Lời Tòa soạn: Sau khi Queviet.pl đưa tin nhà văn Nguyễn Chí Thuật được trao giải Ba của Cuộc thi bút ký-phóng sự do Báo Giáo dục&Thời đại tổ chức, một số bạn đọc ở Ba Lan và các nước khác đã gọi điện, gửi mail cho tác giả bày tỏ mong muốn được đọc nguyên bản bài viết này. Trong số những người yêu cầu có bà Lê Thị Hoa, phu nhân Đại sứ Việt Nam tại Braxin Dương Nguyên Tường, chị Nguyễn Thị Hằng Nga, kiến trúc sư người Việt đang làm việc tại Vương quốc Anh ... Đáp ứng nguyện vọng của những người đã gọi điện thoại và gửi mail cho tác giả cũng như nhằm mục đích cung cấp bài viết rộng rãi đến Bạn đọc, được sự đồng ý của tác giả, Queviet.pl đăng lại bài viết này của nhà văn Nguyễn Chí Thuật.
Có một người Ba Lan gần bốn chục năm nay âm thầm, lặng lẽ, bền bỉ, dẻo dai tự học tiếng Việt. Mới đầu chỉ vì một lý do đơn giản: bạn thân nhất của anh là người Việt. Anh học không cần giáo trình, tài liệu, thiết bị nghe nhìn phụ trợ. Tiếng Việt của anh là những từ, cụm từ, đoản ngữ, những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam viết bằng chữ to trên các mảnh giấy cứng khổ nhỏ lúc nào anh cũng mang theo người. Anh học thuộc lòng trên xe buýt, khi xếp hàng mua thực phẩm. Từ chàng sinh viên Bách khoa, sau khi tốt nghiệp, anh trở thành kỹ sư điện, đi làm một số năm, anh được thăng chức trưởng phòng, rồi giám đốc kinh doanh của một công ty có vốn nước ngoài, để cuối cùng, „đùng một cái”, ở tuổi ông nội, anh thành ông thầy tiếng Việt tại Viện Ngôn ngữ học Đại học Tổng hợp mang tên Adam Mickiewicz ngay ở thành phố quê hương mình. Chuyện về anh giống như một câu chuyện cổ tích kết thúc có hậu. Bởi vì mấy chục năm cố gắng bền bỉ, âm thầm của anh cuối cùng đã được đền đáp và đến đáp xứng đáng. Giữa tháng 12 năm 2008, vốn tiếng Việt tích lũy được ấy anh đã đem ra sử dụng vào một việc vô cùng ý nghĩa: nói chuyện và thể hiện tình cảm của mình trong cuộc tiếp xúc với một trong số các nhà lãnh đạo hiện nay của Việt Nam: Phó thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân. Cả họ và tên Ba Lan của anh đều đẹp (Bogdan Nowicki, không phải người Ba Lan nào cũng có họ tên đẹp thế), nhưng với chúng tôi, những người bạn của anh, chúng tôi chỉ gọi đơn giản và ngắn gọn: anh cu Tý.
So với người Ba Lan, anh đã vào loại to cao, dáng đi như một chú gấu, vậy mà anh lại chọn cho mình cái tên Việt Nam vừa giản dị, vừa dễ thương: Nguyễn Văn Tý. Anh luôn giải thích với mọi người: Tý đây là tý tẹo, là bé tẹo teo. Từ mấy chục năm nay, nếu không kể cái dáng vẻ bề ngoài lừng lững của mình, về tâm hồn và tình cảm, anh đúng là người bạn bé nhỏ, đáng yêu của tất cả những người Việt Nam từng học đại học với anh cũng như những người có dịp quen biết anh sau này.
Tôi là một trong số những người thuộc nhóm thứ hai. Mặc dù đã nghe tên anh, tên họ Việt Nam Nguyễn Văn Tý chứ không phải tên họ Ba Lan Bogdan Nowicki, từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng phải đến năm 2005, khi sang giảng dạy tại Đại học Tổng hợp mang tên Adam Mickiewicz ở Poznan, thành phố quê hương anh, nhờ sự giới thiệu của anh Đỗ Xuân Lâm, cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, tôi mới gặp anh lần đầu. Nhưng rồi, như một sự hẹn trước, cũng như để bù lại những năm tháng đã "bị bỏ phí" trước đó, chúng tôi nhanh chóng thân quen nhau và từ đầu năm học 2008 - 2009, anh trở thành đồng nghiệp của tôi tại Viện Ngôn ngữ học, trường Đại học Tổng hợp mang tên Adam Mickiewicz, Poznan. Anh được nhận vào làm nghiên cứu sinh của Viện và giảng dạy một số tiết môn Tiếng Việt thực hành cho sinh viên ngành Ngữ văn Việt - Thái, ngành đào tạo mới có từ năm 2004 tại Viện Ngôn ngữ học, Khoa Ngữ văn mới, Đại học Tổng hợp Poznan. Thế là từ chàng sinh viên Khoa Điện Đại học Bách khoa thành phố quê hương mình, anh trở thành ông thầy tiếng Việt của Trường Đại học Tổng hợp, một sự thay đổi bất ngờ, thú vị, như anh miêu tả, chỉ có thể có trong mơ. Có điều đó là giấc mơ đã thành hiện thực một trăm phần trăm, bởi vì suốt bao năm nay, từ khi làm quen với các lưu học sinh Việt Nam cùng học Đại học Bách khoa Poznan, có cảm tình với họ và đem lòng yêu mến cái tiếng Việt „nói thì khó nhưng nghe thì rất thích” của họ, anh quyết định học nó, nhưng chỉ nghĩ là học "cho vui", có ngờ đâu nay nó thành sự nghiệp của cuộc đời mình.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa, Bogdan vào làm việc tại Phòng Điều khiển giao thông đường sắt thuộc Xí nghiệp đường sắt ngay ở thành phố quê hương mình. Anh chiếm được cảm tình của các sếp ngay từ đầu, nên được cử đi học sau đại học, được thăng chức trưởng phòng, phụ trách phòng thí nghiệm, chịu trách nhiệm đào tạo cán bộ kỹ thuật. Trong vòng 10 năm làm việc tại đây, anh sinh hai con trai, xây được nhà riêng và tận dụng mọi cơ hội để hoàn thiện trình độ tiếng Đức của mình. Các thiết bị của công ty Siemens thời đó được sử dụng rộng rãi trong ngành đường sắt ở Ba Lan. Tuy tiếng Việt có bị anh đặt xuống hàng „thứ yếu”, song suốt năm đầu tiên sau khi người bạn thân nhất của mình là Đỗ Xuân Lâm về nước, Bogdan vẫn đều đặn đặt báo „Thiếu niên Tiền phong” để đọc. Tất nhiên trong 20 năm sau đó anh không làm cái việc trước đó anh đã làm một cách say mê là dịch ra tiếng Ba Lan những đoạn bài mình thích trên tờ báo dành cho các bạn thiếu niên Việt Nam. Nhưng anh thường xuyên nghe các bài hát Việt Nam phát ra từ bộ đĩa „Tiếng hát Việt Nam” anh mua được trong một lần đi Varsava.
Từ năm 1986, cuộc đời Bogdan trải qua những bước thăng trầm. Với mong muốn có thu nhập cao hơn để bảo đảm cuộc sống gia đình, anh đã nhiều lần thay đổi nơi làm việc, mới đầu là làm cho mấy cơ quan nhà nước Ba Lan, sau do giỏi tiếng Đức, được nhận vào làm việc cho một công ty có vốn đầu tư nước ngoài và được cử sang Viên, nơi công ty này chịu trách nhiệm lắp đặt thiết bị nhà ở và văn phòng. Nhưng sau đó, một công ty của Đức xây dựng hệ thống kho bãi ngay gần nhà anh và tìm người giỏi tiếng Đức, Bogdan lại rời thủ đô nước Áo để về Ba Lan, xin việc trong công ty của Đức. Anh đã có tấm bằng thạc sĩ thứ hai chuyên ngành vật tư do Học viện Kinh tế cấp và được thăng chức Giám đốc phụ trách xuất khẩu. Tiếng Đức của anh đạt tới trình độ hoàn thiện. Nhưng rồi công ty Đức, nơi anh làm việc, có quyết định chuyển toàn bộ cơ sở của mình lên một tỉnh phía Bắc Ba Lan. Vốn là người luôn chấp nhận thử thách, anh không buồn vì sự thay đổi này mà thậm chí còn vui mừng vì cuộc đời mình bước sang một giai đoạn mới. Anh cũng hiểu ra một điều rằng tất cả những gì anh làm trước đây chưa phải là những thứ anh thật sự muốn làm. Ngôn ngữ học hình như mới đúng là định mệnh của cuộc đời anh, bởi vì anh chỉ có được niềm vui thật sự khi nào anh dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia các loại văn bản trên giấy trắng mực đen.
Và quan trọng hơn cả là sau bao thăng trầm, chìm nổi của cuộc đời, niềm mơ ước từ thời trai trẻ của anh là được tiếp xúc, sử dụng tiếng Việt trong một công việc mang tính nghề nghiệp của mình, bỗng nhiên đứng trước cơ hội trở thành hiện thực. Người bạn thân nhất của anh, Đỗ Xuân Lâm, sang Ba Lan công tác tại Đại sứ quán Việt Nam, tiếp đó, ở Viện Ngôn ngữ học thuộc Đại học tổng hợp mang tên Addam Mickiewicz thành phố quê hương anh, nhờ những cố gắng không mệt mỏi và một tình yêu lớn lao đối với Việt Nam của giáo sư Jerzy Banczerowski, một ngành học từ trước đến nay chưa từng có ở Ba Lan (và chưa từng có ở châu Âu), ngành Ngữ văn Việt – Thái đã được thành lập và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2004, mỗi năm có trên một chục sinh viên theo học. Bogdan không còn trẻ nữa, anh lại chưa có bằng cử nhân Việt Nam học, nhưng do trình độ tiếng Việt giao tiếp của anh được đánh giá cao, lãnh đạo Viện Ngôn ngữ học giải quyết đặc cách cho anh làm nghiên cứu sinh chuyên ngành ngôn ngữ tại Viện. Đây có lẽ cũng là một kiểu tuyển chọn nhân tài đặc biệt. Anh trở thành ông thầy tiếng Việt đồng thời với chức ông nội của hai đứa cháu.
Tháng 5 năm 2007, nhân Hội nghị Quốc tế lần thứ I về quan hệ Việt Nam - Ba Lan, với tư cách người tổ chức, tôi mời anh tham dự và đọc báo cáo nhan đề Tôi đã học tiếng Việt như thế nào?. Bản báo cáo của anh đã đặc biệt về hình thức, vì anh tự mình viết tay hoàn toàn (trên giấy khổ A4, gồm 25 trang, nhưng mỗi trang chỉ có mấy dòng chữ to như gà mái ghẹ), cách báo cáo của anh càng „không giống ai”, bởi anh cứ đọc một câu tiếng Việt thì ngay sau đó lại dịch liến thoắng ra tiếng Ba Lan cho các thính giả người Ba Lan ngồi phía dưới hiểu. Cả hội nghị được một phen cười mỏi miệng và vỗ mỏi tay. Ai cũng cảm thấy thích thú. Các bạn sinh viên ngành Ngữ văn Việt - Thái hôm đó ra về mang trong lòng một niềm phấn khởi và tự tin lớn hơn trước đó, vì họ đã có một người đồng hương chứng minh được rằng tiếng Việt không khó đến nỗi không học được, trái lại, nếu kiên trì học hỏi như thầy Nguyễn Văn Tý và áp dụng cách học của thầy, thành công là thứ có thể cầm chắc trong tay.
Bogdan Nowicki Nguyễn Văn Tý, mỗi lần được hỏi về những ngày đầu học tiếng Việt của mình, luôn cười bí ẩn và trả lời bằng mấy từ "ly kỳ lắm". Sau này tôi mới rõ sự "ly kỳ" ấy là như thế nào.

Anh kể: "Tôi đã học tiếng Việt cách đây gần 40 năm. Lúc ấy tôi là sinh viên năm thứ nhất Đại học Bách khoa Poznan. Cùng lớp tôi có hai người Việt Nam là anh Đỗ Xuân Lâm và anh Phan Đức Chiến. Hồi đó ở Đông Dương đang có chiến tranh. Ba Lan cùng với các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến. Sinh viên Ba Lan ai cũng thông cảm với nhân dân Việt Nam anh hùng. Khi biết sẽ có sinh viên Việt Nam học cùng khóa, ai cũng náo nức muốn được tiếp xúc hàng ngày với những người đến từ một đất nước xa lạ nhưng đã làm nên nhiều kỳ tích.” Anh thừa nhận với tôi rằng anh và nhiều bạn cùng lớp khi đó chưa biết nhiều về Việt Nam, chỉ biết đại khái: Việt Nam là đất nước ở Á Đông. Vì vậy các anh liên tục nêu ra hết câu hỏi này đến câu hỏi khác về cuộc sống ở Việt Nam dưới bom đạn Mỹ, về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Sau đó hỏi về văn hóa, lịch sử và về tiếng Việt. Là người biết khá tốt tiếng Đức và tiếng Nga, nghĩa là có ít nhiều kinh nghiệm học ngoại ngữ, Bogdan quyết định học tiếng Việt. Nhưng cũng chỉ định học mấy câu để „giải quyết khâu oai” với bạn bè xung quanh chứ không phải với ý định nghiêm túc, lâu dài.
Việc học tiếng Việt gặp khó khăn ngay từ khâu đầu tiên là phát âm, không cần phải đợi đến giai đoạn sau này, khi học ngữ pháp và được báo trước: "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam". Vốn không phải là người dễ chùn bước trước khó khăn, Bogdan đã cố gắng học thuộc lòng ba bốn câu thật đơn giản. Anh đã sử dụng phương pháp sau đây:
Anh bảo anh Chiến dạy cho mình một câu nào đấy, tập nói trong mấy phút, sau khi cảm thấy đã biết, Bogdan chạy đến anh Lâm để „biểu diễn” câu đó. Nhưng không may cho anh chút nào, lúc đầu anh hí hửng bao nhiêu thì sau khi nhìn vẻ mặt và phản ứng của anh Lâm, anh thất vọng bấy nhiêu. Anh Lâm nói bằng tiếng Ba Lan: "Xin lỗi, tớ không hiểu, cậu định nói gì". Thì ra kết quả cuối cùng của việc học ngoại ngữ là người nghe phải hiểu được điều mình định nói. Bogdan đi đến kết luận: Tiếng Việt là ngôn ngữ khó nhất thế giới, nên anh quyết định học bằng mọi giá. Có lần Bogdan đọc được trong quyển sổ tay của anh Chiến một câu rất có ý nghĩa với anh, không chỉ trong thời điểm ấy mà mãi mãi sau này: "Chỉ có mục đích lớn lao mới có sức mạnh vĩ đại". Anh liền học thuộc lòng câu đó và mỗi lần gặp khó khăn anh lại đem nó ra làm nguồn động viên mình. Các bạn Việt Nam, đặc biệt là anh Đỗ Xuân Lâm và anh Phan Đức Chiến, đã giúp Bogdan rất nhiều. Anh quý trọng hai người này và theo đạo lý Việt Nam, "một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy", anh coi họ là những ông thầy đầu tiên của mình.
Có lần anh Chiến dạy Bogdan học câu "Mi đi mô rứa?". Anh học thuộc và theo thói quen, chạy ngay lại nói với anh Lâm. Lâm bảo đây là tiếng Nghệ An. Việt Nam có ba miền: Bắc, Trung, Nam, dù Bác Hồ đã dạy: "Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một", nhưng đã học tiếng Việt thì phải tập phát âm giọng Hà Nội mới là giọng chuẩn.
Bogdan và Lâm học cùng với nhau và càng ngày càng thân nhau hơn. Hai người sinh cùng ngày, cùng tháng, nhưng Bogdan sinh trước một năm. Thật kỳ lạ, cách đó 20 năm, họ sống ở hai đất nước khác nhau, xa lạ, vậy mà khi gặp nhau, họ có những suy nghĩ rất giống nhau. Lâm đã dạy Bogdan rất nhiều thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt, kể cho anh nghe về lịch sử Việt Nam, hát cho anh nghe nhiều bài hát Việt. Bogdan giải thích cho Lâm hiểu kỹ về phong tục, tập quán Ba Lan. Họ gặp nhau thường xuyên, nhưng hình như vẫn cảm thấy như thế vẫn chưa đủ, nên tranh thủ giờ giải lao giữa hai tiết học, gặp nhau để nói chuyện cho được nhiều hơn. Bogdan thú nhận anh không biết làm thơ, nhưng đã phóng tác mấy câu thơ của Chính Hữu để nói về tình bạn giữa mình và Lâm: "Sách bên sách, đầu gối bên đầu, cùng học cùng chơi, thành đôi tri kỷ".
Bogdan Tý có cách học ngoại ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng khá độc đáo. Lúc nào anh cũng có một tập dày những tờ giấy cứng, hai mặt trắng trơn, khổ 7 x 4,5. Khi học tiếng Việt, trên một mặt giấy, anh ghi từ mới, cụm từ hay các câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao tiếng Việt, chữ to như gà mái ghẹ, còn mặt kia ghi ý nghĩa hoặc giải thích tóm tắt bằng tiếng Ba Lan. Cứ mươi tờ như vậy anh tập hợp lại, bỏ vào túi để đem ra học trong những lúc rảnh rỗi – khi xếp hàng mua thực phẩm, trên xe buýt, trong giờ giải lao giữa hai tiết học, trên đường đến bến tàu điện hay trong thời gian diễn ra ... các cuộc hội nghị, khi phải nghe những báo cáo tẻ nhạt. Tờ giấy nào đã học thuộc, anh xếp với nhau thành tập, ghi ngày tháng sẽ mở ra đọc lại. Đến ngày tháng đó, nếu anh mở ra và đi đến kết luận là mình đã quên những từ những câu ghi trên giấy, anh trả chúng về tập chưa học để học lại từ đầu.
Từ mấy tháng nay, Bogdan Tý lại học tiếng Việt say mê như ngày nào. Điều kiện của anh đã thuận lợi hơn. Chưa kể thế của anh bây giờ là thế „cưỡi trên lưng hổ”. Anh nuôi tham vọng nắm vững tiếng Việt ở trình độ cao để có thể giới thiệu với độc giả nước mình những thành tựu to lớn về văn hóa, văn học của Việt Nam, đất nước mà anh vô cùng yêu mến. Chính vì thế mà bên cạnh việc xem lại những tập giấy đã bị ố vàng hay dày bụi thời gian, anh có mặt đầy đủ trong giờ giảng văn của tôi để tích lũy kiến thức và hoàn thiện vốn từ tiếng Việt của mình, đáp ứng những yêu cầu mới trên cương vị ông thầy tiếng Việt. Tôi và anh bằng tuổi nhau, nhưng một tây một ta, một bé nhỏ, một cao to. Trong cuộc sống, chúng tôi là bạn thân của nhau, nhưng trên lớp anh là học trò. Anh luôn chăm chú nghe tôi giảng bài, ghi chép tỉ mỉ, hỏi lại những gì chưa rõ. Nếu không có gì trở ngại lớn, sau một vài năm nữa, anh sẽ là một trong số không nhiều người Ba Lan có học vị tiến sĩ về Việt Nam học, chuyên ngành chưa được nghiên cứu sâu ở nước anh.
Khi nói chuyện với các bạn Việt Nam, ai cũng hỏi Bogdan, vì sao anh có động cơ tự học tiếng Việt mãnh liệt đến thế. Bao giờ anh cũng nêu hai lý do đơn giản: Thứ nhất, tiếng Việt là tiếng nói của Lâm, người bạn thân nhất, người bạn với đúng nghĩa là bạn, của anh. Thứ hai, anh vô cùng thấm thía lời dạy của ông ngoại. Ông đã dạy anh rất nhiều, nhưng điều tác động mạnh mẽ đến cả cuộc đời anh là câu nói dưới đây của ông: "Mỗi người sống chỉ có một lần, nhưng khi mình học tiếng nước ngoài, mình trở thành trẻ con một lần nữa: chẳng hiểu gì cả, phát âm không rõ, khi nói mắc những lỗi buồn cười, như trẻ con ấy. Nhưng cuối cùng, nhờ học ngoại ngữ, mình thấy thế giới và con người, cây cối và thú vật hoàn toàn khác. Tóm lại, mình học tiếng nước ngoài là mình học sống một lần nữa".
Tháng 12 năm 2008, Bogdan Nowicki Nguyễn Văn Tý có niềm vui và vinh dự lớn. Trong những ngày Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang Poznan dự Hội nghị về biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên hợp quốc, anh đã giúp Đoàn trong một số hoạt động cụ thể, được Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đạo tạo Nguyễn Thiện Nhân mời dự bữa tối, nói chuyện thân mật. Anh không thể ngờ rằng những cố gắng bao năm của mình trong việc học tiếng Việt nay đã được đền đáp bằng việc sử dụng nó để tiếp chuyện với một trong số các nhà lãnh đạo Việt Nam, đất nước mấy chục năm nay anh rất mực yêu quý và ngưỡng mộ.
Gần đây tôi còn phát hiện thêm một niềm say mê mới của Bogdan Tý: ngoài dân ca quan họ, anh rất mê hát chèo. Hè vừa rồi, trong dịp về nước, tôi đã trực tiếp đến gặp nghệ sĩ Thúy Mùi, giám đốc Nhà hát Chèo Hà Nội, xin chị mấy đĩa chèo, cẩn thận bắt chị ký tên đề tặng, mang sang Ba Lan cho Tý. Anh nghe say sưa và thỉnh thoảng lại gọi điện hoặc gửi email cho tôi chia sẻ cảm tưởng. Tôi đã ngồi nghe cùng anh nhiều lần các đĩa hát, đĩa nhạc Việt Nam, quan sát vẻ mặt và sự „mê mẩn”của anh, tôi hiểu những cái đó ở anh là có thật, không thể đóng kịch được.
Bogdan đã có gần bốn mươi năm gắn bó với Việt Nam, nên anh bị ảnh hưởng rất rõ „tính cách Việt”. Tôi hay nói đùa là Tý đã bị „Việt Nam hóa” hoàn toàn. Mỗi lần đi Varsava, bao giờ anh cũng ghé qua nhà hàng Á Châu mua thực phẩm Việt Nam để về nhà chế biến các món ăn Việt. Anh thích nem rán, miến xào thập cẩm. Anh đặc biệt thích bánh cốm. Nghe đâu anh đã từng đi ô tô 300 cây số chỉ để nhận 10 cái bánh cốm do bạn anh mang từ Hà Nội sang làm quà. Nhắc lại chuyện này, anh hay đỏ mặt, nhưng tôi an ủi anh rằng thích bánh cốm không phải là tham ăn mà là thể hiện tình yêu mãnh liệt đối với Việt Nam. Nghe xong anh có vẻ yên tâm. Bogdan có lần nói với tôi là khi nào sang Việt Nam, việc đầu tiên anh làm là mua ngay năm chục cái bánh cốm ăn cho sướng. Cùng là dân mê bánh cốm, tôi thông cảm với anh và đang làm những gì cần thiết để chuyến đi Việt Nam của anh nhanh chóng trở thành hiện thực.
Gần đây Bogdan Tý tự nhiên cứ nài nỉ tôi bao giờ về Hà Nội thì nhớ mua cho anh bộ bài tổ tôm. Tôi không biết chơi tổ tôm nên lúc đầu không hiểu ý định này của anh. Mãi sau tôi mới biết, thì ra anh đã đọc được ở đâu đó câu thơ: Làm trai biết đánh tổ tôm / Uống chè chính Thái, xem Nôm Thúy Kiều. Anh tự nhận mình đã có hai tiêu chuẩn làm trai là đọc Kiều và uống chè xanh Việt Nam, chỉ chưa biết đánh tổ tôm là gì ... Chỉ có thế thôi ... Chỉ đơn giản vậy.
Poznan tháng 1 năm 2009, Nguyễn Chí Thuật (queviet.pl)