Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 37)

13/02/2011 24 phút đọc BBT
Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 37)    W środku karczmy jest podział jak w żydowskiej szkole: Jedna część, pełna izbic ciasnych i podłużnych,
Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 37)

Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 37)
 
 W środku karczmy jest podział jak w żydowskiej szkole:
Jedna część, pełna izbic ciasnych i podłużnych,
Służy dla dam wyłącznie i panów podróżnych;
W drugiej ogromna sala. Koło każdej ściany
Ciągnie się wielonożny stół wąski, drewniany.
Przy nim stołki, choć niższe, podobne do stoła
Jako dzieci do ojca.

Na stołkach dokoła

Siedziały chłopy, chłopki, tudzież szlachta drobna,
Wszyscy rzędem; Ekonom sam siedział z osobna.
Po rannej mszy z kaplicy, że była niedziela,
Zabawić się i wypić przyszli do Jankiela.
Przed każdym już szumiała siwą wódką czarka,
Ponad wszystkimi z butlą biegała szynkarka.
W środku arendarz Jankiel, w długim aż do ziemi
Szarafanie, zapiętym haftkami srebrnemi,
Rękę jedną za czarny pas jedwabny wsadził,
Drugą poważnie sobie siwą brodę gładził;
Rzucając wkoło okiem, rozkazy wydawał,
Witał wchodzących gości, przy siedzących stawał
Zagajając rozmowę, kłótliwych zagadzał,
Lecz nie służył nikomu, tylko się przechadzał.
Żyd stary i powszechnie znany z poczciwości,
Od lat wielu dzierżawił karczmę, a nikt z włości,
Nikt ze szlachty nie zaniósł nań skargi do dworu:
O cóż skarżyć? miał trunki dobre do wyboru,
Rachował się ostrożnie, lecz bez oszukaństwa,
Ochoty nie zabraniał, nie cierpiał pijaństwa,
Zabaw wielki miłośnik; u niego wesele
I chrzciny obchodzono; on w każdą niedzielę
Kazał do siebie ze wsi przychodzić muzyce,
Przy której i basetla była, i kozice.

Muzykę znał, sam słynął muzycznym talentem;
Z cymbałami, narodu swego instrumentem,
Chadzał niegdyś po dworach i graniem zdumiewał
I pieśniami, bo biegle i uczenie śpiewał.
Chociaż Żyd, dosyć czystą miał polską wymowę,
Szczególniej zaś polubił pieśni narodowe;
Przywoził mnóstwo z każdej za Niemen wyprawy
Kołomyjek z Halicza, mazurów z Warszawy;
Wieść, nie wiem czyli pewna, w całej okolicy
Głosiła, że on pierwszy przywiózł z zagranicy
I upowszechnił wówczas w tamecznym powiecie
Ową piosenkę, sławną dziś na całym świecie,
A którą po raz pierwszy na ziemi Auzonów
Wygrały Włochom polskie trąby legijonów.
Talent śpiewania bardzo na Litwie popłaca,
Jedna miłość u ludzi, wsławia i wzbogaca:
Jankiel zrobił majątek; syt zysków i chwały,
Zawiesił dźwięcznostrunne na ścianie cymbały;
Osiadłszy z dziećmi w karczmie, zatrudniał się szynkiem,
Przy tym w pobliskim mieście był też podrabinkiem,
A zawsze miłym wszędzie gościem i domowym
Doradcą; znał się dobrze na handlu zbożowym,
Na wicinnym: potrzebna jest znajomość taka
Na wsi. - Miał także sławę dobrego Polaka.

On pierwszy zgodził kłótnie, często nawet krwawe,
Między dwiema karczmami: obie wziął w dzierżawę;
Szanowali go równie i starzy stronnicy
Horeszkowscy, i słudzy sędziego Soplicy.
On sam powagę umiał utrzymać nad groźnym
Klucznikiem Horeszkowskim i kłótliwym Woźnym;
Przed Jankielem tłumili dawne swe urazy,
Gerwazy groźny ręką, językiem Protazy.

Gerwazego nie było; ruszył na obławę,
Nie chcąc, aby tak ważną i trudną wyprawę
Odbył sam Hrabia, młody i niedoświadczony;
Poszedł więc z nim dla rady tudzież dla obrony.

Dziś miejsce Gerwazego, najdalsze od progu,
Między dwiema ławami, w samym karczmy rogu,
Zwane pokuciem, kwestarz ksiądz Robak zajmował;
Jankiel go tam posadził; widać, że szanował
Wysoko Bernardyna, bo skoro dostrzegał
Ubytek w jego szklance, natychmiast podbiegał
I rozkazał dolewać lipcowego miodu.
Słychać, że z Bernardynem znali się za młodu
Kędyś tam w cudzych krajach. Robak często chadzał
Nocą do karczmy, tajnie z Żydem się naradzał
O ważnych rzeczach; słychać było, że towary
Ksiądz przemycał, lecz potwarz ta niegodna wiary.

Robak wsparty na stole wpółgłośno rozprawiał,
Tłum szlachty go otaczał i uszy nadstawiał,
I nosy ku księdzowskiej chylił tabakierze;
Brano z niej, i kichała szlachta jak możdzerze.
"Reverendissime, rzekł kichnąwszy Skołuba,
To mi tabaka, co to idzie aż do czuba;
Od czasu jak nos dźwigam (tu głasnął nos długi),
Takiej nie zażywałem (tu kichnął raz drugi);
Prawdziwa bernardynka, pewnie z Kowna rodem,
Miasta sławnego w świecie tabaką i miodem.
Byłem tam lat już..." Robak przerwał mu: "Na zdrowie
Wszystkim Waszmościom, moi Mościwi Panowie!
Co się tabaki tycze, hem, ona pochodzi
Z dalszej strony, niż myśli Skołuba Dobrodziej;
Pochodzi z Jasnej Góry; księża paulinowie
Tabakę taką robią w mieście Częstochowie,
Kędy jest obraz tylu cudami wsławiony
Bogarodzicy Panny, Królowej Korony
Polskiej; zowią ją dotąd i Księżną Litewską!
Koronęć jeszcze dotąd piastuje królewską,
Lecz na Litewskim Księstwie teraz syzma siedzi! "
"Z Częstochowy? rzekł Wilbik, byłem tam w spowiedzi,
Kiedym na odpust chodził lat temu trzydzieście;
Czy to prawda, że Francuz gości teraz w mieście,
Że chce kościół rozwalać i skarbiec zabierze,
Bo to wszystko w Litewskim stoi Kuryjerze?"
"Nieprawda, rzekł Bernardyn, nie, Pan Najjaśniejszy
Napoleon katolik jest najprzykładniejszy;
Wszak go papież namaścił, żyją z sobą w zgodzie
I nawracają ludzi w francuskim narodzie,
Który się trochę popsuł; prawda, z Częstochowy
Oddano wiele srebra na skarb narodowy
Dla Ojczyzny, dla Polski; sam Pan Bóg tak każe,
Skarbcem Ojczyzny zawsze są Jego ołtarze;
Wszakże w Warszawskim Księstwie mamy sto tysięcy
Wojska polskiego, może wkrótce będzie więcéj,
A któż wojsko opłaci? czy nie wy, Litwini?
Wy tylko grosz dajecie do moskiewskiej skrzyni".
"Kat by dał, krzyknął Wilbik, gwałtem od nas biorą".
"Oj, Dobrodzieju!" chłopek ozwał się z pokorą,
Pokłoniwszy się księdzu i skrobiąc się w głowę,
"Już to szlachcie, to jeszcze bieda przez połowę,
Lecz nas drą jak na łyka". - "Cham, Skołuba krzyknął,
Głupi, tobieć to lepiej, tyś, chłopie, przywyknął
Jak węgorz do odarcia; lecz nam urodzonym,
Nam wielmożnym, do złotych swobód wzwyczajonym!
Ach, bracia, wszak to dawniej szlachcic na zagrodzie...
("Tak, tak, krzyknęli wszyscy: rowny wojewodzie!")
Dziś nam szlachectwa przeczą, każą nam drabować
Papiery i szlachectwa papierem probować".
"Jeszcze Waszeci mniejsza, zawołał Juraha,
Waszeć z pradziadów chłopów uszlachcony szlacha,
Ale ja, z kniaziów! pytać u mnie o patenta,
Kiedym został szlachcicem? sam Bóg to pamięta!
Niechaj Moskal w las idzie pytać się dębiny,
Kto jej dał patent rosnąć nad wszystkie krzewiny".
"Kniaziu, rzekł Żagiel, świeć Waść baki lada komu,
Tu znajdziesz pono mitry i w niejednym domu".
"Waść ma krzyż w herbie, wołał Podhajski, to skryta
Aluzyja, że w rodzie bywał neofita".
"Fałsz! przerwał Birbasz, przecież ja z tatarskich hrabiów
Pochodzę, a mam krzyże nad herbem Korabiów".
"Poraj, krzyknął Mickiewicz, z mitrą w polu złotym,
Herb książęcy, Stryjkowski gęsto pisze o tym".

 

 

 

Chàng Tadeush (tiếp theo – 37)

 

Quán ăn được chia giống như ở trường Do Thái

Một phần gồm toàn bộ các phòng nhỏ và chật chội

Dành riêng cho phái nữ và khách qua đường

Phần thứ hai là phòng lớn khá đàng hoàng

Cạnh tường có bàn gỗ nhiều chân nhưng hẹp

Đứng sát là bàn nhỏ, thấp hơn và giống hệt

Chẳng khác gì bàn cha với bàn con

Ngồi quanh bàn là những người đàn ông trong thôn

Viên quản lý chiếm riêng một chỗ

Sau lễ cầu nguyện ban sáng ở nhà thờ nhỏ

Nghỉ chủ nhật, nên họ đến đây ăn uống tiệc tùng

Và gặp nhau tại quán Yankiel nổi tiếng trong vùng

Cạnh mỗi người đều có một chai vodka màu bạc

Cô hầu bàn cầm thêm chai to chạy khắp nơi mời mọc

Ở giữa là ông già Yankiel - người thuê lại quán ăn

Mặc áo dài chấm đất với hàng khuy bạc long lanh

Một tay đút vào dải băng đen may bằng lụa quý

Tay kia từ tốn vuốt ve hàm râu trắng xoá

Mắt để ý mọi việc xung quanh và sai bảo nhân viên

Đon đả chào mời khách mới, nhẹ nhàng đến cạnh các bàn ăn

Khơi mào câu chuyện và làm dịu đi những ai tranh cãi

Nhưng không phải phục vụ gì, chỉ đi qua đi lại!

Ông già Do Thái này nổi tiếng do tính thật thà

Đã thuê quán ăn kinh doanh từ lâu lắm đến giờ

Song không ai trong số dân quê và quý tộc

Phàn nàn gì về ông già với gií chủ trang ấp

Mà thực có gì phải phàn nàn ở đây

Lão có rượu ngon tha hồ lựa chọn hàng ngày

Tính tiền kỹ lưỡng nhưng không ăn gian của khách

Không cấm ai uống khi hứng nhưng ghét tật say xỉn và phá phách

Cũng là người hâm mộ các cuộc vui thâu đêm

Đám cưới và lễ đặt tên hay tổ chức thường xuyên  

Lão nhắn các nhạc công trong làng và những vùng lân cận

Đến quán vào chủ nhật hàng tuần để phục vụ khách khi cần đến

Trong đội nhạc có cả kèn sừng dê và kèn đồng.                 

 

Lão biết nhạc, từng nổi tiếng là một nhạc công

Với cây đàn ximbao, nhạc cụ dân Do Thái

Ngày xưa thường lang thang khắp bao trang trại

Và gây ngạc nhiên bằng tài đàn hát của mình

Lão hát đã hay, có học thức lại thông minh

Tuy là người Do Thái nhưng tiếng Ba Lan khá chuẩn

Đặc biệt yêu thích dân ca và chơi đàn điêu luyện

Mỗi lần từ bên kia sông Niemen về nhà

Lão mang theo về nhiều làn điệu dân ca

Bản Ma-duốc-ca Vácsava [1], bài hát ru vùng Halích

Tin đồn lan toàn vùng, không biết có là thất thiệt

Rằng lão là người đầu tiên mang từ ngoại quốc về

Rồi phổ biến rộng trong các làng quê

Bài hát nổi tiếng ngày nay trên thế giới

Bài hát đầu tiên trên xứ sở người Auzon thời ấy

Đội kèn lê dương đã chơi hay hơn bọn Ý tài ba

Tài ca hát cũng mang lại lợi ích ở Litva

Một là được mọi người yêu mến

Hai là giàu sang và ba là nổi tiếng

Yankiel đã kiếm được một gia tài khá tươm

Đầy đủ cả tiền bạc lẫn tiếng tăm

Bây giờ treo cây ximbao lên tường không chơi nữa

Quyết cùng con cháu mở quán để chiều lòng khách khứa

Lão thuê người hầu mở rộng việc làm này

Thị trấn kề bên liền có ngay một quán giống đây

Lão tới đâu cũng được mọi người trong vùng yêu kính

Còn đóng thêm vai trò một cố vấn gia đình nổi tiếng

Lão sành buôn bán lúa mỳ trên các tầu Viciny

Nhiều lúc cần một kiến thức như thế ở làng quê

Lão cũng nổi tiếng là một người Ba Lan tốt

Là người đầu tiên dàn xếp êm các cuộc xung đột

Dễ dẫn đến đổ máu giữa hai quán ăn

Bằng cách thuê luôn cả hai để quản lý kinh doanh

Đối với lão, dù người phe Horesko ương ngạnh

Hay bọn hầu cận Thẩm phán Soplitsa cũng đều kính trọng

Chỉ lão biết duy trì uy thế lâu nay

Với cả tay Chìa khoá dữ tợn của lâu đài

Lẫn viên Thừa phát lại lắm điều nhà Thẩm phán

Đứng trước Yankiel cả hai biết cùng tự ghìm nén

Những điều thường gây xúc phạm xưa nay

Gervazy dữ tợn kiềm chế bàn tay

Còn Protazy đắn đo trong ngôn ngữ.                              

 

Hôm nay Gervazy không ở đây như mọi bữa

Ông ta đang đến chỗ săn bắn trong rừng

Chắc không muốn Bá tước phải đương đầu một mình

Với chuyến đi hệ trọng và khó khăn như vậy

Bởi Ngài còn trẻ lại chưa từng trải

Lão phải đi cùng để khuyên răn và bảo vệ Ngài

Chỗ của Gervazy trong quán thường ngày

Cạnh chỗ để bàn thờ, nơi xa cửa nhất

Giữa hai hàng ghế dài trong góc khuất

Hôm nay dành cho thầy lạc quyên Robak đến ngồi [2]

Chính Yakiel đã mời Cha vào vị trí này

Rõ ràng lão kính trọng thầy tu dòng Bécna nọ

Khi vừa thấy cốc của thầy vơi đi một nửa

Lão liền chạy đến bên, hạ lệnh rót thêm vào

Những giọt mật ong tháng Bảy lóng lánh như sao

Thiên hạ kháo nhau lão biết thầy tu từ thời trai trẻ

Thủa cùng phiêu bạt ở chân trời góc bể...

Robak thường đến quán vào ban đêm

Bàn luận bí mật với lão Do Thái những việc liên quan

Cũng nghe nói Cha còn đưa đồ cấm qua biên giới

Tuy không đáng tin vì chỉ là lời đồn thổi.

 

Robak tỳ vào bàn thầm thì lúc nhỏ lúc to

Đám quý tộc bao quanh vểnh tai lắng nghe

Mũi cúi sát hộp thuốc lá của thầy tu ngồi đó

Nhúm lên hít và thi nhau hắt hơi như súng nổ

-“Rất đáng kính, ông Skoluba nói sau vài lần hắt hơi

Ôi, thuốc lá chạy đến tận chân tóc của tôi

Kể từ khi phải mang theo cái mũi chết tiệt

(Ông vuốt nhẹ sống mũi dài ngoằng mấy lần liên tiếp)

Tôi chưa hề được hít loại thuốc như thế bao giờ

(Đến đây ông hắt hơi lần nữa thật to)

Đúng là thuốc của thầy tu dòng Bécna có khác

Chắc của vùng Kovno, thành phố nổi danh trên trái đất

Vì thuốc lá với mật ong. Tôi từng đến đó từ năm…”

-“Chúc sức khoẻ! Robak ngắt lời ông

Chúc tất cả các ông chủ của tôi sức khoẻ

Còn loại thuốc lá này có nguồn gốc còn xa hơn thế

Xa hơn nơi ngài Skoluba tốt bụng nêu ra

Nó đến từ mãi tận thành Yasna Gora

Các hoàng thân Paulinov tinh luyện ra thuốc đó

Ở Tchenstokhova, nơi có bức hình diệu kỳ chúng ta đều nhớ

Bức hình Nữ thánh đồng trinh với vương miện mẫu hậu Ba Lan

Người đến nay vẫn được gọi là Nữ hoàng rất đỗi mến thương

Và cho đến nay vương miện vẫn lấp lánh trên đầu mẫu hậu

Song ở Litva giờ đây đang trị vì cái gọi là chính giáo”

-“Thuốc lá vùng Tchenstokhova đấy ư?

Vilbik nói, tôi đã đến đó xưng tội ngày xưa

Nhân chuyến đi thăm người bà con thân thuộc

Cũng phải đến ba mươi năm về trước

Có phải người Pháp giờ đang ở thành phố đó chăng?

Và chúng định phá cả nhà thờ và lấy của cải đi không?

Tất cả chuyện đó tờ Tin tức Litva đều đăng tải”

-“Không phải, Cha Bécna nói, đó là tin đồn bậy

Napoléon cũng theo đạo Thiên chúa chính hiệu cơ mà

Mặc dù Giáo hoàng từng nói xấu ông ta

Song họ vẫn sống cùng nhau thuận hoà như trước

Và đang làm biến đổi người dân nước Pháp

Một dân tộc hơi bị hư đi trong con mắt Giáo hoàng

Đúng là từ Tchenstokhova người ta đã dâng hiến bạc vàng 

Vào ngân khố quốc gia cho Ba Lan, cho Tổ quốc

Chính Chúa đã ban lệnh ấy cho người trong nước

Khi phán rằng đất thiêng thờ Người mới là tài sản quốc gia

Hiện chúng ta có trong Công quốc Vacsava

Một trăm ngàn binh sĩ và sắp tới còn đông hơn thế

Ai là người nuôi quân đội Ba Lan cho ta nhỉ

Có phải các người không, hỡi dân Litva yêu quý của tôi?

Các bạn chỉ nên dành lại một xu cống nộp cho bọn Moskva mà thôi”

-“Bọn đao phủ, ai dại gì cống nộp vào ngân quỹ cho chúng

Họ cưỡng bức chúng tôi” Vilbik cao giọng

-“Thưa ngài tốt bụng” Một nông dân kêu lên nhún nhường 

Sau khi cúi chào thầy tu và vò đầu một cách đáng thương

-“Với quý tộc, đó chỉ mới là một nửa bất hạnh

Với chúng tôi họ xé xác rồi nuốt chửng hoặc đè ra đánh”

-“Đồ thô bỉ! Skoluba kêu to, vênh mặt nhơn nhơn

Vốn ngu muội, hẳn với các ngươi như vậy tốt hơn

Ngươi, gã nông dân kia, ngươi đã quen chịu tước đoạt

Như giống lươn quen lấm đầu trong bùn đất!

Khác với chúng ta, những người sinh ra là bậc cao sang

Quen với tự do, vốn quý như vàng

Ôi, những người anh em thân mến

Có phải ngày xưa quý tộc là vua ở vùng mình cai quản

(Đúng, đúng, tất cả cùng đồng thanh kêu lên

Quý tộc ngang với quan tổng đốc uy quyền)

Ngày nay người ta khước từ quý tộc và không công nhận

Họ ra lệnh chúng ta phải chứng minh bằng văn bản

Quý tộc hay không chỉ cần dựa vào mỗi mảnh giấy mà thôi!”

-“Chuyện của Ngài còn chưa là gì cả, Ngài ơi

Yuraha lên tiếng

Đời cụ Ngài là nông dân mới được nâng lên thành quý tộc

Còn tôi, tôi xuất thân là hoàng thân chính gốc

Hỏi tôi về giấy bản quyền thân hào

Hỏi tôi được phong là quý tộc khi nào

Thì chỉ có Chúa mới còn nhớ được!

Hãy để tên Moskva vào rừng hỏi cây sồi cao nhất

Rằng ai cho quyền lớn vượt cây cối khác trong rừng!”

-“Hoàng thân ơi, Zagiel nói thẳng thừng

Ngài hãy nhìn lên đầu mọi người xem thử

Ngài sẽ tìm thấy nhiều không thể kể

Và chắc không chỉ ở một gia đình

Những chiếc mũ hoàng thân giống hệt như mình!”

-“Ông có cây thánh giá trên gia huy đấy!”

Podhaiski lập tức đứng lên móc máy

Ám chỉ rằng trong dòng họ ông ta

Có kẻ tân tòng, tức là mới nhập đạo Gia Tô

-“Vu khống! Birbaz cắt ngang tức khắc

Ở Tatara tôi xuất thân là bá tước

Tôi theo đạo Thiên chúa từ đời ông cha 

Có thánh giá đặt trước huy hiệu thuyền buồm trong nhà”

-“Hãy gắng sức lên để kéo, khéo mà gãy cổ

Mickiêvich châm biếm xiên xỏ

Chiếc mũ hoàng thân trên cánh đồng vàng

Đó là gia huy hoàng tộc oai phong

Stryikovski đã viết rất nhiều về điều ấy!”

 

Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)



[1]Bài hát ru vùng Halicz là dân ca Nga, gần giống như Ma-duốc-ca của Ba Lan.

[2]Chỗ ngồi danh dự, nơi xưa kia thường thờ các đấng thần linh, nơi người Nga vẫn treo các bức tranh quý. Tại vị trí đó người nông dân Litva thường dành cho khách mà mình tôn kính ngồi.

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu