W Soplicowie ruch wielki; lecz ni psów hałasy,
Ani rżące rumaki, skrzypiące kolasy,
Ni odgłos trąb dających hasło polowania
Nie mogły Tadeusza wyciągnąć z posłania;
Ubrany padłszy w łóżko, spał jak bobak w norze.
Nikt z młodzieży nie myślił szukać go po dworze,
Każdy sobą zajęty śpieszył, gdzie kazano;
O towarzyszu sennym całkiem zapomniano.
On chrapał; słońce w otwór, co śród okienicy
Wyrznięty był w kształt serca, wpadło do ciemnicy
Słupem ognistym, prosto sennemu na czoło;
On jeszcze chciał zadrzemać i kręcił się w koło,
Chroniąc się blasku, nagle usłyszał stuknienie,
Przebudził się; wesołe było przebudzenie.
Czuł się rzeźwym jak ptaszek, z lekkością oddychał,
Czuł się szczęśliwym, sam się do siebie uśmiechał:
Myśląc o wszystkim, co mu wczora się zdarzyło,
Rumienił się i wzdychał, i serce mu biło.
Spójrzał w okno, o dziwy! w promieni przezroczu,
W owym sercu, błyszczało dwoje jasnych oczu,
Szeroko otworzonych, jak zwykle wejrzenie,
Kiedy z jasności dziennej przedziera się w cienie;
Ujrzał i małą rączkę, niby wachlarz z boku
Nadstawioną ku słońcu dla ochrony wzroku,
Palce drobne, zwrócone na światło różowe,
Czerwieniły się na wskroś jakby rubinowe;
Usta widział ciekawe, roztulone nieco,
I ząbki, co jak perły śród koralów świecą,
I lica, choć od słońca zasłaniane dłonią
Różową, same całe jak róże się płonią.
Tadeusz spał pod oknem; sam ukryty w cieniu,
Leżąc na wznak, cudnemu dziwił się zjawieniu,
I miał je tuż nad sobą, ledwie nie na twarzy,
Nie wiedział, czy to jawa, czyli mu się marzy
Jedna z tych miłych, jasnych twarzyczek dziecinnych,
Które pomnim widziane we śnie lat niewinnych.
Twarzyczka schyliła się - ujrzał, drżąc z bojaźni
I radości, niestety! ujrzał najwyraźniej,
Przypomniał, poznał włos ów krótki, jasnozłoty,
W drobne, jako śnieg białe, zwity papiloty,
Niby srebrzyste strączki, co od słońca blasku
Świeciły jak korona na świętych obrazku.
Zerwał się; i widzenie zaraz uleciało,
Przestraszone łoskotem; czekał, nie wracało!
Tylko usłyszał znowu trzykrotne stukanie
I słowa: "Niech Pan wstaje, czas na polowanie,
Pan zaspał". Skoczył z łóżka i obu rękami
Pchnął okienicę, że aż trzasła zawiasami
I rozwarłszy się w obie uderzyła ściany;
Wyskoczył, patrzył wkoło, zdumiony, zmieszany,
Nic nie widział, nie dostrzegł niczyjego śladu.
Niedaleko od okna był parkan od sadu,
Na nim chmielowe liście i kwieciste wieńce
Chwiały się; czy je lekkie potrąciły ręce?
Czy wiatr ruszył? Tadeusz długo patrzył na nie,
Nie śmiał iść w ogród; tylko wsparł się na parkanie,
Oczy podniósł i z palcem do ust przyciśnionym
Kazał sam sobie milczeć, by słowem kwapionym
Nie rozerwał myślenia; potem w czoło stukał,
Niby do wspomnień dawnych, uśpionych w nim, pukał,
Na koniec gryząc palce do krwi się zadrasnął
I na cały głos: "Dobrze, dobrze mi tak!" wrzasnął.
We dworze, gdzie przed chwilą tyle było krzyku,
Teraz pusto i głucho jak na mogilniku:
Wszyscy ruszyli w pole; Tadeusz nadstawił
Uszu i ręce do nich jak trąbki przyprawił,
Słuchał, aż mu wiatr przyniósł, wiejący od puszczy,
Odgłosy trąb i wrzaski polującej tłuszczy.
Koń Tadeusza w stajni czekał osiodłany,
Wziął więc flintę, skoczył nań i jak opętany
Pędził ku karczmom, które stały przy kaplicy,
Kędy mieli się rankiem zebrać obławnicy.
Dwie chyliły się karczmy po dwóch stronach drogi,
Oknami wzajem sobie grożąc jako wrogi;
Stara należy z prawa do zamku dziedzica,
Nową na złość zamkowi postawił Soplica.
W tamtej, jak w swym dziedzictwie, rej wodził Gerwazy,
W tej najwyższe za stołem brał miejsce Protazy.
Nowa karczma nie była ciekawa z pozoru.
Stara wedle dawnego zbudowana wzoru,
Który był wymyślony od tyryjskich cieśli,
A potem go Żydowie po świecie roznieśli:
Rodzaj architektury, obcym budowniczym
Wcale nie znany; my go od Żydów dziedziczym.
Karczma z przodu jak korab, z tyłu jak świątynia:
Korab, istna Noego czworogranna skrzynia,
Znany dziś pod prostackim nazwiskiem stodoły;
Tam różne są zwierzęta, konie, krowy, woły,
Kozy brodate; w górze zaś ptastwa gromady
I płazów choć po parze, są też i owady.
Część tylnia, na kształt dziwnej świątyni stawiona,
Przypomina z pozoru ów gmach Salomona,
Który pierwsi ćwiczeni w budowań rzemieśle
Hiramscy na Syjonie wystawili cieśle.
Żydzi go naśladują dotąd we swych szkołach,
A szkoł rysunek widny w karczmach i stodołach.
Dach z dranic i ze słomy, śpiczasty, zadarty,
Pogięty jako kołpak żydowski podarty.
Ze szczytu wytryskają krużganku krawędzie,
Oparte na drewnianym licznych kolumn rzędzie;
Kolumny, co jak wielkie architektów dziwo,
Trwałe, chociaż wpół zgniłe i stawione krzywo
Jako w wieży pizańskiej, nie podług modelów
Greckich, bo są bez podstaw i bez kapitelów.
Nad kolumnami biegą wpółokrągłe łuki,
Także z drzewa, gotyckiej naśladowstwo sztuki.
Z wierzchu ozdoby sztuczne, nie rylcem, nie dłutem,
Ale zręcznie ciesielskim wyrzezane sklutem,
Krzywe jak szabasowych ramiona świeczników;
Na końcu wiszą gałki, coś na kształt guzików,
Które Żydzi modląc się na łbach zawieszają
I które po swojemu "cyces" nazywają.
Słowem, z daleka karczma chwiejąca się, krzywa,
Podobna jest do Żyda, gdy się modląc kiwa:
Dach jak czapka, jak broda strzecha roztrzęśniona.
Ściany dymne i brudne jak czarna opona,
A z przodu rzeźba sterczy jak cyces na czole.
Chàng Tadeush (tiếp theo – 36)
Trang trại Soplitsa sớm nay náo động vô cùng
Trong tiếng lũ chó ồn ào nhắng nhít
Có tiếng ngựa hí, tiếng bánh xe cót két
Tiếng kèn phát lệnh cuộc săn vọng lại vang lừng
Nhưng không lôi được Tadeush ra khỏi giấc nồng
Chàng để nguyên áo quần đặt mình nằm xuống
Ngủ say như chú hải ly yên vị giữa hang sâu ấm cúng
Không ai trong đám săn nghĩ đến việc kiếm tìm chàng
Ai nấy đều bận việc được phân công
Thế là anh bạn ngủ say bị hoàn toàn quên lãng!
Chàng ta vẫn ngáy khi trời tỏ rạng
Mặt trời chiếu qua lỗ hổng cửa sổ bên ngoài
Khe hở hình trái tim không rõ tác phẩm của ai
Nắng xuyên qua như cột sáng vàng lóng lánh
Rọi thẳng tới trán chàng trai chưa thức tỉnh
Chàng thanh niên còn như muốn ngủ thêm
Để tránh nắng chàng lật người sang bên
Đến khi nghe gõ cửa bên ngoài mới buồn tỉnh giấc
Sảng khoái mỉm cười tràn đầy hạnh phúc
Nghĩ lại những điều hôm qua xảy đến với mình
Liền đỏ mặt, tim đập bồi hồi và hít thở thật nhanh.
Nhìn qua cửa sổ, ôi sao kỳ lạ
Trong chùm nắng ở chỗ hổng hình trái tim nhỏ đó
Có cặp mắt sáng long lanh mở hết cỡ ngó vào
Và khi chàng ngó xuống, không nhìn ở trên cao
Lại bắt gặp bàn tay có chiếc quạt dùng che nắng
Những ngón tay nhỏ, nắng lọc qua, ánh lên hồng thắm
Đỏ tựa những viên hồng ngọc diệu kỳ
Cặp môi duyên dáng chúm chím nhu mì
Hàm răng như những hạt ngọc trai sáng trắng
Và khuôn mặt, dù che bàn tay để không chói nắng
Vẫn rực hồng lên, tươi như một đoá hồng.
Tadeush nằm ngay dưới cửa sổ căn phòng
Nghiêng người nhìn ra từ một vùng mờ ảo
Và ngạc nhiên trước cảnh tượng kỳ diệu
Hiển hiện trước mặt ngay phía trên mình
Chàng ngỡ đó chỉ do ý thức, thấy trong lúc mơ màng
Một khuôn mặt đáng yêu bất ngờ hiện lại
Khuôn mặt sáng long lanh của người bạn gái
Hẳn đã in vào trí nhớ từ thuở ấu thơ
Nay đột ngột trở về trong lúc ngủ mơ!
Nhưng không! Khuôn mặt thật vẫn đang nghiêng xuống
Chàng nhìn kỹ và run bắn lên vì băn khoăn sung sướng
Nhưng lúc đó bỗng dưng cảm thấy thật buồn
Trước nhận thức rõ ràng làm chàng tỉnh ngủ luôn
Chàng nhớ lại, mái tóc ngắn màu vàng nhạt
Cuốn thành chùm nhỏ trắng như bông tuyết
Những chiếc kén màu bạc sáng long lanh
Trông như vương miện các vị Thánh trong tranh.
Chàng sững người, ngồi dậy ngay tức khắc
Và hình ảnh kia cũng bỗng nhiên biến mất
Hẳn nó sợ tiếng động bất chợt phát ra
Và không hề quay lại, mặc cho chàng đợi chờ
Chỉ nghe phảng phất ba tiếng gõ cửa và câu nói:
-“Ngài dậy đi thôi, đến giờ săn rồi đấy
Tất cả đã lên đường, chỉ riêng Ngài ngủ quên”
Chàng vội nhảy khỏi giường, đẩy ngay cửa sang bên
Mạnh đến mức cánh va vào tường rung lên bần bật
Chàng chạy ra ngó quanh và ngạc nhiên hết sức
Vì không tìm ra dấu vết bất kỳ ai
Gần cửa sổ có hàng rào dẫn ra vườn cây
Mấy nhành lá, chùm hoa vẻ như đang lay động
Bàn tay nào chạm vào hay gió đang đùa giỡn?
Tadeush rõi nhìn rất lâu nhưng không bước vào vườn
Chỉ đứng tựa hàng rào, đôi mắt mở trừng trừng
Tay đè lên miệng như ra lệnh mình im lặng
Bởi vội vã cất lời dễ làm dòng suy tư đứt quãng
Mãi sau, chàng mới gõ nhẹ trán mình
Như để ôn lại trong đầu những chuyện đã ngủ quên
Cứ gõ trán đến cuối cùng cắn ngón tay bật máu
-“Thật đáng đời mi, ôi anh chàng hậu đậu!”
Chàng hét với mình và giận sôi người lên.
Trong điền trang trở lại vắng vẻ bình yên
Mọi người đã ra đồng tất cả
Tadeush đưa tay lên tai như gắn thêm chiếc loa vào đó
Lắng nghe đến khi từ đồng cỏ theo gió vọng về
Tiếng ồn ào của đám người săn cùng tiếng kèn sừng dê.
Ngựa chàng đã lắp sẵn yên cương chờ đợi
Xách khẩu súng, Tadeush vội vàng như ma đuổi
Phóng như bay qua quán ăn phía trước nhà thờ
Nơi đám thợ săn tập trung từ sớm tinh mơ.
Hai quán ăn ở hai bên đường nghiêng ngả
Cửa sổ nhìn sang nhau gờm gờm như đe doạ
Quán cũ thuộc quyền người thừa kế lâu đài
Quán mới do Soplitsa dựng lên như để trêu ngươi
Ở quán kia Gervazy cai quản theo di chúc
Còn quán này Protazy chỉ huy trực tiếp
Quán mới trông bề ngoài có kiến trúc nửa mùa
Còn quán cũ được dựng theo kiểu cách ngày xưa
Kiểu cách do thợ mộc vùng Tyry khởi xướng
Và sau đó dân Do Thái khắp nơi hưởng ứng
Lối kiến trúc ấy học của thợ xây nước ngoài
Rồi được người Do Thái truyền đến ngày nay.
Mặt tiền của quán như chiếc thuyền buồm cổ
Còn phía sau lại giống ngôi đền thờ nhỏ
Thuyền đúng ra là kiểu hòm của tộc trưởng Nô-ê
Nay lại có tên thông dụng là nhà chứa cỏ khô
Ở đó có đủ loại súc vật dê, bò, lừa, ngựa
Phía trên nuôi chim, loài bò sát và cả ong mật nữa
Mặt sau quán xây theo kiểu đền Salomon
Mà những người thợ Hiram khi tập xây đã dựng ở Sion
Người Do Thái học theo lại dựng nó trong trường học
Các bức vẽ trường này còn treo đầy hang hóc
Mái lợp gỗ với rơm như hộp diêm hếch cao
Lại cong như chiếc mũ rách người Do Thái đội đầu
Trên đỉnh nhô ra hành lang có mái che chạy dọc
Dựa vào một hàng bao gồm nhiều cây cột
Gỗ lớn đến độ làm các nhà kiến trúc ngạc nhiên
Chúng bền chắc dù mục đến nửa phần và được chôn nghiêng
Giống như tháp Pisa chứ không theo mô hình Hy Lạp
Bởi không có đế, còn đầu phía kia vượt cao hơn nóc
Trên đỉnh cây cột là những cánh cung tròn chĩa ra đường
Cũng làm bằng gỗ theo nghệ thuật Gô-tích đàng hoàng
Bên trên mái là các vật trang trí thủ công kỳ lạ
Không khắc chạm mà do thợ khéo tay khoét lỗ
Nó cong queo như chân đèn cắm nến nhà thờ
Thắp vào lễ cuối tuần của người Do Thái từ xưa
Trên nóc quán treo những quả tròn hình khuy áo lớn
Mà người Do Thái thường đeo trên đầu khi khấn
Và gọi bằng tiếng của họ là cyces thật hay
Nhìn từ xa, quán như đang run rẩy lung lay
Giống một gã Do Thái cúi đầu hành lễ
Mái là chiếc mũ hoặc cái cằm râu bờm xờm chổi sể
Tường đầy khói và bẩn như chiếc lốp xe đen
Còn trước trán là hình khắc cái cyces nổi lên.
Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)