Lời giới thiệu
Sự hình thành cộng đồng người Việt tại hải ngoại là một biến cố có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Có những điều tưởng như nghịch lí lại là sự thật khách quan không thể chối bỏ: đại thắng mùa Xuân 1975 mang lại sự thống nhất đất nước, đồng thời dẫn tới làn sóng di tản để rồi tạo nên cộng đồng người Việt tại Tây Âu, Úc Châu và Bắc Mĩ. Còn sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ cùng với chính sách đổi mới, mở cửa ở Việt Nam lại là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành cộng đồng người Việt tại Nga, Ba Lan, Séc, Hung-ga-ri...
Trong vốn liếng mà người Việt xa xứ mang theo không chỉ có những phẩm chất quý báu như tình yêu đối với quê hương, đức tính cần cù, nhẫn nại, nghị lực chịu đựng gian khổ phi thường... mà còn có cả tình yêu đối với thơ ca. Dường như ở đâu có người Việt thì ở đó có thơ. Nói cách khác: thơ luôn đồng hành với bước chân người Việt trên khắp địa cầu. Điều này cũng không ngoại lệ đối với Ba Lan, đất nước giàu truyền thống thi ca và âm nhạc, là nơi có nhiều người Việt đang sinh sống.
Từ lâu, rất nhiều người Việt ở Ba Lan đã làm thơ. Nhưng chỉ khi báo Quê Việt ra đời, bạn đọc mới nhận ra rằng trên quê hương của Ađam Mickievich có nhiều nhà thơ trong cộng đồng người Việt. Cũng từ đó cho đến nay, Quê Việt đã trở thành một địa chỉ tin cậy để những tâm hồn yêu thơ được hội ngộ, cùng cất lên tiếng nói của lòng mình.
Thơ Việt tại Ba Lan có thể ví như một giọt nước trong đại dương thơ mênh mông của người Việt sống xa quê hương. Chín mươi chín bài thơ được lựa chọn ở đây chỉ là phần nhỏ trong khoảng năm trăm bài thơ được đăng trên báo Quê Việt mười năm qua. Nhưng „một giọt nước phản ánh cả vầng thái dương” - cách nói của một nhà văn Nga - các bài thơ mang đến cho người đọc cái nhìn khá trung thực về cuộc sống muôn màu muôn vẻ, về thế giới tâm hồn vô cùng phong phú của những người con đã rời quê cha đất tổ, chọn Ba Lan làm quê hương thứ hai của mình. Những cuộc mưu sinh đầy gian nan, cay cực để tồn tại, để vượt qua nghèo khó đã in đậm dấu ấn trong nhiều bài thơ. Hoàn cảnh sống nơi đất khách quê người với những trở ngại và thử thách không làm mai một những tình cảm nhân văn cao đẹp: tình ruột thịt, tình bè bạn, tình yêu đôi lứa, lòng cảm mến và biết ơn đối với đất nước, con người Ba Lan - mảnh đất lành cho những cánh chim di trú... Đặc biệt được nói đến nhiều hơn cả, tha thiết hơn cả là nỗi nhớ quê hương xứ sở và tâm trạng day dứt, dằn vặt trước cảnh ngộ tha hương. Qua những vần thơ ấy, người đọc càng hiểu hơn về tình yêu đất nước của con người Việt Nam, tình yêu đó mãnh liệt và sâu sắc biết dường nào! Dẫu xa cách vạn dặm, hình bóng của dải đất Việt Nam thân thương vẫn luôn sống cùng nhịp đập trái tim của mỗi con người.
Những tình cảm tốt đẹp ấy đã được những người làm thơ nói lên một cách chân thành, giản dị; không cầu kì, hoa mĩ hay màu mè, kiểu cách. Bởi một lí do rất đơn giản: các cây bút người Việt tại Ba Lan phần lớn là những người làm thơ không chuyên. Họ vốn là cán bộ khoa học, nhà giáo, nghệ sĩ, họa sĩ, sinh viên, học sinh, thương gia, người làm thuê..., trong đó có nhiều phụ nữ. Có tác giả là bậc cao niên sang đoàn tụ cùng con cháu. Có tác giả chỉ đang là học sinh... Với các cây bút này, thơ là phương tiện hữu hiệu để bày tỏ những tâm tư, tình cảm; để bộc lộ niềm vui và nỗi buồn của mình trước cuộc sống xa xứ.
Chín mươi chín bài thơ trong „Cánh cò xứ tuyết” là con số tượng trưng cho chín mươi chín số Quê Việt vào ngày tờ báo tròn mười tuổi. Tập thơ có ý nghĩa ghi nhận những thành quả ban đầu của các cây bút thơ Việt tại Ba Lan gắn với chặng đường mười năm của báo Quê Việt. Bên cạnh đó là một số bài thơ của các tác giả trong nước sang thăm Ba Lan, có nhiều tình cảm gần gũi, gắn bó với cộng đồng người Việt cũng được giới thiệu trong tập thơ này.
Vì khả năng có hạn, công việc tuyển chọn không tránh khỏi thiếu sót. Mong quý bạn đọc lượng thứ.
Vác-sa-va, tháng 4-2009Hoàng Trọng Hà