Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Czesław Miłosz – nhà thơ lớn của Ba Lan

06/05/2011 22 phút đọc Dịch: Ty na progu stoisz
Czesław Miłosz sinh ngày 30 tháng 6 năm 1911 tại Szetejnie, nay thuộc Litwa. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, Ba Lan đã
Czesław Miłosz – nhà thơ lớn của Ba Lan

Czesław Miłosz sinh ngày 30 tháng 6 năm 1911 tại Szetejnie, nay thuộc Litwa.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, Ba Lan đã lấy năm 2011 là năm Miłosz.

Ông là nhà thơ lớn, cũng đồng thời là nhà văn và dịch giả. Ông là tác giả của hàng trăm tác phẩm được xuất bản từ năm 1930 đến nay. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra trên 40 thứ tiếng và được nhiều giải thưởng văn học trong đó có giải thưởng Nobel vào năm 1980. Czesław Miłosz được tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự tại nhiều trường đại học của Mỹ và Ba Lan. Ông cũng là công dân danh dự của Litwa và thành phố Kraków.

Cesław Miłosz
 

Thời trẻ, Cz. Miłosz học tại thành phố Wilno (nay thuộc Litwa). Sau chiến tranh thế giới thứ II ông làm việc trong cơ quan ngoại giao của Ba Lan tại Mỹ và Pháp với tư cách là Tùy viên văn hóa. Từ năm 1951 ông xin tị nạn và sống tại Pari. Năm 1960 Miłosz đến Kalifornia và làm việc ở đó 20 năm với cương vị giáo sư ngôn ngữ và văn học Slavơ tại trường đại học Berkeley. Từ năm 1989 ông sống đồng thời cả ở Berkeley và Kraków. Czesław Miłosz mất ngày 14 tháng 8 năm 2004 tại Kraków thọ 93 tuổi.

Để cho các hoạt động của năm Miłosz, bộ văn hóa Ba Lan đã quyết định chi ngân sách với 7 triệu złoty. Sự kiện quan trọng nhất của năm có lẽ là Festival văn học được tổ chức tại Kraków từ 9 đến 15 tháng 05 năm 2011. Tại Festival sẽ hội tụ khoảng 130 nhà thơ, nhà văn đến từ các nước châu Âu, châu Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Liban và Nam Phi. Trong dịp này, sẽ có các cuộc hội thảo khoa học, bình thơ, hội thảo về dịch các tác phẩm của Miłosz cũng như trao đổi quan điểm về thơ văn.

Nhân dịp này, Quê Việt xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ của Miłosz do dịch giả Ngô Hoàng Minh chuyển ngữ.

 

1.     Hy vọng

Hy vọng thường có, nếu như ai biết tin,

Trái đất không phải giấc mơ, mà là cơ thể sống,

Vẫn tin trực giác, cảm nhận, cả thính giác đều không nói dối.

Còn tất cả những gì tôi thấy tại nơi đây,

Được coi như mảnh vườn khi đang được đứng trước cổng.

 

Chả được vào vườn đó. Nhưng rõ ràng nó sống.

Bởi nếu ta nhìn kỹ và biết suy nghĩ thế này,

Còn nhìn hoa tươi và ngàn ngôi sao sáng

Như thấy trong vườn có cả thế gian đây.

 

Vài kẻ cho rằng con mắt thích nhìn ảo tưởng

Chả có chi, mà chỉ tưởng tượng ra thôi,

Nhưng chính những người này là không còn hy vọng.

Họ nghĩ là thường khi họ ngoảnh bước rồi,

Cả thế gian sẽ chẳng tồn tại khi thiếu họ,

Cứ như là bàn tay ai đó lấy mất đi.

 

(Nadzieja)

Nadzieja bywa, jeżeli ktoś wierzy,

że ziemia nie jest snem, lecz żywym ciałem,

I że wzrok, dotyk ani słuch nie kłamie.

A wszystkie rzeczy, które tutaj znałem,

Są niby ogród, kiedy stoisz w bramie.

 

Wejść tam nie można. Ale jest na pewno.

Gdybyśmy lepiej i mądrzej patrzyli,

Jeszcze kwiat nowy i gwiazdę niejedną

W ogrodzie świata byśmy zobaczyli.

 

Niektórzy mówią, że nas oko łudzi

I że nic nie ma, tylko się wydaje,

Ale ci właśnie nie mają nadziei.

Myślą, że kiedy człowiek się odwróci,

Cały świat za nim zaraz być przestaje,

Jakby porwały go ręce złodziei.)

 

2.     Tình yêu 

Tình yêu là cứ nhìn mãi vào nhau,

Cũng như nhìn vào những gì ta thấy khác lạ,

Bởi tình yêu cũng chỉ là một trong vô vàn thứ.

Còn ai  khi nhìn vậy mà lại chưa biết điều này,

Là đang chữa cho tim mình đỡ bất hạnh,

Là được cả chim và cây khuyên bảo: bạn ơi!

Và khi đó muốn dùng cả bản thân và thứ khác,

Để cùng lấp trống trong thế giới bao la.

Chả sao cả, nếu vẫn chưa biết để làm gì:

Không phải kẻ làm tốt, mà chính người hiểu nhất.

 

(Miłość)

Miłość to znaczy popatrzeć na siebie,

Tak jak się patrzy na obce nam rzeczy,

Bo jesteś tylko jedną z rzeczy wielu.

A kto tak patrzy, choć sam o tym nie wie,

Ze zmartwień różnych swoje serce leczy,

Ptak mu i drzewo mówią: przyjacielu.

 

Wtedy i siebie, i rzeczy chce użyć,

Żeby stanęły w wypełnienia łunie.

To nic, że czasem nie wie, czemu służyć:

Nie ten najlepiej służy, kto rozumie.)

 

3.     Hãy quên

Hãy quên đi mọi sự khốn khổ,

Những nỗi đau tự mình gây ra

Hãy quên đi mọi sự khốn khổ,

Cả vết thương người khác đánh ta.

Sông ra biển chảy dài vô tận,

Xuân hé nở rồi lại đi xa,

Bạn vẫn đi trên con đường thoáng nhớ.

 

Thỉnh thoảng bạn nghe lời ca vọng đến.

Nó nghĩa gì, bạn hỏi: ai ca?

Mặt trời nhỏ cũng vừa tới bến,

Mà con cháu đầy đàn đã kịp sinh ra.

Nay chúng giúp bạn chậm đi từng bước.

 

Bạn còn nhớ rõ tên mọi con sông.

Thán phục dòng sông tồn tại vĩnh cửu!

Cánh đồng của bạn, đất đai dè bỉu,

Cổng thành lạ lẫm chẳng giống nơi nao.

Bạn đứng cạnh cửa, hàng lông mày nhíu.

 

(Zapomnij)

Zapomnij o cierpieniach,

Które sam zadałeś.

Zapomnij o cierpieniach,

Które tobie zadano.

Wody płyną i płyną,

Wiosny błysną i giną,

Idziesz ziemią ledwie pamiętaną.

 

Czasem słyszysz daleko piosenkę.

Co to znaczy, pytasz, kto tam śpiewa?

Dziecinne słońce wschodzi,

Wnuk i prawnuk się rodzi.

Teraz ciebie prowadza za rękę.

 

Nazwy rzek tobie jeszcze zostały.

Jakże długo umieją trwać rzeki!

Pola twoje, ugorne,

Wieże miast, niepodobne.

Ty na progu stoisz, zaniemiały.)


Czesław Miłosz - Ngô Hoàng Minh dịch (queviet.pl)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu