Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 37)
W środku karczmy jest podział jak w żydowskiej szkole:
Jedna część, pełna izbic ciasnych i podłużnych,
Służy dla dam wyłącznie i panów podróżnych;
W drugiej ogromna sala. Koło każdej ściany
Ciągnie się wielonożny stół wąski, drewniany.
Przy nim stołki, choć niższe, podobne do stoła
Jako dzieci do ojca.
Na stołkach dokoła
Siedziały chłopy, chłopki, tudzież szlachta drobna,
Wszyscy rzędem; Ekonom sam siedział z osobna.
Po rannej mszy z kaplicy, że była niedziela,
Zabawić się i wypić przyszli do Jankiela.
Przed każdym już szumiała siwą wódką czarka,
Ponad wszystkimi z butlą biegała szynkarka.
W środku arendarz Jankiel, w długim aż do ziemi
Szarafanie, zapiętym haftkami srebrnemi,
Rękę jedną za czarny pas jedwabny wsadził,
Drugą poważnie sobie siwą brodę gładził;
Rzucając wkoło okiem, rozkazy wydawał,
Witał wchodzących gości, przy siedzących stawał
Zagajając rozmowę, kłótliwych zagadzał,
Lecz nie służył nikomu, tylko się przechadzał.
Żyd stary i powszechnie znany z poczciwości,
Od lat wielu dzierżawił karczmę, a nikt z włości,
Nikt ze szlachty nie zaniósł nań skargi do dworu:
O cóż skarżyć? miał trunki dobre do wyboru,
Rachował się ostrożnie, lecz bez oszukaństwa,
Ochoty nie zabraniał, nie cierpiał pijaństwa,
Zabaw wielki miłośnik; u niego wesele
I chrzciny obchodzono; on w każdą niedzielę
Kazał do siebie ze wsi przychodzić muzyce,
Przy której i basetla była, i kozice.
Muzykę znał, sam słynął muzycznym talentem;
Z cymbałami, narodu swego instrumentem,
Chadzał niegdyś po dworach i graniem zdumiewał
I pieśniami, bo biegle i uczenie śpiewał.
Chociaż Żyd, dosyć czystą miał polską wymowę,
Szczególniej zaś polubił pieśni narodowe;
Przywoził mnóstwo z każdej za Niemen wyprawy
Kołomyjek z Halicza, mazurów z Warszawy;
Wieść, nie wiem czyli pewna, w całej okolicy
Głosiła, że on pierwszy przywiózł z zagranicy
I upowszechnił wówczas w tamecznym powiecie
Ową piosenkę, sławną dziś na całym świecie,
A którą po raz pierwszy na ziemi Auzonów
Wygrały Włochom polskie trąby legijonów.
Talent śpiewania bardzo na Litwie popłaca,
Jedna miłość u ludzi, wsławia i wzbogaca:
Jankiel zrobił majątek; syt zysków i chwały,
Zawiesił dźwięcznostrunne na ścianie cymbały;
Osiadłszy z dziećmi w karczmie, zatrudniał się szynkiem,
Przy tym w pobliskim mieście był też podrabinkiem,
A zawsze miłym wszędzie gościem i domowym
Doradcą; znał się dobrze na handlu zbożowym,
Na wicinnym: potrzebna jest znajomość taka
Na wsi. - Miał także sławę dobrego Polaka.
On pierwszy zgodził kłótnie, często nawet krwawe,
Między dwiema karczmami: obie wziął w dzierżawę;
Szanowali go równie i starzy stronnicy
Horeszkowscy, i słudzy sędziego Soplicy.
On sam powagę umiał utrzymać nad groźnym
Klucznikiem Horeszkowskim i kłótliwym Woźnym;
Przed Jankielem tłumili dawne swe urazy,
Gerwazy groźny ręką, językiem Protazy.
Gerwazego nie było; ruszył na obławę,
Nie chcąc, aby tak ważną i trudną wyprawę
Odbył sam Hrabia, młody i niedoświadczony;
Poszedł więc z nim dla rady tudzież dla obrony.
Dziś miejsce Gerwazego, najdalsze od progu,
Między dwiema ławami, w samym karczmy rogu,
Zwane pokuciem, kwestarz ksiądz Robak zajmował;
Jankiel go tam posadził; widać, że szanował
Wysoko Bernardyna, bo skoro dostrzegał
Ubytek w jego szklance, natychmiast podbiegał
I rozkazał dolewać lipcowego miodu.
Słychać, że z Bernardynem znali się za młodu
Kędyś tam w cudzych krajach. Robak często chadzał
Nocą do karczmy, tajnie z Żydem się naradzał
O ważnych rzeczach; słychać było, że towary
Ksiądz przemycał, lecz potwarz ta niegodna wiary.
Robak wsparty na stole wpółgłośno rozprawiał,
Tłum szlachty go otaczał i uszy nadstawiał,
I nosy ku księdzowskiej chylił tabakierze;
Brano z niej, i kichała szlachta jak możdzerze.
"Reverendissime, rzekł kichnąwszy Skołuba,
To mi tabaka, co to idzie aż do czuba;
Od czasu jak nos dźwigam (tu głasnął nos długi),
Takiej nie zażywałem (tu kichnął raz drugi);
Prawdziwa bernardynka, pewnie z Kowna rodem,
Miasta sławnego w świecie tabaką i miodem.
Byłem tam lat już..." Robak przerwał mu: "Na zdrowie
Wszystkim Waszmościom, moi Mościwi Panowie!
Co się tabaki tycze, hem, ona pochodzi
Z dalszej strony, niż myśli Skołuba Dobrodziej;
Pochodzi z Jasnej Góry; księża paulinowie
Tabakę taką robią w mieście Częstochowie,
Kędy jest obraz tylu cudami wsławiony
Bogarodzicy Panny, Królowej Korony
Polskiej; zowią ją dotąd i Księżną Litewską!
Koronęć jeszcze dotąd piastuje królewską,
Lecz na Litewskim Księstwie teraz syzma siedzi! "
"Z Częstochowy? rzekł Wilbik, byłem tam w spowiedzi,
Kiedym na odpust chodził lat temu trzydzieście;
Czy to prawda, że Francuz gości teraz w mieście,
Że chce kościół rozwalać i skarbiec zabierze,
Bo to wszystko w Litewskim stoi Kuryjerze?"
"Nieprawda, rzekł Bernardyn, nie, Pan Najjaśniejszy
Napoleon katolik jest najprzykładniejszy;
Wszak go papież namaścił, żyją z sobą w zgodzie
I nawracają ludzi w francuskim narodzie,
Który się trochę popsuł; prawda, z Częstochowy
Oddano wiele srebra na skarb narodowy
Dla Ojczyzny, dla Polski; sam Pan Bóg tak każe,
Skarbcem Ojczyzny zawsze są Jego ołtarze;
Wszakże w Warszawskim Księstwie mamy sto tysięcy
Wojska polskiego, może wkrótce będzie więcéj,
A któż wojsko opłaci? czy nie wy, Litwini?
Wy tylko grosz dajecie do moskiewskiej skrzyni".
"Kat by dał, krzyknął Wilbik, gwałtem od nas biorą".
"Oj, Dobrodzieju!" chłopek ozwał się z pokorą,
Pokłoniwszy się księdzu i skrobiąc się w głowę,
"Już to szlachcie, to jeszcze bieda przez połowę,
Lecz nas drą jak na łyka". - "Cham, Skołuba krzyknął,
Głupi, tobieć to lepiej, tyś, chłopie, przywyknął
Jak węgorz do odarcia; lecz nam urodzonym,
Nam wielmożnym, do złotych swobód wzwyczajonym!
Ach, bracia, wszak to dawniej szlachcic na zagrodzie...
("Tak, tak, krzyknęli wszyscy: rowny wojewodzie!")
Dziś nam szlachectwa przeczą, każą nam drabować
Papiery i szlachectwa papierem probować".
"Jeszcze Waszeci mniejsza, zawołał Juraha,
Waszeć z pradziadów chłopów uszlachcony szlacha,
Ale ja, z kniaziów! pytać u mnie o patenta,
Kiedym został szlachcicem? sam Bóg to pamięta!
Niechaj Moskal w las idzie pytać się dębiny,
Kto jej dał patent rosnąć nad wszystkie krzewiny".
"Kniaziu, rzekł Żagiel, świeć Waść baki lada komu,
Tu znajdziesz pono mitry i w niejednym domu".
"Waść ma krzyż w herbie, wołał Podhajski, to skryta
Aluzyja, że w rodzie bywał neofita".
"Fałsz! przerwał Birbasz, przecież ja z tatarskich hrabiów
Pochodzę, a mam krzyże nad herbem Korabiów".
"Poraj, krzyknął Mickiewicz, z mitrą w polu złotym,
Herb książęcy, Stryjkowski gęsto pisze o tym".

Chàng Tadeush (tiếp theo – 37)
Quán ăn được chia giống như ở trường Do Thái
Một phần gồm toàn bộ các phòng nhỏ và chật chội
Dành riêng cho phái nữ và khách qua đường
Phần thứ hai là phòng lớn khá đàng hoàng
Cạnh tường có bàn gỗ nhiều chân nhưng hẹp
Đứng sát là bàn nhỏ, thấp hơn và giống hệt
Chẳng khác gì bàn cha với bàn con
Ngồi quanh bàn là những người đàn ông trong thôn
Viên quản lý chiếm riêng một chỗ
Sau lễ cầu nguyện ban sáng ở nhà thờ nhỏ
Nghỉ chủ nhật, nên họ đến đây ăn uống tiệc tùng
Và gặp nhau tại quán Yankiel nổi tiếng trong vùng
Cạnh mỗi người đều có một chai vodka màu bạc
Cô hầu bàn cầm thêm chai to chạy khắp nơi mời mọc
Ở giữa là ông già Yankiel - người thuê lại quán ăn
Mặc áo dài chấm đất với hàng khuy bạc long lanh
Một tay đút vào dải băng đen may bằng lụa quý
Tay kia từ tốn vuốt ve hàm râu trắng xoá
Mắt để ý mọi việc xung quanh và sai bảo nhân viên
Đon đả chào mời khách mới, nhẹ nhàng đến cạnh các bàn ăn
Khơi mào câu chuyện và làm dịu đi những ai tranh cãi
Nhưng không phải phục vụ gì, chỉ đi qua đi lại!
Ông già Do Thái này nổi tiếng do tính thật thà
Đã thuê quán ăn kinh doanh từ lâu lắm đến giờ
Song không ai trong số dân quê và quý tộc
Phàn nàn gì về ông già với giớí chủ trang ấp
Mà thực có gì phải phàn nàn ở đây
Lão có rượu ngon tha hồ lựa chọn hàng ngày
Tính tiền kỹ lưỡng nhưng không ăn gian của khách
Không cấm ai uống khi hứng nhưng ghét tật say xỉn và phá phách
Cũng là người hâm mộ các cuộc vui thâu đêm
Đám cưới và lễ đặt tên hay tổ chức thường xuyên
Lão nhắn các nhạc công trong làng và những vùng lân cận
Đến quán vào chủ nhật hàng tuần để phục vụ khách khi cần đến
Trong đội nhạc có cả kèn sừng dê và kèn đồng.
Lão biết nhạc, từng nổi tiếng là một nhạc công
Với cây đàn ximbao, nhạc cụ dân Do Thái
Ngày xưa thường lang thang khắp bao trang trại
Và gây ngạc nhiên bằng tài đàn hát của mình
Lão hát đã hay, có học thức lại thông minh
Tuy là người Do Thái nhưng tiếng Ba Lan khá chuẩn
Đặc biệt yêu thích dân ca và chơi đàn điêu luyện
Mỗi lần từ bên kia sông Niemen về nhà
Lão mang theo về nhiều làn điệu dân ca
Bản Ma-duốc-ca Vácsava [1], bài hát ru vùng Halích
Tin đồn lan toàn vùng, không biết có là thất thiệt
Rằng lão là người đầu tiên mang từ ngoại quốc về
Rồi phổ biến rộng trong các làng quê
Bài hát nổi tiếng ngày nay trên thế giới
Bài hát đầu tiên trên xứ sở người Auzon thời ấy
Đội kèn lê dương đã chơi hay hơn bọn Ý tài ba
Tài ca hát cũng mang lại lợi ích ở Litva
Một là được mọi người yêu mến
Hai là giàu sang và ba là nổi tiếng
Yankiel đã kiếm được một gia tài khá tươm
Đầy đủ cả tiền bạc lẫn tiếng tăm
Bây giờ treo cây ximbao lên tường không chơi nữa
Quyết cùng con cháu mở quán để chiều lòng khách khứa
Lão thuê người hầu mở rộng việc làm này
Thị trấn kề bên liền có ngay một quán giống đây
Lão tới đâu cũng được mọi người trong vùng yêu kính
Còn đóng thêm vai trò một cố vấn gia đình nổi tiếng
Lão sành buôn bán lúa mỳ trên các tầu Viciny
Nhiều lúc cần một kiến thức như thế ở làng quê
Lão cũng nổi tiếng là một người Ba Lan tốt
Là người đầu tiên dàn xếp êm các cuộc xung đột
Dễ dẫn đến đổ máu giữa hai quán ăn
Bằng cách thuê luôn cả hai để quản lý kinh doanh
Đối với lão, dù người phe Horesko ương ngạnh
Hay bọn hầu cận Thẩm phán Soplitsa cũng đều kính trọng
Chỉ lão biết duy trì uy thế lâu nay
Với cả tay Chìa khoá dữ tợn của lâu đài
Lẫn viên Thừa phát lại lắm điều nhà Thẩm phán
Đứng trước Yankiel cả hai biết cùng tự ghìm nén
Những điều thường gây xúc phạm xưa nay
Gervazy dữ tợn kiềm chế bàn tay
Còn Protazy đắn đo trong ngôn ngữ.
Hôm nay Gervazy không ở đây như mọi bữa
Ông ta đang đến chỗ săn bắn trong rừng
Chắc không muốn Bá tước phải đương đầu một mình
Với chuyến đi hệ trọng và khó khăn như vậy
Bởi Ngài còn trẻ lại chưa từng trải
Lão phải đi cùng để khuyên răn và bảo vệ Ngài
Chỗ của Gervazy trong quán thường ngày
Cạnh chỗ để bàn thờ, nơi xa cửa nhất
Giữa hai hàng ghế dài trong góc khuất
Hôm nay dành cho thầy lạc quyên Robak đến ngồi [2]
Chính Yakiel đã mời Cha vào vị trí này
Rõ ràng lão kính trọng thầy tu dòng Bécna nọ
Khi vừa thấy cốc của thầy vơi đi một nửa
Lão liền chạy đến bên, hạ lệnh rót thêm vào
Những giọt mật ong tháng Bảy lóng lánh như sao
Thiên hạ kháo nhau lão biết thầy tu từ thời trai trẻ
Thủa cùng phiêu bạt ở chân trời góc bể...
Robak thường đến quán vào ban đêm
Bàn luận bí mật với lão Do Thái những việc liên quan
Cũng nghe nói Cha còn đưa đồ cấm qua biên giới
Tuy không đáng tin vì chỉ là lời đồn thổi.
Robak tỳ vào bàn thầm thì lúc nhỏ lúc to
Đám quý tộc bao quanh vểnh tai lắng nghe
Mũi cúi sát hộp thuốc lá của thầy tu ngồi đó
Nhúm lên hít và thi nhau hắt hơi như súng nổ
-“Rất đáng kính, ông Skoluba nói sau vài lần hắt hơi
Ôi, thuốc lá chạy đến tận chân tóc của tôi
Kể từ khi phải mang theo cái mũi chết tiệt
(Ông vuốt nhẹ sống mũi dài ngoằng mấy lần liên tiếp)
Tôi chưa hề được hít loại thuốc như thế bao giờ
(Đến đây ông hắt hơi lần nữa thật to)
Đúng là thuốc của thầy tu dòng Bécna có khác
Chắc của vùng Kovno, thành phố nổi danh trên trái đất
Vì thuốc lá với mật ong. Tôi từng đến đó từ năm…”
-“Chúc sức khoẻ! Robak ngắt lời ông
Chúc tất cả các ông chủ của tôi sức khoẻ
Còn loại thuốc lá này có nguồn gốc còn xa hơn thế
Xa hơn nơi ngài Skoluba tốt bụng nêu ra
Nó đến từ mãi tận thành Yasna Gora
Các hoàng thân Paulinov tinh luyện ra thuốc đó
Ở Tchenstokhova, nơi có bức hình diệu kỳ chúng ta đều nhớ
Bức hình Nữ thánh đồng trinh với vương miện mẫu hậu Ba Lan
Người đến nay vẫn được gọi là Nữ hoàng rất đỗi mến thương
Và cho đến nay vương miện vẫn lấp lánh trên đầu mẫu hậu
Song ở Litva giờ đây đang trị vì cái gọi là chính giáo”
-“Thuốc lá vùng Tchenstokhova đấy ư?
Vilbik nói, tôi đã đến đó xưng tội ngày xưa
Nhân chuyến đi thăm người bà con thân thuộc
Cũng phải đến ba mươi năm về trước
Có phải người Pháp giờ đang ở thành phố đó chăng?
Và chúng định phá cả nhà thờ và lấy của cải đi không?
Tất cả chuyện đó tờ Tin tức Litva đều đăng tải”
-“Không phải, Cha Bécna nói, đó là tin đồn bậy
Napoléon cũng theo đạo Thiên chúa chính hiệu cơ mà
Mặc dù Giáo hoàng từng nói xấu ông ta
Song họ vẫn sống cùng nhau thuận hoà như trước
Và đang làm biến đổi người dân nước Pháp
Một dân tộc hơi bị hư đi trong con mắt Giáo hoàng
Đúng là từ Tchenstokhova người ta đã dâng hiến bạc vàng
Vào ngân khố quốc gia cho Ba Lan, cho Tổ quốc
Chính Chúa đã ban lệnh ấy cho người trong nước
Khi phán rằng đất thiêng thờ Người mới là tài sản quốc gia
Hiện chúng ta có trong Công quốc Vacsava
Một trăm ngàn binh sĩ và sắp tới còn đông hơn thế
Ai là người nuôi quân đội Ba Lan cho ta nhỉ
Có phải các người không, hỡi dân Litva yêu quý của tôi?
Các bạn chỉ nên dành lại một xu cống nộp cho bọn Moskva mà thôi”
-“Bọn đao phủ, ai dại gì cống nộp vào ngân quỹ cho chúng
Họ cưỡng bức chúng tôi” Vilbik cao giọng
-“Thưa ngài tốt bụng” Một nông dân kêu lên nhún nhường
Sau khi cúi chào thầy tu và vò đầu một cách đáng thương
-“Với quý tộc, đó chỉ mới là một nửa bất hạnh
Với chúng tôi họ xé xác rồi nuốt chửng hoặc đè ra đánh”
-“Đồ thô bỉ! Skoluba kêu to, vênh mặt nhơn nhơn
Vốn ngu muội, hẳn với các ngươi như vậy tốt hơn
Ngươi, gã nông dân kia, ngươi đã quen chịu tước đoạt
Như giống lươn quen lấm đầu trong bùn đất!
Khác với chúng ta, những người sinh ra là bậc cao sang
Quen với tự do, vốn quý như vàng
Ôi, những người anh em thân mến
Có phải ngày xưa quý tộc là vua ở vùng mình cai quản
(Đúng, đúng, tất cả cùng đồng thanh kêu lên
Quý tộc ngang với quan tổng đốc uy quyền)
Ngày nay người ta khước từ quý tộc và không công nhận
Họ ra lệnh chúng ta phải chứng minh bằng văn bản
Quý tộc hay không chỉ cần dựa vào mỗi mảnh giấy mà thôi!”
-“Chuyện của Ngài còn chưa là gì cả, Ngài ơi
Yuraha lên tiếng
Đời cụ Ngài là nông dân mới được nâng lên thành quý tộc
Còn tôi, tôi xuất thân là hoàng thân chính gốc
Hỏi tôi về giấy bản quyền thân hào
Hỏi tôi được phong là quý tộc khi nào
Thì chỉ có Chúa mới còn nhớ được!
Hãy để tên Moskva vào rừng hỏi cây sồi cao nhất
Rằng ai cho quyền lớn vượt cây cối khác trong rừng!”
-“Hoàng thân ơi, Zagiel nói thẳng thừng
Ngài hãy nhìn lên đầu mọi người xem thử
Ngài sẽ tìm thấy nhiều không thể kể
Và chắc không chỉ ở một gia đình
Những chiếc mũ hoàng thân giống hệt như mình!”
-“Ông có cây thánh giá trên gia huy đấy!”
Podhaiski lập tức đứng lên móc máy
Ám chỉ rằng trong dòng họ ông ta
Có kẻ tân tòng, tức là mới nhập đạo Gia Tô
-“Vu khống! Birbaz cắt ngang tức khắc
Ở Tatara tôi xuất thân là bá tước
Tôi theo đạo Thiên chúa từ đời ông cha
Có thánh giá đặt trước huy hiệu thuyền buồm trong nhà”
-“Hãy gắng sức lên để kéo, khéo mà gãy cổ
Mickiêvich châm biếm xiên xỏ
Chiếc mũ hoàng thân trên cánh đồng vàng
Đó là gia huy hoàng tộc oai phong
Stryikovski đã viết rất nhiều về điều ấy!”
Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)