Po chwili w Horeszkowskim samotnym budynku
Wszystko do zwyczajnego wracało spoczynku.
Mrok zgęstniał; reszty pańskiej wspaniałej biesiady
Leżą, podobne uczcie nocnej, gdzie na dziady
Zgromadzić się zaklęte mają nieboszczyki.
Już na poddaszu trzykroć krzyknęły puszczyki
Jak guślarze; zdają się witać wschód miesiąca,
Którego postać oknem spadła na stół, drżąca
Niby dusza czyscowa; z podziemu, przez dziury
Wyskakiwały na kształt potępieńców szczury:
Gryzą, piją; czasami w kącie zapomniana
Puknie na toast duchom butelka szampana.
Ale na drugim piętrze, w izbie, którą zwano,
Choć była bez zwierciadeł, salą zwierciadlaną,
Stał Hrabia na krużganku zwróconym ku bramie;
Chłodził się wiatrem, surdut wdział na jedno ramię,
Drugi rękaw i poły u szyi sfałdował
I pierś surdutem jakby płaszczem udrapował.
Gerwazy chodził kroki wielkimi po sali;
Obadwa zamyśleni, do siebie gadali:
"Pistolety, rzekł Hrabia, lub gdy chcą, pałasze".
"Zamek, rzekł Klucznik, i wieś, oboje to nasze".
"Stryja, synowca, wołał Hrabia, całe plemię
Wyzywaj!" - "Zamek, wołał Klucznik, wieś i ziemie
Zabieraj Pan!" To mówiąc zwrócił się do Hrabi:
"Jeśli Pan chce mieć pokój, niech wszystko zagrabi.
Po co proces, Mopanku! sprawa jak dzień czysta:
Zamek w ręku Horeszków był przez lat czterysta;
Część gruntów oderwano w czasie Targowicy
I jak Pan wie, oddano władaniu Soplicy.
Nie tylko tę część, wszystko zabrać im należy,
Za koszta procesowe, za karę grabieży.
Mówiłem Panu zawsze: procesów zaniechać,
Mówiłem Panu zawsze: najechać, zajechać;
Tak było po dawnemu: kto raz grunt posiądzie,
Ten dziedzic; wygraj w polu, a wygrasz i w sądzie.
Co się tyczy dawniejszych z Soplicami sprzeczek,
Jest na to od procesu lepszy Scyzoryczek;
A jeśli Maciej w pomoc da mi swą Rózeczkę,
To my we dwóch, Sopliców tych porzniem na sieczkę".
"Brawo! rzekł Hrabia, plan twój gotycko-sarmacki
Podoba się mi lepiej niż spór adwokacki.
Wiesz co? na całej Litwie narobim hałasu
Wyprawą niesłychaną od dawnego czasu.
I sami się zabawim. Dwa lata tu siedzę,
Jakąż bitwę widziałem? z chłopami o miedzę.
Nasza wyprawa przecież krwi rozlanie wróży;
Odbyłem taką jedną w czasie mych podróży.
Gdym w Sycylu bawił u pewnego księcia,
Rozbójnicy porwali w górach jego zięcia
I okupu od krewnych żądali zuchwale;
My, zebrawszy naprędce sługi i wasale,
Wpadliśmy; ja dwóch zbojców ręką mą zabiłem,
Pierwszy wleciałem w tabor, więźnia uwolniłem.
Ach, mój Gerwazy! jaki to był tryumfalny,
Jaki piękny nasz powrót, rycersko-feudalny!
Lud z kwiatami spotykał nas - córka książęcia,
Wdzięczna zbawcy, ze łzami padła w me objęcia.
Gdym przybył do Palermo, wiedziano z gazety,
Palcami wskazywały mię wszystkie kobiety.
Nawet wydrukowano o całym zdarzeniu
Romans, gdzie wymieniony jestem po imieniu.
Romans ma tytuł: Hrabia, czyli tajemnice
Zamku Birbante-rokka. Czy są tu ciemnice
W tym zamku?" - "Są, rzekł Klucznik, ogromne piwnice,
Ale puste! bo wino wypili Soplice".
"Dżokejów, dodał Hrabia, uzbroić we dworze,
Z włości wezwać wasalów!" - "Lokajów? broń Boże!
Przerwał Gerwazy. Czy to zajazd jest hultajstwem?
Kto widział zajazd robić z chłopstwem i z lokajstwem?
Mój Panie, na zajazdach nie znacie się wcale;
Wąsalów - co innego, zdadzą się wąsale.
Nie we włości ich szukać, ale po zaściankach,
W Dobrzynie, w Rzezikowie, w Ciętyczach, w Rąbankach;
Szlachta odwieczna, w której krew rycerska płynie,
Wszyscy przychylni panów Horeszków rodzinie,
Wszyscy nieprzyjaciele zabici Sopliców!
Stamtąd zbiorę ze trzystu wąsatych szlachciców;
To rzecz moja. Pan niechaj do pałacu wraca
I wyśpi się, bo jutro będzie wielka praca;
Pan spać lubi, już późno, drugi kur już pieje;
Ja tu będę pilnować zamku, aż rozdnieje,
A ze słoneczkiem stanę w Dobrzyńskim zaścianku".
Na te słowa pan Hrabia ustąpił z krużganku;
Ale nim odszedł, spojrzał przez otwór strzelnicy
I widząc świateł mnóstwo w domostwie Soplicy:
"Iluminujcie! krzyknął, jutro o tej porze
Będzie jasno w tym zamku, ciemno w waszym dworze".
Gerwazy siadł na ziemi, oparł się o ścianę
I pochylił ku piersiom czoło zadumane;
Światłość miesięczna padła na wierzch głowy łysy,
Gerwazy po nim kryślił palcem różne rysy;
Widać, że przyszłych wypraw snuł plany wojenne.
Ciężą mu coraz bardziej powieki brzemienne,
Bezwładną kiwnął szyją, czuł, że go sen bierze,
Zaczął wedle zwyczaju wieczorne pacierze.
Lecz między Ojczenaszem i Zdrowaś Maryją
Dziwne stanęły mary, tłoczą się i wiją:
Klucznik widzi Horeszki, swoje dawne pany,
Ci niosą karabele, drudzy buzdygany,
Każdy groźnie spoziera i pokręca wąsa,
Składa się karabelą, buzdyganem wstrząsa -
Za nimi jeden cichy, posępny cień mignął,
Z krwawą na piersi plamą. Gerwazy się wzdrygnął,
Poznał Stolnika; zaczął wkoło siebie żegnać
I ażeby tym pewniej straszne sny rozegnać,
Odmawiał litaniją o czyscowych duszach.
Znowu wzrok mu skleił się, zadzwoniło w uszach -
Widzi tłum szlachty konnej, błyszczą karabele:
Zajazd! zajazd Korelicz, i Rymsza na czele!
I ogląda sam siebie: jak na koniu siwym,
Z podniesionym nad głowę rapierem straszliwym
Leci; rozpięta na wiatr szumi taratatka,
Z lewego ucha spadła w tył konfederatka;
Leci, jezdnych i pieszych po drodze obala
I na koniec Soplicę w stodole podpala -
Wtem ciężka marzeniami na pierś spadła głowa,
I tak usnął ostatni Klucznik Horeszkowa.
Chàng Tadeush (tiếp theo – 52)
Sau giây lát trong ngôi nhà cô đơn của Horesko danh giá
Mọi thứ lại trở về trạng thái tĩnh lặng thường ngày
Đêm đen dày đặc. Những thứ còn sót lại ban ngày
Trên bàn tiệc ngon lành của chủ nhân vẫn còn nằm đó
Như dành cho bữa tiệc đêm thết đãi các hồn ma tiên tổ
Trên mái nhà lũ cú mèo đã kêu ba lần như phù thuỷ gọi hồn
Hình như chúng đang chào đón trăng lên
Ánh trăng chiếu qua cửa sổ xuống mặt bàn như múa nhảy
Như một tâm hồn trong sạch đang run rẩy
Lũ chuột từ dưới đất luồn qua ngõ ngách tối đen
Như những kẻ bị đầy từ địa ngục chui lên
Chúng cắn xé nhau, tranh giành nhau ăn uống
Đôi khi chai sâm banh nằm trong góc nhà quên lãng
Lại bị va đập kêu lên như muốn cụng ly chúc các thần linh.
Song trên tầng hai, trong phòng được gọi là phòng gương
Mặc dù chẳng còn tấm kính nào che lỗ hổng
Bá tước đứng ở hành lang có mái che nhìn ra phía cổng
Gió lạnh thổi vào, áo khoác trùm một bên vai
Tay áo bên kia và phần sát cổ rúm ró khó coi
Ngực như bị áo khoác làm sây sát
Gervazy bước những bước dài quanh phòng tất bật
Cả hai đang chìm trong suy nghĩ, lẩm bẩm với chính mình
-“Súng lục, hoặc kiếm nếu như họ muốn!” Bá tước thì thầm
-“Lâu đài và làng xóm, cả hai đều của chúng ta!” Chìa khóa khẳng định
-“Lão chú và gã cháu, cả họ nhà bay, ta thách đấy!” Bá tước cáu kỉnh
-“Lâu đài, làng xóm và đất đai hãy giành lại, Ngài ơi!”
Chìa khóa kêu lên và quay sang Bá tước giãi bày
-“Nếu Ngài muốn được yên hãy chiếm lấy tất cả
Cần gì phải chờ kiện cáo, Ngài nghe tôi nhé
Khả kính. Việc ấy rõ như ban ngày
Lâu đài nằm trong tay Horesko bốn trăm năm nay
Một phần đất bị tách ra sau khi phát mại
Như Ngài biết, đã trao lại cho Soplitsa hồi ấy
Không chỉ có phần ấy mà tất cả ta phải đòi lại nay mai
Để trừ tiền phí tổn kiện cáo, phạt vì tội chiếm đoạt đất đai
Tôi luôn bảo với Ngài là đừng theo kiện nữa
Tôi vẫn nói là phải chiếm lấy, giành về tất cả
Từ xưa đến nay đều xử như vậy, đương nhiên
Ai đã chiếm được mảnh đất đó trước tiên
Sẽ là người thừa kế nó và là ông chủ hợp pháp
Nếu Ngài chiến thắng trên chiến trường trong trận mạc
Nhất định sẽ chiến thắng cả trên toà án nữa mà
Còn về những mâu thuẫn từ trước đến nay với họ Soplitsa
Thì hiệu quả hơn kiện cáo là thanh dao nhíp này đấy
Giá có thêm lão Machây giúp sức với cái roi của ông ấy
Hai người chúng tôi sẽ cho bọn Soplitsa tan xương nát thịt ngay”.
-“Hoan hô! Bá tước kêu to và phấn chấn hăng say
Kế hoạch của ông có vẻ vừa lãng mạn vừa khả thi, tốt lắm
Tôi khoái nó hơn là cãi nhau biện hộ trên toà án
Chúng ta sẽ làm ầm ĩ mảnh đất Litva này
Bằng cuộc mạo hiểm chưa hề có từ trước tới nay
Chính chúng ta cũng sẽ bày một trò vui thú vị
Tôi đã ngồi ở đây hai năm, có trận đánh nào chưa nhỉ?
Chỉ có tranh chấp ruộng đất giữa bọn nông dân mà thôi
Cuộc mạo hiểm của chúng ta hứa hẹn sẽ máu chảy đầu rơi
Tôi đã trải qua một cuộc như vậy trong khi đi du lịch
Khi tôi ở đất Xixili có đến thăm một vị công tước
Bọn cướp đã bắt cóc trên núi người con rể của ông ta
Và táo tợn đòi những người thân món tiền chuộc khổng lồ
Chúng tôi tập hợp kẻ hầu người hạ rồi tấn công gấp
Chính tay tôi đã giết chết hai tên tướng cướp
Và là người đầu tiên lao vào doanh trại giải thoát kẻ bị giam
Cuộc trở về của chúng tôi thật hiển hách huy hoàng
Chẳng khác gì hiệp sĩ thời phong kiến
Dân chúng cầm hoa tươi chào đón chúng tôi khắp tỉnh
Con gái công tước biết ơn vị cứu tinh dũng cảm can trường
Đã lao vào vòng tay tôi, nước mắt lưng tròng
Khi đến Palermo, do báo chí đã đăng tin trước
Tất cả phụ nữ đều chỉ trỏ vào tôi khâm phục
Thậm chí người ta còn in tiểu thuyết về toàn bộ sự kiện này
Trong đó tên tôi được gọi thân mật mà rất hay
Tiểu thuyết nhan đề
Bá tước hay là những bí mật của lâu đài Birbante – rok [1]Liệu ở đây có hầm tối dùng làm ngục thất?”
-“Có, có những hầm nhà cực lớn. Chìa khóa trả lời
Nhưng trống rỗng, vì rượu vang đã bị bọn Soplitsa uống hết mất rồi”
-“Phải trang bị cho bọn dô kề tại lâu đài, Bá tước nói tiếp
Và gọi ngay trong làng bọn chư hầu đến gấp!”
-“Bọn chư hầu ư? Đây là vụ cưỡng chiếm hay là trò gian giảo, thưa Ngài?
Đã ai thấy trong các vụ cưỡng chiếm từ trước đến nay
Dùng đến nô bộc và người hầu bao giờ chưa, thưa Bá tước?
Có lẽ Ngài chưa biết gì về những vụ cưỡng chiếm xảy ra trong nước [2].
Gọi bọn chư hầu ư? Đúng là có cần dùng đến đồng minh
Song không phải tìm họ trong làng mà là ở xung quanh
Ở Dobryn, Rezikov, Chentysy hoặc Rabanki chẳng hạn
Giới quý tộc lâu đời với dòng máu hiệp sĩ can đảm
Ai cũng có thiện ý với gia tộc Horesko chúng ta
Ai cũng là những kẻ thù không đội trời chung với họ Soplitsa
Ở đó tôi sẽ tập hợp được đến ba trăm đồng minh thuộc giới quý tộc
Đó là việc của tôi. Ngài hãy về dinh ngủ cho đẫy giấc
Vì ngày mai việc trọng đại sẽ cần sự có mặt của Ngài
Chủ nhân ưa ngủ ngon, khuya lắm rồi, gà đã gáy lần hai
Tôi ở lại đây canh giữ lâu đài, chờ sáng thêm và bớt lạnh
Khi mặt trời lên tôi sẽ có mặt ở vùng Dobryn bên cạnh”.
Nghe những lời đó Bá tước rời khỏi hành lang lâu đài
Song trước khi đi Ngài còn nhìn qua lỗ châu mai
Và thấy vô số ánh đèn trong dinh thự Soplitsa nhấp nháy
-“Cứ chiếu sáng đi! Ngài hét lên, giờ này đêm mai sẽ thấy
Sẽ sáng rực ở đây và tối tăm trong dinh chúng bay!”
Gervazy ngồi xuống đất, tựa lưng vào tường lâu đài
Cúi đầu xuống ngực và đăm chiêu nghĩ ngợi
Ánh trăng chiếu lên đỉnh đầu hói bóng nhãy
Gervazy dùng ngón tay vẽ nguệch ngoạc lên mặt đất một hồi
Lão lên kế hoạch cho cuộc chiến mạo hiểm tương lai
Nhưng hai mí mắt lão ngày càng trĩu nặng
Chiếc cổ cứng đơ cứ gật lia lịa không sao gắng gượng
Lão cảm thấy cơn buồn ngủ đang đến với mình
Theo thường lệ lão bắt đầu cầu kinh
Song giữa câu
“Kính lạy Đức Cha” và “Đức Mẹ Maria cho con sự sống”
Lại thấy những bóng ma kỳ quái chen chúc nhau uốn lượn
Chìa khóa nhìn thấy những chủ nhân Horesko của mình
Người cầm kiếm, kẻ cầm trượng đang hiện về lung linh.
Nguyễn Văn Thái dịch (queviet.pl)
[1] Birbante-rokka: Nguyên văn tiếng Ý có nghĩa là khối đá hình tướng cướp (ND)
[2]Vụ cưỡng chiếm: Dưới chính thể cộng hoà Ba Lan, việc thi hành các phán quyết của toà án gặp rất nhiều khó khăn, bởi vì chính quyền hành pháp không có bất kỳ lực lượng cảnh sát nào để thực thi các quyết định của mình, còn những công dân giàu thì lại có các đội quân riêng rất lớn, thí dụ các ông hoàng Radziwiłł, có tới mười mấy ngàn binh lính. Do vậy người thắng kiện, sau khi đã nhận được phán quyết của toà, thường phải tự tìm cách thi hành án bằng luật đấu kiếm của các hiệp sĩ quý tộc. Những người thân thuộc hoặc họ hàng được trang bị vũ khí, với sự có mặt của viên thừa phát lại cầm phán quyết của toà trong tay, dùng vũ lực cưỡng bức, nhiều khi phải đổ máu mới có thể thi hành bản án, lấy lại tài sản được toà cho phép thừa hưởng. Việc làm như thế gọi là cưỡng chế thi hành án. Thời trước, khi luật pháp còn được tôn trọng thì dù là quý tộc hùng mạnh đến đâu cũng không dám chống lại các phán quyết của toà, do đó hiếm khi xảy ra các cuộc tấn công bằng bạo lực, còn tội cưỡng đoạt ít khi tránh khỏi bị xử phạt nghiêm khắc. Cùng với sự kết thúc đáng buồn những tháng năm trị vì của hoàng thân Wasił Sanguszka và Stadnicki, còn được mệnh danh là Quỷ dữ, tình trạng cưỡng chiếm đã xảy ra thường xuyên ở Litva và do đó cuộc sống bình yên của dân lành bị xáo trộn.