... ngỡ hoa Nghi Tàm/ Quất xanh xanh, quả chín vàng/ Hoa giăng giăng tưởng Hàng Ngang, Hàng Đào/ Gió đưa hương bưởi ngọt ngào/ Rồng vàng đất mẹ cũng vào Hội xuân (Em đi Hội chợ xuân). Không cần bình luận gì thêm, qua những vần thơ trên chúng ta đều thấy các tác giả đã vẽ nên những bức tranh miêu tả cảnh vật và con người Hà Nội đa dạng và đầy màu sắc, sống động và rất thực.
Nhà thơ Lâm Quang Mỹ lại nhớ về Hà Nội với một tâm trạng khác: Rời đất nước một chiều thu Hà Nội/ Con tàu đưa ta tới chân trời xa/ Tạm biệt Tổ quốc nghèo (nhưng giàu những lời ca)/ Để ước mơ trải dài theo con đường sắt (Ba mươi năm). Hoặc Hà Nội thu về không vàng sắc lá/ Nắng – Vẫn một màu sắc trời trong/ Con tàu như muốn mang theo cả/ Hai bóng xa nhau, một tấm lòng (Em đi), hay Đường Hà Nội đã vãn mùa hoa sữa/ Có em về hoa rốn nở muộn hơn/ Sóng Hồ Tây thôi vỗ nhịp cô đơn/ Cây Bách Thảo vui đến từng kẽ lá (Em về). Như vậy là bên cạnh cảnh sắc Hà Nội, cùng với nỗi nhớ khi chia xa, tác giả đã xen vào hình bóng người con gái và hình bóng ấy càng làm cho nỗi nhớ Hà Nội thêm da diết, đằm thắm, sinh động.
Cũng với tâm trạng như vậy, Nguyễn Văn Thái nhớ Hà Nội là nhớ đến những địa danh cụ thể đã tạo nên một mối tình, nhớ đến người vợ gắn bó một đời thương: Có phải Bích Câu kỳ ngộ nên duyên/ Hay bởi Phật thương xe tơ, kết tóc/ Một thoáng Hòe Nhai hương chùa man mác/ Để chúng mình gắn bó một đời thương. Hà Nội và người con gái yêu thương trong thơ đã gắn kết làm một. Táo bạo hơn, tác giả đã coi Hà Nội chính là người yêu, người vợ của mình! Chủ nhật chỉ có một mình/ Vắng anh Hà Nội chông chênh thế nào/ ...Rồi Anh đi cuối đất cùng trời/ Biết chăng Hà Nội đứng ngồi nhớ anh/ Anh vào nơi ấy rừng xanh/ Hà Nội khóc, lá trên cành đẫm mưa/ Dõi theo từng bước anh qua/ Hà Nội ngóng, mắt phố nhòa đèn đêm. Hơn thế nữa, tác giả còn viết: Xa anh Hà Nội thẫn thờ/ Bên hàng xóm tiếng trẻ thơ cười ròn (Hà Nội nhớ anh). Xưa nay ít ai dám coi Hà Nội như một người con gái bé bỏng dịu hiền, như người vợ trẻ đang thầm mong có một đứa con! Hà Nội không chỉ gợi mùa thu lá vàng, mùa đông cây bàng mồ côi... Hà Nội đang sinh sôi nảy nở, đang phát triển và hướng tới ngày mai. Dáng kiều thơm mà Quang Dũng mơ ngày xưa có thể là những người con gái bám thủ đô để sản xuất và chiến đấu trong những ngày chiến tranh: Tối trên đường Hoàng Diệu/ Em về theo sao Hôm/ Sáng sao Mai sẽ đến/ Dẫn em đi cùng đường (Đêm sơ tán nhớ em – NVT). Và ngày nay, cô gái Hà Nội đang bon chen giữa dòng đời chật chội ở Vácsava cũng thật dễ nhận ra: Em mang hơi ấm sông Hồng/ Phủ lên sóng Vixoa/ Một chút chanh chua Đồng Xuân/ Bãi Giữa/ Một nét kiêu sa Ngọc Hà, Quảng Bá/ Một chút đa tình Hồ Tây yên ả (Cô gái Hà Nội – Trần Hoài Văn).
Bây giờ chúng ta hãy nghe một cây bút nữ viết về Hà Nội: Không có nắng nơi đâu đẹp như nắng vàng Hà Nội/ Chẳng có màu xanh nào tươi mát như ở đây. Hoặc Tôi đi mang theo sắc nắng vàng Hà Nội/ Và những chiều nào trong công viên Lênin/ Nghe lá thu vàng rơi xao động (Tạm biệt thành phố này tôi đi – Thanh Hiên). Nhân Tết đến xuân về, chị nhớ: Năm ấy ta nghèo, chơi đào ta/ Gầy guộc cành vươn đến trần nhà/ Chúm chím hoa cười trong đêm vắng/ Hà Nội ơi! Ước gì ta đừng xa (Chùm thơ hoa Tết). Cũng với nỗi nhớ thương một người con gái, Nhị Hồng đa sầu đa cảm đã thổ lộ khi phải rời Hà Nội: Ra đi lòng dạ rối bời/ Yêu thương chưa ngỏ một lời cùng nhau/ Quê nhà giờ ở phương nao/ Em tôi có đứng ngẩng đầu trông mây/ Bây giờ cách trở Đông – Tây/ Nhớ mong vời vợi, tháng ngày lê thê (Rời Hà Nội). Chỉ cần nghe tiếng hát của một nghệ sĩ giữa Vácsava, anh bỗng xốn xang: Xa Hà Nội đã mười năm/ Nhớ Hà Nội những chiều buồn/ và những ngày vui nhất/ Mười năm/ Nỗi nhớ cứ đi về day dứt/ Mà không biết nhớ gì, Hà Nội ơi! (Nhớ Hà Nội, tặng Trung Đức).
Nhắc đến nỗi nhớ Hà Nội, tôi lại nghĩ đến những bài thơ của một chàng trai sinh ra và lớn lên giữa đất Hà thành – Minh Ngọc: Nhà cũ của ta/ chật lắm/ Đông lạnh, hè nóng/ Gió lùa vào, gió tưng tửng đi ra/ Ngay tiếng cười của ta cũng chật ních căn nhà/ Tiếng dế kêu cũng làm rung mạng nhện (Nhà cũ). Hoặc nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: Em có nhớ một giòng sông bên bồi bên lở/ Những con đò một thời không bến đỗ/ Hoa giấy nhà ai cứ đỏ au/ Cậu bé khờ mơ trở thành bác sĩ/ Cô bé cười, mưa bụi rắc lan man (Hoa đỏ ngày xưa). Nhiều khi Minh Ngọc than vãn: Hà Nội bây giờ lắm đổi thay/ Nếp sống Tây xen từng con ngõ nhỏ/ Tôi trở về làm người hoài cổ/ Tìm cho mình một góc phố ngày xưa (Tiếc nuối). Thậm chí đôi khi anh còn có những ý nghĩ kỳ cục: Đi Văn Điển/ Hay Powązkowska?/ Powązkowska thì gần/ Văn Điển thì xa...(Về đâu). Dĩ nhiên rồi cuối cùng thì chàng trai Hà Nội ấy đã về quê, bởi lẽ: Nơi đây/ Khi đã sống hết mình vẫn thấy đời nhạt quá/ Hà Nội mùa này tìm hơi ấm môi ai! (Môi em). Thế đấy, người con gái có sức thu hút và sưởi ấm như vậy đấy.
Một nhà thơ lão thành cũng đã rời đất Ba Lan trở về Hà Nội cách đây gần chục năm và hiện đang lang bạt chân trời góc bể ở tận Châu Phi - Bùi Huy Phác, đã viết khá nhiều về Hà Nội, anh nhớ từ cây cầu Long Biên đến làng gốm Bát Tràng và cũng không quên những người đang ở lại Ba Lan chúng ta: Một trăm năm một cây cầu/ Hồng Hà bồi lở dấu xưa đâu/ Chứng nhân thế kỷ mình thương tích/ Cõng mấy đời vui mấy khổ đau (Cầu sông Cái), hoặc: Sông Hồng phù sa vẫn đỏ/ Những con thuyền nặng vẫn về/ Vẫn bóng mờ xa thành phố/ Vẫn con trâu thả chân đê (Bát Tràng). Đang sống giữa thủ đô Hà Nội, anh thốt lên: Tha hương chạnh nhớ những ngày/ Hà Nội khép lòng thế kỷ/ Đêm nay còn ngổn ngang nhiều/ Sao vẫn thương trời xa thế? Thời gian ai đợi ai chiều/ Lênh đênh bỗng giây kinh hãi/ Bao giờ tàu mới buông neo? (Bên hè viết vội, 30-12-2000).
Để khép lại bài viết này, tôi muốn nhắc đến một nhà thơ rất độc đáo và đáng yêu, đó là Lê Thanh Bình, bút danh Trực Chấp. Thơ của anh đầy nội lực, lôi cuốn và sảng khoái, giàu hình ảnh và nhạc điệu, viết về Hà Nội cũng với môtip người con gái: Đanúyp kia em/ Lững thững dòng trôi/ Sóng sánh mây trời/ Để nhớ quá/ Đêm Tây Hồ lộng gió/ Cũng một trời sao/ Mặt hồ - hai đứa/ Mà nôn nao, chao đảo cả đêm hè/ Những đêm buồn/ Tha thẩn thế, anh đi/ Dưới những hàng dương/ Lại thương/ Lại nhớ/ Lại ngập trong anh/ Con đường thơm hoa sữa/ Ngầy ngậy hương/ Thơm như hơi thở/ Mà bây giờ/ Hương thơm ở đâu?/ Hà Nội em ơi/ Sao huyền ảo sắc màu/ Để chân bước tới nơi nào cũng nhớ/ Hà Nội đêm thu/ Mưa dăng ngõ phố/ Mái hiên nhà ai nhỏ hẹp dưới mưa trời...(Nhớ về em – Hà Nội với Tây Hồ).
Mười bốn tác giả thơ là mười bốn tính cách, có những nét giống nhau và những nét riêng, tất cả đều thể hiện tình cảm của mình đối với thủ đô yêu dấu của tất cả những người con đất Việt chúng ta và vẽ nên những bức tranh sinh động về mảnh đất thân thương này. Xin gửi những bức tranh ấy về dâng kỷ nệm Ngàn năm Thăng Long – Hà Nội.
Nguyễn Văn Thái