Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 39)

10/03/2011 22 phút đọc BBT
Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 39) Któż zbadał puszcz litewskich przepastne krainy Aż do samego środka, do jądra gęstwiny? Rybak ledwie u
Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 39)

Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 39)

Któż zbadał puszcz litewskich przepastne krainy

Aż do samego środka, do jądra gęstwiny?

Rybak ledwie u brzegów nawiedza dno morza;

Myśliwiec krąży koło puszcz litewskich łoża,

Zna je ledwie po wierzchu, ich postać, ich lice,

Lecz obce mu ich wnętrzne serca tajemnice;

Wieść tylko albo bajka wie, co się w nich dzieje.

Bo gdybyś przeszedł bory i podszyte knieje,

Trafisz w głębi na wielki wał pniów, kłod, korzeni,

Obronny trzęsawicą, tysiącem strumieni

I siecią zielsk zarosłych, i kopcami mrowisk,

Gniazdami os, szerszeniów, kłębami wężowisk.

 

Gdybyś i te zapory zmógł nadludzkiem męstwem,

Dalej spotkać się z większem masz niebezpieczeństwem:

Dalej co krok czyhają, niby wilcze doły,

Małe jeziorka trawą zarosłe na poły,

Tak głębokie, że ludzie dna ich nie dośledzą

(Wielkie jest podobieństwo, że diabły tam siedzą).

Woda tych studni sklni się, plamista rdzą krwawą.

A z wnętrza ciągle dymi, zionąc woń plugawą,

Od której drzewa wkoło tracą liść i korę;

Łyse, skarłowaciałe, robaczliwe, chore,

Pochyliwszy konary mchem kołtunowate

I pnie garbiąc brzydkiemi grzybami brodate,

Siedzą wokoło wody jak czarownic kupa

Grzejąca się nad kotłem, w którym warzą trupa.

 

Za temi jeziorkami już nie tylko krokiem,

Ale daremnie nawet zapuszczać się okiem,

Bo tam już wszystko mglistym zakryte obłokiem,

Co się wiecznie ze trzęskich oparzelisk wznosi.

A za tą mgłą na koniec (jak wieść gminna głosi)

Ciągnie się bardzo piękna, żyzna okolica:

Główna królestwa zwierząt i roślin stolica.

W niej są złożone wszystkich drzew i ziół nasiona,

Z których się rozrastają na świat ich plemiona;

W niej, jak w arce Noego, z wszelkich zwierząt rodu

Jedna przynajmniej para chowa się dla płodu.

W samym środku (jak słychać) mają swoje dwory:

Dawny Tur, Żubr i Niedźwiedź, puszcz imperatory.

Około nich na drzewach gnieździ się Ryś bystry

I żarłoczny Rosomak, jak czujne ministry;

Dalej zaś, jak podwładni szlachetni wasale,

Mieszkają Dziki, Wilki i Łosie rogale.

Nad głowami Sokoły i Orłowie dzicy,

Żyjący z pańskich stołów dworscy zausznicy.

Te pary zwierząt głowne i patryjarchalne,

Ukryte w jądrze puszczy, światu niewidzialne,

Dzieci swe ślą dla osad za granicę lasu,

A sami we stolicy używają wczasu;

Nie giną nigdy bronią sieczną ani palną,

Lecz starzy umierają śmiercią naturalną.

Mają też i swój smętarz, kędy bliscy śmierci,

Ptaki składają pióra, czworonogi sierci.

Niedźwiedź, gdy zjadłszy zęby, strawy nie przeżuwa,

Jeleń zgrzybiały, gdy już ledwie nogi suwa,

Zając sędziwy, gdy mu już krew w żyłach krzepnie,

Kruk, gdy już posiwieje, sokoł, gdy oślepnie,

Orzeł, gdy mu dziób stary tak się w kabłąk skrzywi,

Że zamknięty na wieki już gardła nie żywi,

Idą na smętarz. Nawet mniejszy zwierz, raniony

Lub chory, bieży umrzeć w swe ojczyste strony.

Stąd to w miejscach dostępnych, kędy człowiek gości,

Nie znajdują się nigdy martwych zwierząt kości.

 

Słychać, że tam w stolicy, między zwierzętami

Dobre są obyczaje, bo rządzą się sami;

Jeszcze cywilizacją ludzką nie popsuci,

Nie znają praw własności, która świat nasz kłóci,

Nie znają pojedynków ni wojennej sztuki.

Jak ojce żyły w raju, tak dziś żyją wnuki,

Dzikie i swojskie razem, w miłości i zgodzie,

Nigdy jeden drugiego nie kąsa ni bodzie.

 

Nawet gdyby tam człowiek wpadł, chociaż niezbrojny,

Toby środkiem bestyi przechodził spokojny;

One by nań patrzyły tym wzrokiem zdziwienia,

Jakim w owym ostatnim, szóstym dniu stworzenia

Ojce ich pierwsze, co się w ogrójcu gnieździły,

Patrzyły na Adama, nim się z nim skłóciły.

Szczęściem, człowiek nie zbłądzi do tego ostępu,

Bo Trud i Trwoga, i Śmierć bronią mu przystępu.

 

Czasem tylko w pogoni zaciekłe ogary,

Wpadłszy niebacznie między bagna, mchy i jary,

Wnętrznej ich okropności rażone widokiem,

Uciekają skowycząc, z obłąkanym wzrokiem;

I długo potem, ręką pana już głaskane,

Drżą jeszcze u nóg jego, strachem opętane.

Te puszcz stołeczne, ludziom nie znane tajniki

W języku swoim strzelcy zowią: m a t e c z n i k i.

 

Głupi niedźwiedziu! gdybyś w mateczniku siedział,

Nigdy by się o tobie Wojski nie dowiedział;

Ale czyli pasieki zwabiła cię wonność,

Czy uczułeś do owsa dojrzałego skłonność,

Wyszedłeś na brzeg puszczy, gdzie się las przerzedził,

I tam zaraz leśniczy bytność twą wyśledził,

I zaraz obsaczniki, chytre nasłał szpiegi,

By poznać, gdzie popasasz i gdzie masz noclegi;

Teraz Wojski z obławą, już od matecznika

Postawiwszy szeregi, odwrót ci zamyka.

 

 

 

Chàng Tadeush (tiếp theo – 39)

 

Ai từng thám hiểm các cánh rừng Litva bí ẩn

Vào giữa rừng sâu, tức là đến tận ngọn nguồn cùng tận?

Nếu ngư dân mới chỉ lặn tới đáy biển chỗ ven bờ

Thì người săn chỉ lượn lờ quanh bìa rừng Litva

Mới biết được hình dáng, diện mạo và bề mặt

Tim lõi vào sâu trong rừng với họ còn hoàn toàn bí mật

Chỉ có tin đồn hoặc cổ tích kể cho ta

Trong rừng thẳm sâu có gì đã xảy ra

Bởi nếu bạn có vượt qua rừng già và hàng cây cao vút

Thì vào sâu bạn sẽ gặp phải con đê khủng khiếp

Tạo nên do trập trùng thân, gốc, rễ cây uốn lượn ngoằn ngoèo

Bao quanh bằng cành lá rậm rì và hàng vạn dây leo

Cùng những cây cối hoang sơ trổ khắp nơi chằng chịt

Rồi những tổ kiến, ong nhỏ, ong to và rắn rết

Nếu bạn vẫn có gan vượt qua đám rào cản trên

Bằng dũng lược phi thường và một chút vận hên

Thì tiếp theo còn gặp mối hiểm nguy lớn hơn thế nữa

Tới lúc mỗi bước đi đều có kẻ rình mò cản trở

Có thể là ổ chó sói dữ tợn nhe nanh

Những ao hồ, cỏ mọc xanh rờn bao phủ xung quanh

Nhưng nước sâu đến mức không ai đo được đáy

(Rất có thể quỷ đang ngồi rình ở đấy)

Nước bên dưới những hồ ấy váng xanh

Pha lẫn màu nâu vàng rỉ và luôn bốc mùi tanh

Cạnh đó là cây cối xác xơ, sâu bọ đục khoét

Thân cây trụi lá và héo mòn bệnh tật

Cành khẳng khiu cong xuống, phủ đầy rêu

Và những loài nấm xấu xí rậm rịt bám theo

Chúng chồm hổm sát mặt nước như bầy phù thuỷ

Canh lò đốt những cái xác bên trong đang rữa ra âm ỉ.

 

Sau lớp hồ, chẳng những chân không thể bước thêm

Mà thậm chí mắt cũng không còn cách dõi nhìn

Bởi ở đó bao phủ lớp sương mù dày đặc

Muôn đời ngự trị trên đầm lầy ẩm thấp

Còn cuối cùng sau lớp sương đó, sẽ là

(Như chuyện dân gian thường kể từ xưa)

Một vùng cảnh đẹp tuyệt vời và cực kỳ màu mỡ

Là vương quốc chính của thú rừng hoang dã

Là kinh đô của mọi loài cây cối xưa nay

Nơi đó có tất cả các giống cỏ cây

Mà chi nhánh cháu con của chúng gồm đủ loại

Hiện đang mọc um tùm khắp nơi trên thế giới

Và giống như ở thuyền của tộc trưởng Nô-ê [1]

Mỗi loài thú đều có ít nhất một cặp được duy trì

Để sinh đẻ và bảo tồn nòi giống

Ở chính giữa (như được nghe) là các cung điện

Của chúa sơn lâm, gấu với bò rừng

Trên cây cao là ổ của mèo thiêng

Và giống chồn gulo luôn luôn háu đói

Lại là những bộ trưởng có trọng trách làm cảnh giới

Tiếp theo là đám quý tộc chư hầu

Là lợn rừng, chó sói và nai sừng tấm to cao

Trên đầu là chim ưng và đại bàng man rợ

Tay sai sống nhờ vào thức ăn chủ bỏ

Những cặp thú chủ soái và tộc trưởng này

Giấu mình trong rừng thiêng, không ai thấy xưa nay

Chúng sai con cháu ra ngoài lập trại ấp

Còn bản thân chỉ ngồi giữa kinh đô không ló mặt

Chúng không chết vì mắc lưới hoặc bị bắn đạn tên

Chỉ chết khi đã già, chết cái chết tự nhiên

Chúng cũng có nghĩa địa, nơi khi sắp chết

Co thân lại và giấu kín lông để không ai biết

Con gấu, sau khi nuốt hàm răng, không nhai lại thức ăn

Con hươu già yếu, khi chỉ nhúc nhích được chân

Con thỏ già khi máu trong mạch đông lại lạnh ngắt

Con quạ khi đã khoang đầu, chim ưng khi mờ mắt

Đại bàng, khi mỏ cong tớn lên không mổ được gì [2]

Mãi mãi ngậm miệng, không ăn uống để sẽ ra đi

Chúng đều đến nghĩa địa của mình để chết

Thậm chí con vật nhỏ, khi bị thương hoặc bệnh tật

Cũng chạy về vùi xác trên mảnh đất quê hương

Do đó những nơi có thể đến được thông thường

Con người không tìm thấy xương các loài thú chết [3]

Nghe ở đấy tồn tại tập quán tốt giữa các loài thú vật

Bởi vì chúng tự cai quản nhau rất cừ

Chưa bị nền văn minh của loài người làm hư

Chưa biết đến quyền tư hữu tài sản

Thứ làm cho thế giới chúng ta cãi lộn!

Chưa biết quyết đấu cũng như nghệ thuật chiến tranh

Ông cha sống như thế nào trong cảnh bình yên

Thì giờ đây con cháu cũng sống y như thế

Vừa hoang dã lại vừa có nề nếp trật tự

Sống trong hoà thuận và yêu thương sẻ chia

Không bao giờ kẻ này cắn xé kẻ kia

Cũng không bực bội nhau để suốt ngày cau có

Thậm chí khi con người xuất hiện ở đó

Nếu không mang theo vũ khí bên mình

Thì ác thú có đi qua bên cũng chỉ lặng thinh

Và nhìn bằng ánh mắt ngạc nhiên e ấp

Ánh mắt chúng có trong ngày thứ Sáu sáng lập

Khi Chúa tạo ra chúng đầu tiên trong vườn trời

Ánh mắt nhìn Ađam, trước khi bất hoà với loài người

Cũng thật may, con người không thể lạc vào nơi đó

Bởi mối âu lo, cái chết và trăm ngàn gian khó

Luôn cản ngăn, không để ta bén mảng tới gần.

 

Đôi lúc chỉ lũ chó hung hãn trong cuộc săn lùng

Không may lọt vào giữa bãi lầy hẽm núi

Khiếp đảm bởi cảnh tượng bên trong vô cùng sợ hãi

Vừa bỏ chạy vừa rú lên với cái nhìn ngây dại mất hồn

Rồi sau đó rất lâu, dù được vuốt ve trấn an

Vẫn run lên dưới chân chủ trong ám ảnh vì nỗi sợ

Kinh đô của chốn sơn cùng thuỷ tận đó

Nơi thần bí con người chưa hề đặt chân

Được gọi là ổ sào huyệt trong ngôn ngữ thợ săn!

 

Hỡi con gấu ngu dốt và xấu số

Giá mi cứ ngồi yên trong hang ổ

Thì chẳng bao giờ Tổng quản biết nổi về mi

Hay là tại cái mùi mật ong quá hấp dẫn kia

Hay còn bị lúa yến mạch chín vàng mê hoặc

Ra ngoài bìa rừng, nơi cây rừng thưa thớt

Đủ cho người canh rừng phát hiện ra ngươi

Và lập tức cho người nhanh nhẹn bám đuôi

Để biết mi dừng bước chỗ nào, nơi đâu mi ngủ lại

Bây giờ Tổng quản cho bao vây mi rồi đấy

Lão đặt lưới vây điệp điệp trùng trùng

Chặn đường quay về rồi, mi có biết không?

 

Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)



[1] Theo Kinh thánh tường thuật thì Nô-ê là người duy nhất sống sót qua trận Đại hồng thuỷ và do đó được coi là tổ phụ của loài người. Trên chiếc thuyền vượt qua bão tố của ông có tất cả các cặp thú để duy trì nòi giống (ND).

[2]Mỏ của các loài chim ăn thịt lớn càng già càng bị cong vênh và cuối cùng phần đầu mỏ cụp lại, miệng không mở được nữa và chim sẽ chết đói. Đó là giả thuyết mà một số nhà nghiên cứu sinh vật dân dã hình như đã đưa ra.

[3]Đúng là chưa có một thí dụ nào về trường hợp người ta tìm được bộ xương của một con thú bị chết.

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu