Thơ lục bát là một thể thơ thuần Việt nhất trong các thể thơ tiếng Việt. Ngoài lục bát ra, phần lớn các thể thơ khác đều được vay mượn của Trung Quốc hay châu Âu. Lục bát được tổ tiên chúng ta dùng để sáng tạo nên những câu ca dao bất hủ, để Nguyễn Du viết kiệt tác Truyện Kiều một thời việc đọc tác phẩm được coi là tiêu chí làm trai của đàn ông Việt (Làm trai biết đánh tổ tôm/Uống chè chính Thái xem Nôm Thúy Kiều). Bài thơ dài Nước non ngàn dặm của Tố Hữu cũng viết theo thể thơ lục bát. Cho mãi đến thế hệ các nhà thơ trẻ nhất hiện nay, các em thiếu nhi cầm bút làm thơ, lục bát vẫn là thể loại được yêu thích. Những câu thơ hay nhất của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa là những câu lục bát (Ngoài vườn rụng chiếc lá đa/Tiếng rơi khe khẽ như là rơi nghiêng). Không thể hình dung thơ Việt thiếu thơ lục bát. Thể thơ thuần Việt này suốt thời gian dài được coi là „quốc hồn, quốc túy” của thơ Việt, nó cũng đã từng làm nên cả một phong trào „nhà nhà làm lục bát”. Nó có sức sống mãnh liệt, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Do đặc tính dễ thuộc, dễ nhớ, nó nhanh chóng bám sâu và đọng lại trong trí nhớ người đọc. Ngày hội Thơ Việt Nam tổ chức vào dịp Nguyên tiêu hàng năm có tiết mục thả thơ lên trời, chủ yếu thả những câu lục bát hay nhất. Năm 2007 Báo điện tử Tổ Quốc (Bộ Văn hóa Thông tin) tổ chức cuộc thi tuyển chọn 99 bài thơ lục bát hay nhất thế kỷ không nằm ngoài mục đích tôn vinh thể loại thơ từ bao thế kỷ nay đã và đang làm nên niềm tự hào của cả một dân tộc, khẳng định giá trị của thể thơ truyền thống như một điểm nhấn tinh thần văn hóa Việt.
Do tính chất thuần Việt của thể thơ lục bát, những bài thơ nước ngoài dịch ra tiếng Việt sử dụng thể thơ truyền thống này thường không khỏi bị nghi ngờ là khiên cưỡng. Ý kiến trên có cơ sở lý luận và thực tế, bởi lẽ đơn giản là thơ nước ngoài không có thể loại thơ hoàn toàn giống hay chỉ tương tự như thể lại thơ này của tiếng Việt. Hãy lấy thơ Ba Lan làm ví dụ so sánh. Thể thơ 13 âm tiết rất thông dụng trong thơ Ba Lan truyền thống. Kiệt tác Chàng Tadeusz của Adam Mickiewicz được viết bằng thể thơ này. Nhưng phổ biến hơn cả là thể thơ 8 âm tiết, được sử dụng trong các tác phẩm sử thi, trong kịch thơ, nó cũng có vai trò to lớn trong thơ dân gian và thơ viết cho thiếu nhi. Dịch thơ nước ngoài ra thơ lục bát tiếng Việt có thể gặp những điều bất cập. Nếu nguyên bản là thơ 13 âm tiết hay 8 âm tiết thì một câu thơ nguyên tác phải ngắt ra làm nhiều câu thơ Việt. Dịch giả Nguyễn Văn Thái, tác giả bản dịch kiệt tác Chàng Tadeusz ra tiếng Việt có lần tâm sự với tôi rằng lúc đầu anh cũng định dịch tác phẩm của đại thi hào Ba Lan ra thơ lục bát, nhưng chỉ riêng cách xử lý tên nhân vật, tên địa danh cũng đã là điều khó. Chả lẽ lại để tên Częstochowa chiếm đến một câu sáu trong câu thơ lục bát?. Đúng là không thể sử dụng lục bát Việt để dịch Chàng Tadeusz. Nhưng điều này chỉ đúng với những tác phẩm cụ thể. Trong thực tế Việt Nam, rất nhiều bài thơ nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt bằng thơ lục bát. Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh viết hoàn toàn bằng thơ chữ Hán, khi dịch ra tiếng Việt, nhiều bài đã thành thơ lục bát. Dịch giả Thúy Toàn dịch nổi tiếng là người dịch thơ Nga, trong đó có thơ Puszkin, ra tiếng Việt, một số bài cũng dùng hình thức thơ lục bát.
Tôi có dịch một số bài thơ của các tác giả Ba Lan ra tiếng Việt, đăng rải rác trên các báo và tạp chí, sau đưa vào tập Giấc mơ kỳ lạ đang nằm ở Nhà xuất bản Hội nhà văn chờ ngày ra mắt bạn đọc. Tuy số lượng các bài dịch ra lục bát không nhiều, song cũng có. Thiết nghĩ sử dụng thể thơ nào của Việt Nam để dịch là quyền lựa chọn của dịch giả, song điều đó có thể phụ thuộc vào một số yếu tố nhất định. Trong trường hợp thơ Ba Lan, những yếu tố này liên quan đến thể thơ được tác giả nguyên tác sử dụng, đề tài tác phẩm, không khí chung của bài thơ. Như mọi người đều biết, thơ lục bát vừa dễ vừa khó làm. Làm được lục bát hay chắc chắn là cả một nghệ thuật. Thoạt nhìn, có thể ngộ nhận lục bát có nguyên tắc khá đơn giản, cách gieo vần không đòi hỏi công phu..., nhưng chính cái đó hay đánh lừa người sáng tác nên chỉ cần cần tùy tiện một chút, dễ dãi một chút, bài thơ lập tức trở thành bài vè và tác giả của nó lập tức được tặng cho danh hiệu „Bút Tre”.
Để kết thúc bài viết của mình, xin mạnh dạn giới thiệu với Bạn đọc Quê Việt mấy bài thơ Ba Lan dịch ra lục bát Việt để các bạn tham khảo.

GIẤC MƠ KỲ LẠ
ADAM ASNYK
Đêm qua mơ giấc mơ dài
Tỉnh rồi mà vẫn tưởng hoài là mơ
Rằng em là sóng mặt hồ
Anh là tảng đá bên bờ lặng im.
Anh không hối tiếc đâu em
Rằng mình hóa đá mà quên làm người
Ước mong sao được yêu thôi
Mặc thời gian cứ thế trôi, trôi hoài.
Anh không thành kẻ hận đời
Vì hòn đá chẳng một lời nói ra
Nói lời là tấm lòng ta
Anh ngắm trời ở bao la lòng hồ.
Em là muôn đợt sóng xô
Êm êm vỗ nhẹ ngực mô đá mòn
Để ngàn năm mãi vẫn còn
Tình yêu của sóng với hòn đá xanh.
Mai dù mòn hết thân anh
Anh vui với nỗi tan tành em ơi
Vì anh được thấy đây rồi
Ngày tất đến của một đời đá xanh.
Mai dù em phụ tình anh
Anh chẳng dám trách phận mình đá vôi
Chào muôn sao với mặt trời
Chia tay! Anh ngả thân rơi lòng hồ.

NÓI NỮA ĐI EM
KAZIMIERZ TETMAJER-PRZERWA
Nói đi, nói nữa đi em
Tháng năm anh một nỗi thèm: lời em
Mỗi lời em đọng trong tim
Rung nhè nhẹ để lặng im, êm đềm.
Nói đi, nói nữa đi em
Chẳng ai nghe, bởi là đêm chúng mình
Lời em như có dáng hình
Ru anh và nhẹ như nhành hoa tươi
Vuốt ve anh suốt một đời
Nói đi, anh mãi khát lời của em.

BÀI THƠ CUỐI CÙNG
WŁADYSŁAW BRONIEWSKI
Em yêu anh đấy ... nhưng mà
Vẫn không phải thế, như là ... không yêu
Đi cùng nhau đó mỗi chiều
Nhưng không hẳn thế, thôi liều chia tay.
Anh còn lâu chẳng quên ngay
Nhưng rồi năm tháng ... đến ngày ... cũng nên ...
Những khi đau đớn triền miên
Mượn tiếng chuông để ngân lên, khuây dần.
Còn em, cô bé duyên thầm
Tiếng chuông xa ấy có ngân ít nhiều?
Nhỏ nhoi là cái tình yêu
Chết rồi. Em cứ thẳng chiều em đi.
Cuộc đời cho anh những gì
Nỗi lo toan với thầm thì bài ca
Em đã đi xa, rất xa
Tình anh còn lại: bài ca thầm thì.
Cuộc đời cho anh những gì
Chắc em biết đấy, cũng khi vơi đầy
Nỗi buồn với bài thơ này
Nó yêu anh giữa những ngày cần yêu.
TS Nguyễn Chí Thuật (queviet.pl)