Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 34)
Dzwon wciąż dzwonił, i echem z głębi cichych lasów
Odezwało się tysiąc krzyków i hałasów;
Odgłos to był szukania i nawoływania,
Hasło zakończonego na dziś grzybobrania,
Odgłos nie smutny wcale ani pogrzebowy,
Jak się Hrabiemu zdało, owszem, obiadowy.
Dzwon ten, w każde południe krzyczący z poddasza,
Gości i czeladź domu na obiad zaprasza:
Tak było w dawnych licznych dworach we zwyczaju
I zostało się w domu Sędziego. Więc z gaju
Wychodziła gromada niosąca krobeczki,
Koszyki, uwiązane końcami chusteczki,
Pełne grzybów; a panny w jednym ręku niosły,
Jako wachlarz zwiniony, borowik rozrosły,
W drugim związane razem, jakby polne kwiatki,
Opieńki i rozlicznej barwy surojadki:
Wojski niósł muchomora. Z próżnymi przychodzi
Rękami Telimena, z nią panicze młodzi.
Goście weszli w porządku i stanęli kołem:
Podkomorzy najwyższe brał miejsce za stołem;
Z wieku mu i z urzędu ten zaszczyt należy,
Idąc kłaniał się starcom, damom i młodzieży;
Obok stał Kwestarz; Sędzia tuż przy Bernardynie.
Bernardyn zmówił krótki pacierz po łacinie,
Podano w kolej wódkę, za czym wszyscy siedli
I chołodziec litewski milczkiem żwawo jedli.
Obiadowano ciszej, niż się zwykle zdarza;
Nikt nie gadał pomimo wezwań gospodarza.
Strony biorące udział w wielkiej o psów zwadzie
Myśliły o jutrzejszej walce i zakładzie;
Myśl wielka zwykle usta do milczenia zmusza.
Telimena, mówiąca wciąż do Tadeusza,
Musiała ku Hrabiemu nieraz się odwrócić,
Nawet na Asesora nieraz okiem rzucić:
Tak ptasznik patrzy w sidło, kędy szczygły zwabia,
I razem w pastkę wróblą. Tadeusz i Hrabia,
Obadwa radzi z siebie, obadwa szczęśliwi,
Oba pełni nadziei, więc niegadatliwi.
Hrabia na kwiatek dumne opuszczał wejrzenie,
A Tadeusz ukradkiem spozierał w kieszenie,
Czy ów kluczyk nie uciekł; ręką nawet chwytał
I kręcił kartkę, której dotąd nie przeczytał.>
Sędzia Podkomorzemu węgrzyna, szampana
Dolewał, służył pilnie, ściskał za kolana,
Ale do rozmawiania z nim nie miał ochoty
I widać, że czuł jakieś tajemne kłopoty.
Przemijały w milczeniu talerze i dania;
Przerwał nareszcie nudny tok obiadowania
Gość niespodziany, szybko wpadając, gajowy;
Nie zważał nawet, że czas właśnie obiadowy,
Podbiegł do Pana; widać z postawy i z miny,
Że ważnej i niezwykłej jest posłem nowiny.
Ku niemu oczy całe zwróciło zebranie,
On, odetchnąwszy nieco, rzekł: "Niedźwiedź, Mospanie!"
Resztę wszyscy odgadli; że zwierz z matecznika
Wyszedł, że w Zaniemeńską puszczę się przemyka,
Że go trzeba wnet ścigać, wszyscy wraz uznali,
Choć ani się radzili, ani namyślali -
Spólną myśl widać było z uciętych wyrazów,
Z gestów żywych, z wydanych rozlicznych rozkazów,
Które, wychodząc tłumnie, razem z ust tak wielu,
Dążyły przecież wszystkie do jednego celu.
"Na wieś! zawołał Sędzia, hej! konno, setnika!
Jutro na brzask obława, lecz na ochotnika;
Kto wystąpi z oszczepem, temu z robocizny
Wytrącić dwa szarwarki i pięć dni pańszczyzny".
"W skok, krzyknął Podkomorzy, okulbaczyć siwą,
Dobiec w cwał do mojego dworu; wziąć co żywo
Dwie pjawki, które w całej okolicy słyną,
Pies zowie się Sprawnikiem, a suka Strapczyną;
Zakneblować im pyski, zawiązać je w miechu
I przystawić je tutaj konno dla pośpiechu".
"Wańka!" krzyknął na chłopca Asesor po rusku,
"Tasak mój Sanguszowski pociągnąć na brusku:
Wiesz, tasak, co od Księcia miałem w podarunku;
Pas opatrzyć, czy kula jest w każdym ładunku".
"Strzelby, krzyknęli wszyscy, mieć na pogotowiu!"
Asesor wołał ciągle: "Ołowiu, ołowiu!
Formę do kul mam w torbie". - "Do księdza plebana
Dać znać, dodał pan Sędzia, żeby jutro z rana
Mszę miał w kaplicy leśnej; króciuchna oferta
Za myśliwych, msza zwykła świętego Huberta".
Po wydanych rozkazach nastało milczenie;
Każdy dumał i rzucał dokoła wejrzenie,
Jak gdyby kogoś szukał; z wolna wszystkich oczy
Sędziwa twarz Wojskiego ciągnie i jednoczy:
Znak to był, że szukają na przyszłą wyprawę
Wodza i że Wojskiemu oddają buławę.
Wojski powstał, zrozumiał towarzyszów wolę
I uderzywszy ręką poważnie po stole,
Pociągnął złocistego z zanadrza łańcuszka,
Na którym wisiał gruby zegarek jak gruszka.
"Jutro, rzekł, pół do piątej, przy leśnej kaplicy
Stawią się bracia strzelcy, wiara obławnicy".
Rzekł i ruszył od stołu, za nim szedł gajowy;
Oni obmyślić mają i urządzić łowy.
Tak wodze gdy na jutro bitwę zapowiedzą,
Żołnierze po obozie broń czyszczą i jedzą,
Lub na płaszczach i siodłach śpią próżni kłopotu,
A wodze śród cichego dumają namiotu.
Przerwał się obiad, dzień zszedł na kowaniu koni,
Karmieniu psów, zbieraniu i czyszczeniu broni,
U wieczerzy zaledwie kto przysiadł do stoła;
Nawet strona Kusego z partyją Sokoła
Przestała dawnym wielkim zatrudniać się sporem:
Pobrawszy się pod ręce Rejent z Asesorem
Wyszukują ołowiu. Reszta spracowana
Szła spać wcześnie, ażeby przebudzić się z rana.

Chàng Tadeush (tiếp theo – 34)
Chuông vẫn tiếp tục vang lên cao ngạo
Cả tiếng vọng của trăm nghìn âm thanh nhộn nhạo
Từ những cánh rừng yên ắng quanh vùng
Đó là tiếng gọi tìm nhau, báo cuộc hái nấm đã ngừng
Tiếng vọng không ảm đạm cũng chẳng hề tang tóc
Như Bá tước đã mường tượng và buồn rầu hằn học
Mà là tiếng gọi về ăn trưa ở điền trang
Cứ đến giờ này lại dõng dạc ngân vang
Từ chiếc chuông treo ngay sát mái nhà tiền sảnh
Để báo cho khách và người làm về dùng bữa chính
Là thông lệ tại nhiều gia đình quyền quý ngày xưa
Và được giữ nguyên tại dinh Thẩm phán đến bây giờ
Thế là từ rừng đoàn người mang bao nhiêu sọt nặng
Và những chiếc làn đầy nấm hái từ buổi sáng
Các cô gái, một tay cầm những bọc nấm thông
Như xách theo những chiếc quạt cuốn tròn
Còn tay kia ôm các bầu nấm gốc
Và nấm bồ câu buộc thành túm nhiều màu sắc
Đẹp như đang ôm những bó hoa đồng
Lão Tổng quản ôm loại nấm mũ độc của mình
Riêng Telimena đi tay không chẳng mang gì cả
Và cùng đi với nàng là các cậu ấm trẻ.
Khách vào theo thứ tự, đứng thành vòng vây quanh
Quan Điền thổ được mời vào chỗ trang trọng nhất sau bàn ăn
Tuổi tác và địa vị của Ngài xứng đáng được tôn trọng thế
Vừa đi Ngài vừa cúi chào các vị phu nhân, người già và đám trẻ
Cạnh đó là linh mục dòng Bécna và Thẩm phán - chủ nhân
Cha dòng Bécna đọc lời cầu kinh bằng tiếng La tinh trước khi ăn
Đàn ông được tiếp vodka, mọi người lần lượt ngồi vào ghế
Món xúp lạnh kiểu Litva được thưởng thức nhanh chóng và lặng lẽ.
Bữa ăn trưa ít ồn ào hơn so với mọi bữa ở dinh điền
Không ai chuyện trò dù chủ nhân gợi ý nhiều lần
Những phe tham dự cuộc tranh cãi về hai chú chó
Đang nghĩ về cuộc đấu ngày mai và về cá độ
Ý nghĩ lớn thường làm miệng người lặng câm
Telimena vẫn trò chuyện với Tadeush thì thầm
Song phải nhiều lần quay sang Bá tước
Thậm chí có lúc hướng về Trợ tá nháy mắt
Người săn chim thường nhìn như vậy vào bẫy đã giăng
Khi sắp lao vào lưới những chim sẻ cánh vàng
Tadeush và Bá tước cả hai đang bay bổng
Cả hai đều hạnh phúc và tràn trề hy vọng
Và do vậy đều trở nên ít lời một cách hiền hòa
Bá tước tự hào đưa mắt nhìn xuống bông hoa
Còn Tadeush liếc trộm vào túi áo bên phải
Xem chiếc chìa khóa còn nằm nguyên ở đấy
Thậm chí còn nắm nó trong lòng bàn tay
Và sờ mảnh giấy chưa kịp đọc xoay xoay
Thẩm phán luôn chú ý tận tình phục vụ
Rót thêm rượu vang và sâm banh cho quan Điền thổ
Thỉnh thoảng lại lấy tay thoa lên đầu gối ông ta
Song không có hứng lên tiếng chuyện trò
Thấy rõ là đang có mối lo thầm nào không chia sẻ.
Bát đĩa và món ăn được thay trong lặng lẽ
Chấm dứt bữa ăn buồn tẻ, một vị khách bất ngờ
Là người canh rừng xuất hiện vào cuối bữa trưa
Không kịp giữ ý gì, chạy thẳng vào ông chủ
Có thể biết ngay qua nét mặt và dáng vẻ
Một chuyện quan trọng và đặc biệt đã xảy ra
Mắt mọi người đổ dồn về phía ông ta
Người canh, sau khi hít thở vài hơi, lên tiếng
“Gấu, thưa Ngài khả kính!”
Chuyện tiếp sau mọi người đoán được dễ dàng
Rằng con ác thú đã rời hang ổ của mình
Đã vượt qua cánh rừng Zaniemenska rậm rạp
Cần truy đuổi nó ngay tức khắc
Dù không ai hỏi ý ai
Không suy nghĩ đắn đo về công việc ngày mai
Ý nghĩ chung đọc được và đoán được
Lời tuy nhát gừng nhưng cử chỉ đầy linh hoạt
Thành mệnh lệnh nhiều người cùng một lúc phát ra
Một mục tiêu khó khăn nhưng không thể bỏ qua:
-“Vào rừng! Thẩm phán hô lớn
Này, xà ích, gọi trương tuần đến
Sáng tinh mơ ngày mai đi săn
Yêu cầu tình nguyện. Báo cho nông dân
Ai mang giáo vào rừng được đền bù lợi ích
Trừ hai xuất phu và năm ngày lao dịch!”
-“Bay đâu, quan Điền thổ kêu lên
Đưa con ngựa bạch đến thắng yên
Phi ngay đến dinh ta lập tức
Bảo mang đến đây nguồn bổ sung sinh lực
Hai con đỉa đói [1] nổi tiếng khắp vùng
Con đực Kẻ lục soát, còn con cái Gây hãi hùng
Phải khoá mõm chúng, nhốt vào cũi sắt
Cho lên xe ngựa mang đến đây tức khắc!”
-“Vanhiek! Trợ tá gọi chú hầu bằng tiếng Nga
Mang ngay ra mài con dao Sanguska của ta
Biết nó không, con dao hoàng thân mới tặng
Kiểm tra xem, súng phải đầy ổ đạn!”
-“Súng, tất cả hét, chuẩn bị sẵn sàng!”
Trợ tá luôn mồm “Chì, chì đâu mang sang
Khuôn đạn chì ta để trong ca táp!”
-“Báo cho cha sở ở nhà nguyện gấp
Sau những lời dặn dò, Thẩm phán bổ xung
Sớm mai làm lễ ở nhà thờ nhỏ ven rừng
Xin cha dành cho một đoạn kinh ngắn
Cầu Thánh Hubert [2] bảo trợ người săn bắn!”
Sau các mệnh lệnh trên, không khí lại lặng trầm
Ai cũng nghĩ ngợi và nhìn nhau tỏ ý quan tâm
Như thể muốn tìm người chỉ huy thực thụ
Khuôn mặt già nua của Tổng quản từ từ thu hút họ
Và tụ lại ánh mắt cả đám người trong phòng
Dấu hiệu báo tất cả đồng lòng chờ lệnh của ông
Tổng quản đứng dậy không do dự
Lão hiểu ý nguyện của những người đồng sự
Và sau khi đấm mạnh nắm tay xuống mặt bàn
Lão lôi ra sợi dây xích nhỏ bằng vàng
Trên đó có chiếc đồng hồ như trái lê treo lơ lửng
-“Hỡi các anh em, lão nói to hùng dũng
Đúng bốn giờ rưỡi sáng mai
Các tay súng, niềm tin của thợ săn vùng này
Hãy đến tập trung ở nhà nguyện cạnh rừng đầy đủ!”
Nói xong lão rời phòng ăn vội vàng ra cửa
Theo sau là người gác rừng
Họ phải lập kế hoạch và chỉ đạo cuộc săn lùng.
Khi chỉ huy đã tuyên cáo về trận đánh sắp tới
Lính tráng sẽ lau vũ khí và ăn uống trong doanh trại
Hoặc nằm lên áo khoác và yên ngựa nghỉ ngơi
Đầu óc thoát mọi âu lo và sẽ được thảnh thơi
Để các vị chỉ huy nghĩ suy trong cảnh tĩnh mịch lán trại.
Bữa trưa chấm dứt, không còn ai nán lại
Ngày ngập chìm vào những công việc khác nhau
Rèn móng ngựa, cho chó ăn, mang binh khí ra lau
Bữa cơm tối chẳng ai đến cả
Đến cả phe chó Cụt đuôi và Ưng khuyển cũng không cãi vã
Cùng bắt tay nhau thân tình
Công chứng và Trợ tá đi tìm chì đúc đạn cho mình
Số còn lại mệt mỏi đi ngủ sớm
Để ngày mai kịp dậy từ mờ sáng.
Nguyễn Văn Thái dịch
[1]Giống chó Anh, nhỏ và khoẻ, được gọi là đỉa đói, phục vụ các cuộc săn những ác thú lớn, đặc biệt là gấu. Kẻ lục soát là tên gọi viên đại uý trưởng phòng cảnh sát khu vực, còn Gây hãi hùng dùng để chỉ một chức danh công tố chính phủ. Cả hai viên chức trên thường hay lợi dụng chức quyền nên bị người dân hết sức phẫn nộ.
[2]Thánh Hubert là đấng bảo trợ cho những người đi săn. Trên tranh vẽ thường thấy Thánh xuất hiện bên cạnh con chó săn hoặc chú nai rừng (ND).