Pan Tadeusz (ciąg dalszy – 39)
Któż zbadał puszcz litewskich przepastne krainy
Aż do samego środka, do jądra gęstwiny?
Rybak ledwie u brzegów nawiedza dno morza;
Myśliwiec krąży koło puszcz litewskich łoża,
Zna je ledwie po wierzchu, ich postać, ich lice,
Lecz obce mu ich wnętrzne serca tajemnice;
Wieść tylko albo bajka wie, co się w nich dzieje.
Bo gdybyś przeszedł bory i podszyte knieje,
Trafisz w głębi na wielki wał pniów, kłod, korzeni,
Obronny trzęsawicą, tysiącem strumieni
I siecią zielsk zarosłych, i kopcami mrowisk,
Gniazdami os, szerszeniów, kłębami wężowisk.
Gdybyś i te zapory zmógł nadludzkiem męstwem,
Dalej spotkać się z większem masz niebezpieczeństwem:
Dalej co krok czyhają, niby wilcze doły,
Małe jeziorka trawą zarosłe na poły,
Tak głębokie, że ludzie dna ich nie dośledzą
(Wielkie jest podobieństwo, że diabły tam siedzą).
Woda tych studni sklni się, plamista rdzą krwawą.
A z wnętrza ciągle dymi, zionąc woń plugawą,
Od której drzewa wkoło tracą liść i korę;
Łyse, skarłowaciałe, robaczliwe, chore,
Pochyliwszy konary mchem kołtunowate
I pnie garbiąc brzydkiemi grzybami brodate,
Siedzą wokoło wody jak czarownic kupa
Grzejąca się nad kotłem, w którym warzą trupa.
Za temi jeziorkami już nie tylko krokiem,
Ale daremnie nawet zapuszczać się okiem,
Bo tam już wszystko mglistym zakryte obłokiem,
Co się wiecznie ze trzęskich oparzelisk wznosi.
A za tą mgłą na koniec (jak wieść gminna głosi)
Ciągnie się bardzo piękna, żyzna okolica:
Główna królestwa zwierząt i roślin stolica.
W niej są złożone wszystkich drzew i ziół nasiona,
Z których się rozrastają na świat ich plemiona;
W niej, jak w arce Noego, z wszelkich zwierząt rodu
Jedna przynajmniej para chowa się dla płodu.
W samym środku (jak słychać) mają swoje dwory:
Dawny Tur, Żubr i Niedźwiedź, puszcz imperatory.
Około nich na drzewach gnieździ się Ryś bystry
I żarłoczny Rosomak, jak czujne ministry;
Dalej zaś, jak podwładni szlachetni wasale,
Mieszkają Dziki, Wilki i Łosie rogale.
Nad głowami Sokoły i Orłowie dzicy,
Żyjący z pańskich stołów dworscy zausznicy.
Te pary zwierząt głowne i patryjarchalne,
Ukryte w jądrze puszczy, światu niewidzialne,
Dzieci swe ślą dla osad za granicę lasu,
A sami we stolicy używają wczasu;
Nie giną nigdy bronią sieczną ani palną,
Lecz starzy umierają śmiercią naturalną.
Mają też i swój smętarz, kędy bliscy śmierci,
Ptaki składają pióra, czworonogi sierci.
Niedźwiedź, gdy zjadłszy zęby, strawy nie przeżuwa,
Jeleń zgrzybiały, gdy już ledwie nogi suwa,
Zając sędziwy, gdy mu już krew w żyłach krzepnie,
Kruk, gdy już posiwieje, sokoł, gdy oślepnie,
Orzeł, gdy mu dziób stary tak się w kabłąk skrzywi,
Że zamknięty na wieki już gardła nie żywi,
Idą na smętarz. Nawet mniejszy zwierz, raniony
Lub chory, bieży umrzeć w swe ojczyste strony.
Stąd to w miejscach dostępnych, kędy człowiek gości,
Nie znajdują się nigdy martwych zwierząt kości.
Słychać, że tam w stolicy, między zwierzętami
Dobre są obyczaje, bo rządzą się sami;
Jeszcze cywilizacją ludzką nie popsuci,
Nie znają praw własności, która świat nasz kłóci,
Nie znają pojedynków ni wojennej sztuki.
Jak ojce żyły w raju, tak dziś żyją wnuki,
Dzikie i swojskie razem, w miłości i zgodzie,
Nigdy jeden drugiego nie kąsa ni bodzie.
Nawet gdyby tam człowiek wpadł, chociaż niezbrojny,
Toby środkiem bestyi przechodził spokojny;
One by nań patrzyły tym wzrokiem zdziwienia,
Jakim w owym ostatnim, szóstym dniu stworzenia
Ojce ich pierwsze, co się w ogrójcu gnieździły,
Patrzyły na Adama, nim się z nim skłóciły.
Szczęściem, człowiek nie zbłądzi do tego ostępu,
Bo Trud i Trwoga, i Śmierć bronią mu przystępu.
Czasem tylko w pogoni zaciekłe ogary,
Wpadłszy niebacznie między bagna, mchy i jary,
Wnętrznej ich okropności rażone widokiem,
Uciekają skowycząc, z obłąkanym wzrokiem;
I długo potem, ręką pana już głaskane,
Drżą jeszcze u nóg jego, strachem opętane.
Te puszcz stołeczne, ludziom nie znane tajniki
W języku swoim strzelcy zowią: m a t e c z n i k i.
Głupi niedźwiedziu! gdybyś w mateczniku siedział,
Nigdy by się o tobie Wojski nie dowiedział;
Ale czyli pasieki zwabiła cię wonność,
Czy uczułeś do owsa dojrzałego skłonność,
Wyszedłeś na brzeg puszczy, gdzie się las przerzedził,
I tam zaraz leśniczy bytność twą wyśledził,
I zaraz obsaczniki, chytre nasłał szpiegi,
By poznać, gdzie popasasz i gdzie masz noclegi;
Teraz Wojski z obławą, już od matecznika
Postawiwszy szeregi, odwrót ci zamyka.

Chàng Tadeush (tiếp theo – 39)
Ai từng thám hiểm các cánh rừng Litva bí ẩn
Vào giữa rừng sâu, tức là đến tận ngọn nguồn cùng tận?
Nếu ngư dân mới chỉ lặn tới đáy biển chỗ ven bờ
Thì người săn chỉ lượn lờ quanh bìa rừng Litva
Mới biết được hình dáng, diện mạo và bề mặt
Tim lõi vào sâu trong rừng với họ còn hoàn toàn bí mật
Chỉ có tin đồn hoặc cổ tích kể cho ta
Trong rừng thẳm sâu có gì đã xảy ra
Bởi nếu bạn có vượt qua rừng già và hàng cây cao vút
Thì vào sâu bạn sẽ gặp phải con đê khủng khiếp
Tạo nên do trập trùng thân, gốc, rễ cây uốn lượn ngoằn ngoèo
Bao quanh bằng cành lá rậm rì và hàng vạn dây leo
Cùng những cây cối hoang sơ trổ khắp nơi chằng chịt
Rồi những tổ kiến, ong nhỏ, ong to và rắn rết
Nếu bạn vẫn có gan vượt qua đám rào cản trên
Bằng dũng lược phi thường và một chút vận hên
Thì tiếp theo còn gặp mối hiểm nguy lớn hơn thế nữa
Tới lúc mỗi bước đi đều có kẻ rình mò cản trở
Có thể là ổ chó sói dữ tợn nhe nanh
Những ao hồ, cỏ mọc xanh rờn bao phủ xung quanh
Nhưng nước sâu đến mức không ai đo được đáy
(Rất có thể quỷ đang ngồi rình ở đấy)
Nước bên dưới những hồ ấy váng xanh
Pha lẫn màu nâu vàng rỉ và luôn bốc mùi tanh
Cạnh đó là cây cối xác xơ, sâu bọ đục khoét
Thân cây trụi lá và héo mòn bệnh tật
Cành khẳng khiu cong xuống, phủ đầy rêu
Và những loài nấm xấu xí rậm rịt bám theo
Chúng chồm hổm sát mặt nước như bầy phù thuỷ
Canh lò đốt những cái xác bên trong đang rữa ra âm ỉ.
Sau lớp hồ, chẳng những chân không thể bước thêm
Mà thậm chí mắt cũng không còn cách dõi nhìn
Bởi ở đó bao phủ lớp sương mù dày đặc
Muôn đời ngự trị trên đầm lầy ẩm thấp
Còn cuối cùng sau lớp sương đó, sẽ là
(Như chuyện dân gian thường kể từ xưa)
Một vùng cảnh đẹp tuyệt vời và cực kỳ màu mỡ
Là vương quốc chính của thú rừng hoang dã
Là kinh đô của mọi loài cây cối xưa nay
Nơi đó có tất cả các giống cỏ cây
Mà chi nhánh cháu con của chúng gồm đủ loại
Hiện đang mọc um tùm khắp nơi trên thế giới
Và giống như ở thuyền của tộc trưởng Nô-ê [1]
Mỗi loài thú đều có ít nhất một cặp được duy trì
Để sinh đẻ và bảo tồn nòi giống
Ở chính giữa (như được nghe) là các cung điện
Của chúa sơn lâm, gấu với bò rừng
Trên cây cao là ổ của mèo thiêng
Và giống chồn gulo luôn luôn háu đói
Lại là những bộ trưởng có trọng trách làm cảnh giới
Tiếp theo là đám quý tộc chư hầu
Là lợn rừng, chó sói và nai sừng tấm to cao
Trên đầu là chim ưng và đại bàng man rợ
Tay sai sống nhờ vào thức ăn chủ bỏ
Những cặp thú chủ soái và tộc trưởng này
Giấu mình trong rừng thiêng, không ai thấy xưa nay
Chúng sai con cháu ra ngoài lập trại ấp
Còn bản thân chỉ ngồi giữa kinh đô không ló mặt
Chúng không chết vì mắc lưới hoặc bị bắn đạn tên
Chỉ chết khi đã già, chết cái chết tự nhiên
Chúng cũng có nghĩa địa, nơi khi sắp chết
Co thân lại và giấu kín lông để không ai biết
Con gấu, sau khi nuốt hàm răng, không nhai lại thức ăn
Con hươu già yếu, khi chỉ nhúc nhích được chân
Con thỏ già khi máu trong mạch đông lại lạnh ngắt
Con quạ khi đã khoang đầu, chim ưng khi mờ mắt
Đại bàng, khi mỏ cong tớn lên không mổ được gì [2]
Mãi mãi ngậm miệng, không ăn uống để sẽ ra đi
Chúng đều đến nghĩa địa của mình để chết
Thậm chí con vật nhỏ, khi bị thương hoặc bệnh tật
Cũng chạy về vùi xác trên mảnh đất quê hương
Do đó những nơi có thể đến được thông thường
Con người không tìm thấy xương các loài thú chết [3]
Nghe ở đấy tồn tại tập quán tốt giữa các loài thú vật
Bởi vì chúng tự cai quản nhau rất cừ
Chưa bị nền văn minh của loài người làm hư
Chưa biết đến quyền tư hữu tài sản
Thứ làm cho thế giới chúng ta cãi lộn!
Chưa biết quyết đấu cũng như nghệ thuật chiến tranh
Ông cha sống như thế nào trong cảnh bình yên
Thì giờ đây con cháu cũng sống y như thế
Vừa hoang dã lại vừa có nề nếp trật tự
Sống trong hoà thuận và yêu thương sẻ chia
Không bao giờ kẻ này cắn xé kẻ kia
Cũng không bực bội nhau để suốt ngày cau có
Thậm chí khi con người xuất hiện ở đó
Nếu không mang theo vũ khí bên mình
Thì ác thú có đi qua bên cũng chỉ lặng thinh
Và nhìn bằng ánh mắt ngạc nhiên e ấp
Ánh mắt chúng có trong ngày thứ Sáu sáng lập
Khi Chúa tạo ra chúng đầu tiên trong vườn trời
Ánh mắt nhìn Ađam, trước khi bất hoà với loài người
Cũng thật may, con người không thể lạc vào nơi đó
Bởi mối âu lo, cái chết và trăm ngàn gian khó
Luôn cản ngăn, không để ta bén mảng tới gần.
Đôi lúc chỉ lũ chó hung hãn trong cuộc săn lùng
Không may lọt vào giữa bãi lầy hẽm núi
Khiếp đảm bởi cảnh tượng bên trong vô cùng sợ hãi
Vừa bỏ chạy vừa rú lên với cái nhìn ngây dại mất hồn
Rồi sau đó rất lâu, dù được vuốt ve trấn an
Vẫn run lên dưới chân chủ trong ám ảnh vì nỗi sợ
Kinh đô của chốn sơn cùng thuỷ tận đó
Nơi thần bí con người chưa hề đặt chân
Được gọi là ổ sào huyệt trong ngôn ngữ thợ săn!
Hỡi con gấu ngu dốt và xấu số
Giá mi cứ ngồi yên trong hang ổ
Thì chẳng bao giờ Tổng quản biết nổi về mi
Hay là tại cái mùi mật ong quá hấp dẫn kia
Hay còn bị lúa yến mạch chín vàng mê hoặc
Ra ngoài bìa rừng, nơi cây rừng thưa thớt
Đủ cho người canh rừng phát hiện ra ngươi
Và lập tức cho người nhanh nhẹn bám đuôi
Để biết mi dừng bước chỗ nào, nơi đâu mi ngủ lại
Bây giờ Tổng quản cho bao vây mi rồi đấy
Lão đặt lưới vây điệp điệp trùng trùng
Chặn đường quay về rồi, mi có biết không?
Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)
[1] Theo Kinh thánh tường thuật thì Nô-ê là người duy nhất sống sót qua trận Đại hồng thuỷ và do đó được coi là tổ phụ của loài người. Trên chiếc thuyền vượt qua bão tố của ông có tất cả các cặp thú để duy trì nòi giống (ND).
[2]Mỏ của các loài chim ăn thịt lớn càng già càng bị cong vênh và cuối cùng phần đầu mỏ cụp lại, miệng không mở được nữa và chim sẽ chết đói. Đó là giả thuyết mà một số nhà nghiên cứu sinh vật dân dã hình như đã đưa ra.
[3]Đúng là chưa có một thí dụ nào về trường hợp người ta tìm được bộ xương của một con thú bị chết.