| Ảnh minh hoạ |
Đất nước toàn anh hùng và nhà thơ
Bài báo viết: “Nét đẹp lớn nhất mà ai cũng có thể nhận thấy, bắt nguồn từ thuở cha ông chảy mãi đến tận ngày nay, đó là mối quan hệ nghĩa tình trong gia đình. Gia đình một tổ chức dựa trên mối quan hệ nghĩa tình.
Đây là một nét đặc trưng, một nét đẹp văn hóa mà có lẽ chỉ có ở một dân tộc hình thành từ nền nông nghiệp lúa nước, lại phải trường kỳ chịu cảnh thiếu thốn khó khăn, phải chống chọi với ngoại xâm, thiên tai và thú dữ”.
Vậy hóa ra ở các nước phương Tây không trồng lúa nước, hay những đất nước không phải kinh qua khó khăn gian khổ thì gia đình của họ không có tình nghĩa, hay tình nghĩa không sâu đậm bằng gia đình Việt Nam hay sao? Cũng may, tác giả đã thêm từ “có lẽ” vào trước nhận định của mình, nhưng xu hướng ấu trĩ trong nhận thức, quan niệm vẫn không thể phủ nhận.
Tác giả còn viết tiếp: “Ấy vậy mà trải qua hàng nghìn năm, với biết bao thế hệ nối tiếp nhau, những chuẩn mực của gia đình như nền nếp gia phong, mô hình "tứ đại đồng đường" vẫn được hình thành, nâng niu, gìn giữ”.
Ai cũng biết, cái mô hình “tứ đại đồng đường” hay “ngũ, lục đại đồng đường” gì đó chỉ vì hoàn cảnh quá khó khăn trói buộc, cha mẹ không có điều kiện làm nhà riêng cho con cái, nên đành phải chịu cảnh các thế hệ khác biệt nhiều thứ chung sống. Sống như vậy thì chỉ chịu đựng nhau là chính, nên mới có câu “Một điều nhịn, chín điều lành”. Xin hỏi bây giờ còn ai muốn sống trong mô hình “tứ đại đồng đường” đó, ai muốn “nâng niu, gìn giữ” mô hình đó? Cũng chẳng khác gì vì quá khó khăn phải ăn rau, lại tự vỗ ngực khen ta đây ăn uống thông minh, khoa học!
Dĩ nhiên, tác giả là người có tình cảm đối với quê hương, dân tộc. Nhưng khoa học là phải khách quan, trung thực, còn nếu cứ theo lối mòn “mẹ hát con khen hay” như vậy thì “thương nhau như thế bằng mười hại nhau”. Cứ ôm ấp mãi những ảo vọng và nhận thức sai lầm thì không thể mở rộng tâm hồn và trí tuệ đón nhận cái hay, cái tốt, cái mới để phát triển.
Đây cũng là xu hướng xem “Việt Nam là trung tâm của thế giới” thể hiện trong rất nhiều bài viết về văn hóa – xã hội trên báo chí. Đã có một thời, bao nhiêu thế hệ học sinh bị áp đặt một quan niệm: người Việt thông minh, cần cù, dũng cảm, yêu nước. Dĩ nhiên quan niệm này có tác dụng kích thích lòng tự hào dân tộc, động viên mỗi người phấn đấu vươn lên.
Nhưng mặt trái của quan niệm cực đoan này cũng tai hại không kém. Nhiều người đến khi ra nước ngoài mới nhận thấy quan niệm nói trên có nhiều điểm ấu trĩ. Vậy chỉ có người Việt Nam mới yêu nước, hay người Việt Nam là yêu nước nhất thế giới? Người Việt Nam thông minh như vậy, sao khoa học lại bết bát thế, đến bây giờ cũng chưa làm được cái xe đạp cho ra hồn? Chỉ chừng đó thôi cũng đủ “tỉnh cả người”.
Một ông người Việt đi ra nước ngoài, vỗ ngực: “Đất nước tôi nơi đâu cũng có Anh hùng và Nhà thơ”. Người bạn Ngoại quốc mỉm cười: “Như vậy thì đất nước các bạn nghèo là phải rồi. Đất nước tôi có nhiều Doanh nhân, nên đất nước tôi rất giàu có”.
“Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ”
Một bài viết khác, của một vị có học hàm giáo sư mà chúng tôi không tiện nêu tên, với nhan đề “Quan xứ Nghệ” đăng trên một tạp chí văn hóa. Nội dung bài viết thì dài, nhưng chung quy tác giả khẳng định như đinh đóng cột về những phẩm chất “ưu việt” của các vị quan xứ Nghệ “(Nghệ An – Hà Tĩnh) thời xưa là yêu nước, thanh liêm, cương trực, nhân ái. 100 % các vị “quan xứ Nghệ” (xưa) đều như vậy.
Tôi không phải là nhà nghiên cứu để có những chứng cớ phản biện quan điểm của vị giáo sư khả kính nọ. Nhưng chỉ nêu ra đây một vài điều mà ai cũng biết: Hầu hết tư dinh của các quan ngày xưa (xứ Nghệ và cả nước) đều khang trang; đời sống của hầu hết các quan cũng vương giả (so với dân đen).
Lương bổng các quan cũng “thường thôi”, các quan lại hầu hết nhiều vợ, lắm con. Các quan ngày xưa đều không làm kinh tế, không có công ty riêng, cổ phần riêng, không chơi xổ số. Vậy nếu các vị đều thanh liêm như giáo sư nói thì không biết tiền ở đâu ra? Riêng chuyện các quan xứ Nghệ đều yêu nước, thì Hoàng Cao Khải quê ở huyện Đức Thọ lẽ nào không phải là xứ Nghệ?
Từ bài viết của vị giáo sư nọ, chúng tôi nhận thấy xu hướng “hoài cổ” trong nghiên cứu xã hội, văn hóa hiện nay. Rất nhiều người, không biết từ bao giờ và vì sao, đã sẵn một quan niệm: “Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ”.
Cái gì thuộc về xa xưa cũng là mẫu mực, tốt đẹp cả. Nào là ngày xưa thi cử nghiêm túc lắm, giáo dục bài bản lắm. Ngay cả giáo dục thời thuộc Pháp cũng vô cùng vĩ đại (xin nhớ cho rằng, ngày xưa cả nước có bao nhiêu trường học và tỷ lệ người được đi học so với toàn dân là bao nhiêu?). Một con số mà ai cũng nhớ, đó là sau khi giành được độc lập, “sản phẩm” mà nền giáo dục thuộc Pháp để lại, là hơn 95% đồng bào ta mù chữ!
Ngày xưa quan chức thanh liêm lắm (như bài của giáo sư nọ), xã hội ổn định lắm, hài hòa lắm, đạo đức lắm…Ôi, Bao giờ cho đến ngày xưa?!
Chúng tôi cho rằng đây là một phản ứng có tính văn hóa – xã hội trước những mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội hiện tại. Thấy bế tắc, họ đi tìm những hình bóng tốt đẹp của quá khứ, coi việc phục hưng những giá trị, cách ứng xử truyền thống là bài giải cho những rắc rối hiện tại.
Còn nhớ, cách đây chưa lâu lắm, chúng tôi được học những bài học về xã hội, triết học, “nhất quán” một quan niệm: “Xã hội cũ” là lạc hậu, xấu xa, chỉ có “xã hội mới” là tốt đẹp, văn minh. “Giờ ra thay bậc đổi ngôi, dám xin gửi lại một lời cho minh”.
Không cần đi đâu xa, xin các vị giở lại vài trang những cuốn sách về ca dao, tục ngữ, văn học dân gian xưa (hoặc nhẩm lại trong trí nhớ), thì sẽ thấy rằng “đời không chỉ có màu hồng”. Xã hội nào cũng có cái tốt, cái xấu, người tốt, người xấu…
Xã hội xưa, những trường hợp vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, quan chẳng ra quan, thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò… không hiếm; rồi tham nhũng, trộm cắp, tà dâm, lạc hậu… cũng nhiều. Nhiều người chỉ thấy cái hay, cái tốt của giáo dục theo mô hình Nho giáo, mà không thấy được chính lối giáo dục đó đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, kéo lùi lịch sử, khiến dân tộc ta yếu hèn, phải cam chịu nô lệ.
Lấy những giá trị, cách ứng xử xưa để giải quyết bài toán hiện tại không phải bao giờ cũng đúng. Cuộc sống thay đổi chóng mặt, những vấn đề hiện tại đòi hỏi một tư duy mới, một phương pháp tiếp cận mới. Dĩ nhiên “ôn cố tri tân” là cần, nhưng phải là một cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng với bản chất sự việc, vấn đề. “Ôn cố” như vậy, mới có thể “tri tân”. Còn kiểu “tự sướng” lệch lạc như một số bài viết hiện nay thì xin nói thật, thà không viết còn hơn, vì “một nửa sự thật không phải là sự thật”.
Bài báo viết: “Nét đẹp lớn nhất mà ai cũng có thể nhận thấy, bắt nguồn từ thuở cha ông chảy mãi đến tận ngày nay, đó là mối quan hệ nghĩa tình trong gia đình. Gia đình một tổ chức dựa trên mối quan hệ nghĩa tình.
Đây là một nét đặc trưng, một nét đẹp văn hóa mà có lẽ chỉ có ở một dân tộc hình thành từ nền nông nghiệp lúa nước, lại phải trường kỳ chịu cảnh thiếu thốn khó khăn, phải chống chọi với ngoại xâm, thiên tai và thú dữ”.
Vậy hóa ra ở các nước phương Tây không trồng lúa nước, hay những đất nước không phải kinh qua khó khăn gian khổ thì gia đình của họ không có tình nghĩa, hay tình nghĩa không sâu đậm bằng gia đình Việt Nam hay sao? Cũng may, tác giả đã thêm từ “có lẽ” vào trước nhận định của mình, nhưng xu hướng ấu trĩ trong nhận thức, quan niệm vẫn không thể phủ nhận.
Tác giả còn viết tiếp: “Ấy vậy mà trải qua hàng nghìn năm, với biết bao thế hệ nối tiếp nhau, những chuẩn mực của gia đình như nền nếp gia phong, mô hình "tứ đại đồng đường" vẫn được hình thành, nâng niu, gìn giữ”.
Ai cũng biết, cái mô hình “tứ đại đồng đường” hay “ngũ, lục đại đồng đường” gì đó chỉ vì hoàn cảnh quá khó khăn trói buộc, cha mẹ không có điều kiện làm nhà riêng cho con cái, nên đành phải chịu cảnh các thế hệ khác biệt nhiều thứ chung sống. Sống như vậy thì chỉ chịu đựng nhau là chính, nên mới có câu “Một điều nhịn, chín điều lành”. Xin hỏi bây giờ còn ai muốn sống trong mô hình “tứ đại đồng đường” đó, ai muốn “nâng niu, gìn giữ” mô hình đó? Cũng chẳng khác gì vì quá khó khăn phải ăn rau, lại tự vỗ ngực khen ta đây ăn uống thông minh, khoa học!
Dĩ nhiên, tác giả là người có tình cảm đối với quê hương, dân tộc. Nhưng khoa học là phải khách quan, trung thực, còn nếu cứ theo lối mòn “mẹ hát con khen hay” như vậy thì “thương nhau như thế bằng mười hại nhau”. Cứ ôm ấp mãi những ảo vọng và nhận thức sai lầm thì không thể mở rộng tâm hồn và trí tuệ đón nhận cái hay, cái tốt, cái mới để phát triển.
Đây cũng là xu hướng xem “Việt Nam là trung tâm của thế giới” thể hiện trong rất nhiều bài viết về văn hóa – xã hội trên báo chí. Đã có một thời, bao nhiêu thế hệ học sinh bị áp đặt một quan niệm: người Việt thông minh, cần cù, dũng cảm, yêu nước. Dĩ nhiên quan niệm này có tác dụng kích thích lòng tự hào dân tộc, động viên mỗi người phấn đấu vươn lên.
Nhưng mặt trái của quan niệm cực đoan này cũng tai hại không kém. Nhiều người đến khi ra nước ngoài mới nhận thấy quan niệm nói trên có nhiều điểm ấu trĩ. Vậy chỉ có người Việt Nam mới yêu nước, hay người Việt Nam là yêu nước nhất thế giới? Người Việt Nam thông minh như vậy, sao khoa học lại bết bát thế, đến bây giờ cũng chưa làm được cái xe đạp cho ra hồn? Chỉ chừng đó thôi cũng đủ “tỉnh cả người”.
Một ông người Việt đi ra nước ngoài, vỗ ngực: “Đất nước tôi nơi đâu cũng có Anh hùng và Nhà thơ”. Người bạn Ngoại quốc mỉm cười: “Như vậy thì đất nước các bạn nghèo là phải rồi. Đất nước tôi có nhiều Doanh nhân, nên đất nước tôi rất giàu có”.
“Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ”
Một bài viết khác, của một vị có học hàm giáo sư mà chúng tôi không tiện nêu tên, với nhan đề “Quan xứ Nghệ” đăng trên một tạp chí văn hóa. Nội dung bài viết thì dài, nhưng chung quy tác giả khẳng định như đinh đóng cột về những phẩm chất “ưu việt” của các vị quan xứ Nghệ “(Nghệ An – Hà Tĩnh) thời xưa là yêu nước, thanh liêm, cương trực, nhân ái. 100 % các vị “quan xứ Nghệ” (xưa) đều như vậy.
Tôi không phải là nhà nghiên cứu để có những chứng cớ phản biện quan điểm của vị giáo sư khả kính nọ. Nhưng chỉ nêu ra đây một vài điều mà ai cũng biết: Hầu hết tư dinh của các quan ngày xưa (xứ Nghệ và cả nước) đều khang trang; đời sống của hầu hết các quan cũng vương giả (so với dân đen).
Lương bổng các quan cũng “thường thôi”, các quan lại hầu hết nhiều vợ, lắm con. Các quan ngày xưa đều không làm kinh tế, không có công ty riêng, cổ phần riêng, không chơi xổ số. Vậy nếu các vị đều thanh liêm như giáo sư nói thì không biết tiền ở đâu ra? Riêng chuyện các quan xứ Nghệ đều yêu nước, thì Hoàng Cao Khải quê ở huyện Đức Thọ lẽ nào không phải là xứ Nghệ?
Từ bài viết của vị giáo sư nọ, chúng tôi nhận thấy xu hướng “hoài cổ” trong nghiên cứu xã hội, văn hóa hiện nay. Rất nhiều người, không biết từ bao giờ và vì sao, đã sẵn một quan niệm: “Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ”.
Cái gì thuộc về xa xưa cũng là mẫu mực, tốt đẹp cả. Nào là ngày xưa thi cử nghiêm túc lắm, giáo dục bài bản lắm. Ngay cả giáo dục thời thuộc Pháp cũng vô cùng vĩ đại (xin nhớ cho rằng, ngày xưa cả nước có bao nhiêu trường học và tỷ lệ người được đi học so với toàn dân là bao nhiêu?). Một con số mà ai cũng nhớ, đó là sau khi giành được độc lập, “sản phẩm” mà nền giáo dục thuộc Pháp để lại, là hơn 95% đồng bào ta mù chữ!
Ngày xưa quan chức thanh liêm lắm (như bài của giáo sư nọ), xã hội ổn định lắm, hài hòa lắm, đạo đức lắm…Ôi, Bao giờ cho đến ngày xưa?!
Chúng tôi cho rằng đây là một phản ứng có tính văn hóa – xã hội trước những mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội hiện tại. Thấy bế tắc, họ đi tìm những hình bóng tốt đẹp của quá khứ, coi việc phục hưng những giá trị, cách ứng xử truyền thống là bài giải cho những rắc rối hiện tại.
Còn nhớ, cách đây chưa lâu lắm, chúng tôi được học những bài học về xã hội, triết học, “nhất quán” một quan niệm: “Xã hội cũ” là lạc hậu, xấu xa, chỉ có “xã hội mới” là tốt đẹp, văn minh. “Giờ ra thay bậc đổi ngôi, dám xin gửi lại một lời cho minh”.
Không cần đi đâu xa, xin các vị giở lại vài trang những cuốn sách về ca dao, tục ngữ, văn học dân gian xưa (hoặc nhẩm lại trong trí nhớ), thì sẽ thấy rằng “đời không chỉ có màu hồng”. Xã hội nào cũng có cái tốt, cái xấu, người tốt, người xấu…
Xã hội xưa, những trường hợp vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, quan chẳng ra quan, thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò… không hiếm; rồi tham nhũng, trộm cắp, tà dâm, lạc hậu… cũng nhiều. Nhiều người chỉ thấy cái hay, cái tốt của giáo dục theo mô hình Nho giáo, mà không thấy được chính lối giáo dục đó đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, kéo lùi lịch sử, khiến dân tộc ta yếu hèn, phải cam chịu nô lệ.
Lấy những giá trị, cách ứng xử xưa để giải quyết bài toán hiện tại không phải bao giờ cũng đúng. Cuộc sống thay đổi chóng mặt, những vấn đề hiện tại đòi hỏi một tư duy mới, một phương pháp tiếp cận mới. Dĩ nhiên “ôn cố tri tân” là cần, nhưng phải là một cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng với bản chất sự việc, vấn đề. “Ôn cố” như vậy, mới có thể “tri tân”. Còn kiểu “tự sướng” lệch lạc như một số bài viết hiện nay thì xin nói thật, thà không viết còn hơn, vì “một nửa sự thật không phải là sự thật”.
Trần Quang Đại (Tầm nhìn)