Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 29)

18/10/2010 11 phút đọc Dịch: Nguyễn Văn Thái
Któż by zgadnął, że owi, tak mało ruchomi,Owi milczący ludzie - są nasi znajomi?Sędziowscy towarzysze! z hucznego śniadaniaWyszli na uroczysty
Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 29)

Któż by zgadnął, że owi, tak mało ruchomi,
Owi milczący ludzie - są nasi znajomi?
Sędziowscy towarzysze! z hucznego śniadania
Wyszli na uroczysty obrzęd grzybobrania:
Jako ludzie rozsądni, umieją miarkować
Mowy i ruchy swoje, aby je stosować
W każdej okoliczności do miejsca i czasu.
Dlatego, nim ruszyli za Sędzią do lasu,
Wzięli postawy tudzież ubiory odmienne,
Służące do przechadzki opończe płócienne,
Którymi osłaniają po wierzchu kontusze,
A na głowy słomiane wdziali kapelusze,
Stąd biali wyglądają jak czyscowe dusze.
Młodzież także przebrana, oprocz Telimeny
I kilku po francusku chodzących.

Tej sceny Hrabia nie pojął, nie znał wiejskiego zwyczaju,
Więc zdziwiony niezmiernie biegł pędem do gaju.
Grzybów było w bród: chłopcy biorą krasnolice,
Tyle w pieśniach litewskich sławione lisice,
Co są godłem panieństwa, bo czerw ich nie zjada,
I dziwna, żaden owad na nich nie usiada.
Panienki za wysmukłym gonią borowikiem,
Którego pieśń nazywa grzybów pułkownikiem.
Wszyscy dybią na rydza; ten wzrostem skromniejszy
I mniej sławny w piosenkach, za to najsmaczniejszy,
Czy świeży, czy solony, czy jesiennej pory,
Czy zimą. Ale Wojski zbierał muchomory.

Inne pospólstwo grzybów pogardzone w braku
Dla szkodliwości albo niedobrego smaku;
Lecz nie są bez użytku, one zwierza pasą
I gniazdem są owadów i gajów okrasą.
Na zielonym obrusie łąk, jako szeregi
Naczyń stołowych sterczą: tu z krągłymi brzegi
Surojadki srebrzyste, żółte i czerwone,
Niby czareczki różnym winem napełnione;
Koźlak, jak przewrócone kubka dno wypukłe,
Lejki, jako szampańskie kieliszki wysmukłe,
Bielaki krągłe, białe, szerokie i płaskie,
Jakby mlekiem nalane filiżanki saskie,
I kulista, czarniawym pyłkiem napełniona
Purchawka, jak pieprzniczka - zaś innych imiona
Znane tylko w zajęczym lub wilczym języku,
Od ludzi nie ochrzczone; a jest ich bez liku.
Ni wilczych, ni zajęczych nikt dotknąć nie raczy,
A kto schyla się ku nim, gdy błąd swój obaczy,
Zagniewany, grzyb złamie albo nogą kopnie;
Tak szpecąc trawę, czyni bardzo nieroztropnie.
Telimena ni wilczych, ni ludzkich nie zbiera,
Roztargniona, znudzona, dokoła spoziera,
Z głową w górę zadartą. Więc pan Rejent w gniewie
Mówił o niej, że grzybów szukała na drzewie;
Asesor ją złośliwiej równał do samicy,
Która miejsca na gniazdo szuka w okolicy.

Jakoż zdała się szukać samotności, ciszy,
Oddalała się z wolna od swych towarzyszy
I szła lasem na wzgórek pochyło wyniosły,
Ocieniony, bo drzewa gęściej na nim rosły.
W środku szarzał się kamień; strumień spod kamienia
Szumiał, tryskał i zaraz, jakby szukał cienia,
Chował się między gęste i wysokie zioła,
Które wodą pojone bujały dokoła;
Tam ów bystry swawolnik, spowijany w trawy
I liściem podesłany, bez ruchu, bez wrzawy,
Niewidzialny i ledwie dosłyszany szepce,
Jako dziecię krzykliwe złożone w kolebce,
Gdy matka nad nim zwiąże firanki majowe
I liścia makowego nasypie pod głowę.
Miejsce piękne i ciche, tu się często schrania
Telimena, zowiąc je Świątynią dumania.

Stanąwszy nad strumieniem, rzuciła na trawnik
Z ramion swój szal powiewny, czerwony jak krwawnik,
I podobna pływaczce, która do kąpieli
Zimnej schyla się, nim się zanurzyć ośmieli,
Klęknęła i powoli chyliła się bokiem;
Wreszcie, jakby porwana koralu potokiem,
Upadła nań i cała wzdłuż się rozpostarła,
Łokcie na trawie, skronie na dłoniach oparła,
Z głową w dół skłonioną; na dole, u głowy,
Błysnął francuskiej książki papier welinowy;
Nad alabastrowymi stronicami księgi
Wiły się czarne pukle i różowe wstęgi.

W szmaragdzie bujnych traw, na krwawnikowym szalu,
W sukni długiej, jak gdyby w powłoce koralu,
Od której odbijał się włos z jednego końca,
Z drugiego czarny trzewik; po bokach błyszcząca
Śnieżną pończoszką, chustką, białością rąk, lica,
Wydawała się z dala jak pstra gąsienica,
Gdy wpełźnie na zielony liść klonu.
 

Chàng Tadeush  (tiếp theo – 29)

 Có ai đoán được những kẻ ít xê dịch nọNhững kẻ câm lặng kia lại quen với con người?

Các vị đồng hành với Thẩm phán kia ơiTừ sáng đám người đã long trọng làm cuộc đi hái nấmLà những người biết điều chỉnh mọi hành vi chín chắn Khi quyết định đi cùng Thẩm phán vào rừng câyHọ đã mang theo trang phục phù hợp cuộc đi nàyĐể dạo chơi có áo khoác ngắn tay nửa tối nửa sángVà áo choàng quý phủ bên ngoài đỏm dángCòn trên đầu là mũ cói nhấp nhôNhìn họ trắng toát như những bóng maĐám thanh niên cũng thay đổi áo quần thích hợpChỉ trừ Telimena và vài người mặc theo kiểu PhápCảnh tượng đó Bá tước không hiểu chút gìÔng không biết phong tục ở thôn quêDo vậy vừa ngạc nhiên vừa vô cùng thích thúChạy rất nhanh đến khu rừng để được xem cho rõ. 

Dưới những tán cây, nấm rất dồi dàoCác chàng trai hái loài nấm mũ đỏ nhô caoTrong dân ca Litva, những nàng cáo được luôn ca ngợiTrở thành biểu tượng trinh trắng của người con gái Vì màu đỏ không quyến rũ được cô nàngVà thật lạ lùng, nấm đó không thu hút được cả bầy ong!

Các cô gái trẻ chạy theo một loài nấm khácLà nấm thông hay nấm đại tá [1] như dân ca thường hátMọi người lùng sục tìm những cây nấm hungLoại có kích cỡ khiêm nhường và ít nổi tiếng hơn Nhưng là loại ngon không nấm nào sánh nổiKể cả khi còn tươi lẫn khi đã muối Cả vào tiết thu hay giữa mùa đông. 

Riêng Tổng quản lại tìm nấm mũ độc trong rừngLoài nấm vẫn bị coi thường vì tính độc hại, vì mùi không hấp dẫnNhưng không vô tích sự như có người lầm lẫnNó là thức ăn cho gia súc, chỗ ở cho côn trùng                                                                                 Và là phân bón làm màu mỡ đất rừngTrên tấm thảm xanh rờn của đồng cỏ           Giống cốc chén lô nhô đứng thành hàng lớn nhỏĐây là loại nấm bồ câu tán trònMàu bạc, màu vàng và cả đỏ như sonNhư cốc chén chứa rượu nhiều chủng loại Nấm hoàn diệp liễu như chén lật ngược lồi trôn hình vạiNấm phễu như ly mảnh khảnh đựng sâm banh Nấm bạch tạng trắng phau, tròn trịa rộng vànhGiống những chiếc chén Xắcxông đầy sữaVà nấm trứng như quả cầu bám bụi tro bếp lửa Không khác gì lọ đựng hạt tiêu đenCòn những loài nấm khác chưa ai đặt tênTên chúng chỉ có trong ngôn ngữ thỏ rừng và chó sóiCác loại nấm nhiều không kể nổiChẳng ai đoái hoài loài nấm sói và nấm thỏ nàyCòn nếu có ai cúi xuống hái lên tayKhi phát hiện mình nhầm liền bực mình vất bỏHoặc giẫm đạp lên như vô tình đạp cỏVì xấu hổ hắn ta làm việc đó rất vội vàng! 

Telimena chẳng hái nấm sói cũng như nấm thông Buồn chán nhìn quanh, đầu nghểnh cao lơ đãngViên Công chứng đang còn cơn giận nên liền nhạo bángÔng ta bảo chắc nàng đang tìm nấm trên câyTrợ tá ác khẩu hơn, ví với con mái đang tìm nơi cất ổ đâu đây. 

Có lẽ định tìm sự cô đơn, phút giây yên tĩnhNàng tách khỏi đám bạn bè trong tốp chínhĐi sâu vào rừng, đến một gò đất caoChe kín bóng râm vì cây mọc trên gò sít saoỞ giữa nổi lên phiến đá âm u tĩnh mịchMột dòng nước từ dưới đá đang phun róc ráchUốn lượn quanh co như tìm nơi có nhiều bóng râm Và giấu mình giữa đám cây cỏ rậm rịt xanh rờn Cây no nước đang vui đùa ngả ngớnKia một anh chàng nấp kín trong cỏ dày đùa ginQuấn chặt lá cây và không hề động cựa ồn àoHắn ẩn mình kín bưng, chỉ nghe tiếng thì thàoGiống đứa bé nằm trong nôi êm ả   Khi người mẹ buộc lại bên trên bức rèm che nắng hạVà lá lặng lẽ rơi phủ kín đầy đầuMột cảnh quan tuyệt vời, đủ yên tĩnh u sầuNên Telimena thường đến đây thư giãn Và gọi đó là đền Suy ngẫm. 

Ngắm dòng chảy một lúc, nàng ngồi xuống vạt cỏ trên bờChiếc khăn đỏ quàng vai bay trong gió phất phơVà như người bơi chuẩn bị lao xuống tắm Cúi xuống thử trước khi đằm mình vào nước lạnhNàng khẽ xuýt xoa và nghiêng về một phía từ từCuối cùng như bị thôi miên vì làn nước đẹp tựa san hôNàng nằm xuống, cả thân hình duỗi theo dòng chảyThái dương tựa vào bàn tay không động đậyCòn trên cỏ xanh phía dưới mắt nàngÁnh lên màu giấy thuộc từ quyển sách Pháp mở trangTrên trang sách điểm màu hoa tuyết đóLòa xòa lọn tóc đen và dải nơ màu đỏ.  

Trong cây cỏ xum xuê ngọc lục biếc xanhDải khăn đỏ tươi, bộ áo váy vàng chanh Một sọc đen từ tóc đến gót giầy hút sángTương phản với khăn tay, đôi tay trần và khuôn mặt trắngĐôi tất màu tuyết chạy dọc theo chânNhìn xa nàng như con sâu bướm trườn trên chiếc lá xanh.

Nguyễn Văn Thái dịch



[1]Có bài hát quen thuộc ở Litva, một bài ca thôn dã, kể về những chú nấm đi ra trận dưới sự chỉ huy của nấm thông. Trong bài hát đó có miêu tả những đặc tính của các loại nấm ăn.

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu