Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

BÀ HIỀN ĐI TÂY

07/08/2009 28 phút đọc Trương Đình Toe
ảnh mang tinh minh họaBà Hiền cả đời chẳng bao giờ nghĩ rằng, mình lại có ngày được đi tây. Trước lúc chia tay ở sân
BÀ HIỀN ĐI TÂY
ảnh mang tinh minh họa
ảnh mang tinh minh họa

Bà Hiền cả đời chẳng bao giờ nghĩ rằng, mình lại có ngày được đi tây. Trước lúc chia tay ở sân bay, cô con gái ân cần dặn dò:

- Mẹ đi, con chỉ xin mẹ một điều là mẹ giữ gìn lấy sức khoẻ hộ con.

Anh con rể thì nói đùa:

- Bà sang đấy, nếu cậu mợ ấy có thất thố điều gì, bà cứ chửi cho một trận, rồi về với chúng con. 

Đứa cháu gái kéo áo bà, nũng nịu:

- Bà sang Ba Lan thăm em Hùng rồi nhanh về với cháu, bà nhá! Cháu yêu bà lắm. Bà đi cháu nhớ ơi là nhớ.

Bà Hiền cảm động, cúi xuống hôn nó, bảo:

- Bà cũng yêu cháu lắm. Nhưng bà ở với cháu từ lúc cháu mới lọt lòng, bây giờ đến lượt bà phải ở với em Hùng. Tết bà bảo cậu mợ cho em về chơi với cháu. Nói rồi, bà đưa tay lau nước mắt, xách túi, chân thấp chân cao theo một chị cùng đi Ba Lan, vào chỗ làm thủ tục xuất cảnh…

Gớm, tưởng máy bay nó thế nào, té ra cứ nhắm mắt lại cũng thấy xóc, kêu ù ù, chẳng khác gì cái xe bus. Nhưng sao bay gì mà lâu thế? Bà Hiền suốt đời quen vất vả, lúc nào cũng luôn chân luôn tay, giờ cứ phải ngồi một chỗ thì nóng hết cả ruột gan.

- Sắp đến Ba Lan chưa, hở bác? – Bà hỏi chị cùng đi.

- Còn lâu lắm bà ạ -- chị này cười, trả lời. - Mình mới bay được 3 tiếng đồng hồ, còn mười mấy tiếng nữa mới đến Pa-ris, rồi lại phải chờ đổi máy bay bay tiếp sang Ba Lan. Bà mà ngủ được một giấc thì tốt.

Nhưng bà Hiền chẳng thế nào ngủ được. Mười mấy tiếng đồng hồ trong máy bay, bà mơ màng hồi tưởng về quá khứ của cuộc đời. Mấy chục năm về trước, bà còn là một thôn nữ xinh đẹp nết na ở làng Đoài. Một chàng trai hàng xóm mang lòng yêu dấu, xin cha mẹ mang trầu cau sang hỏi, cưới về làm vợ. Nhưng thời buổi loạn lạc, cuộc xum họp chẳng được là bao thì anh cũng như hàng vạn thanh niên miền Bắc thủa ấy, nhận lệnh tòng quân, lên đường vào Nam chiến đấu. Hiền ở nhà 9 tháng sau sinh đôi được một trai một gái. Con gái ra trước đặt tên là Hoà, con trai đặt là Bình. Ấy là đặt theo cái ước mơ, mong đất nước chóng hoà bình, cho cha chúng được về với vợ với con. Nhưng năm tháng lững lờ trôi, hoà bình mãi chẳng thấy, chồng thì biền biệt. Người chinh phụ chỉ còn biết sống với niềm hy vọng là thể nào cũng có ngày đoàn tụ. Ai ngờ phận người lại bạc như vôi. Cuối cùng thì hoá ra chàng chỉ có ngày đi mà không có ngày về. Năm 1975, khi cả nước tưng bừng mít tinh mừng chiến thắng thì Hiền chết đi sống lại, nhận được tin chồng đã hy sinh. Nhưng may thay đời chị chưa phải đã là mất hết, vẫn còn hai giọt máu của anh để lại. Người mẹ một sương hai nắng, tháng ngày tần tảo nuôi con. Và đúng như lời đức Phật đã dậy, ở hiền thì sẽ gặp lành. Hai đứa trẻ khoẻ mạnh, ngoan ngoãn, cực kỳ thông minh, và càng lớn lại càng đẹp như tranh vẽ. Đối với người mẹ như Hiền thì đấy là niềm an ủi và hạnh phúc lớn nhất ở đời. Hết phổ thông, hai chị em đều thi đỗ đại học. Ra trường, Hoà lấy chồng, sinh con gái đầu lòng và đón mẹ, bấy giờ tóc đã điểm sương, ra Hà Nội ở cùng. Hàng ngày bà trông cháu, trông nhà cho con rể và con gái đi làm. „Cháu bà nội, tội bà ngoại” – bà thường nói. Nhưng đấy là nói đùa ra miệng thế thôi, chứ trong thâm tâm bà hiểu, không có cháu để trông nom thì bà buồn lắm. Được cái anh con rể rất tốt bụng, đối xử với bà đến con trai nhiều nhà cũng chẳng bằng. Thế nhưng nhiều khi bà vẫn thấy tủi thân là không được ở với con trai và cháu đích tôn. Bình mấy năm về trước theo bè bạn sang tận Ba Lan lập nghiệp. Rồi cũng đã cưới vợ và sinh con trai đầu lòng. Con người ta hình như có số. Tuổi vợ chồng anh tính theo cung tử vi thì hợp nhau lắm, hai ngôi sao thiên mệnh chiếu song song. Tên lại càng không phải bàn, anh là Bình còn chị là Minh. Năm ngoái, hai vợ chồng đã đưa con về thăm quê. Giờ thì đón mẹ sang đấy để tiện bề phụng dưỡng.

Từ Pari bay gần 3 tiếng mới đến Vác-sa-va. Xong thủ tục nhập cảnh, chị cùng đi vừa đưa bà Hiền ra đến phòng đợi thì may quá, con trai, con dâu, cháu nội cùng cả hai ông bà thồng gia cũng đã chờ trong đám đông. Thằng cu Hùng sau một năm đã khác hẳn. Nó lớn nhiều và béo mập. Bà nhấc cháu lên, thấy nặng như cái cùm. Minh nhanh nhảu tặng mẹ chồng bó hoa lay ơn tươi thắm. Bà Hiền rất cảm động, nhưng không phải vì bó hoa.

- Gớm, hoa mới chả hoét.– bà nói – Chỉ vẽ vời cho tốn kém. Chúng tao nhà quê, cần gì những thứ ấy. Đến bố mày ngày xưa cũng chẳng mua hoa tặng tao bao giờ.

- Đấy là nhà con tỏ lòng tôn kính mẹ – Bình giải thích - chứ bó hoa đáng bao nhiêu mà mẹ sợ tốn kém.

Cả nhà đưa bà ra xe thì bà cứ xuýt xoa là xe đẹp. Mà đẹp thật. Chiếc xe sơn đen hào nhoáng, to cao lừng lững hơn hẳn những xe đỗ cạnh. Bên trong thì ghế bành bọc da, xung quanh lại lát gỗ. Bật nhạc lên, nghe như rót vào tai. Hồi năm ngoái nhà Bình về Việt Nam, Hoà cũng thuê hẳn xe „xịn” lên Nội Bài đón em, nhưng còn xa mới bằng xe này được.

- Thuê một chuyến thế này thì hết bao nhiêu?- Bà Hiền lo lắng hỏi.

-  Có thuê đâu – Bình trả lời. – Đây là xe riêng của nhà con đấy bà ạ. – Bà Hiền nghe nói thì cảm thấy mừng lắm.

Về đến nhà, bà lại càng choáng. Tầng dưới tầng trên rộng thênh thang, nền nhà lát gỗ tự nhiên bóng lộn, ngoài phòng trong bếp treo mấy cái ti vi màn hình mỏng, cửa giả thì chắc chắn, gỗ lim nhà mình cũng chẳng bằng. Nhà Hoà ở Hà Nội quả không bằng một góc. Bà Hiền không thể tưởng tượng là con trai lại tậu được cái nhà như vậy.

- Đây có phải nhà các con thật không? – Bà vẫn chưa tin hẳn.

- Chả thật thì chúng con dối bà làm gì? – Bình trả lời.

Cái gì cũng đẹp cả, duy chỉ có bàn ghế là không vừa ý bà Hiền. Bàn ghế toàn bằng sắt, động vào cứ lạnh toát cả lên.

- Đồ đạc sao không dùng đồ gỗ? – Bà hỏi con trai.

- Đây là những loại mốt và đắt nhất đấy bà ạ. – Bình trả lời.

- Ừ, mẹ không biết- Bà cười.

Bà Hiền sang được hôm trước thì hôm sau nghe nói „hàng về”, con dâu và con trai cùng bận đi làm, để bà ở nhà với cháu.

- Mẹ không sang thì các con làm thế nào? – Bà hỏi con dâu.

- Chúng con phải thuê “ô sin” – Minh trả lời. – Nhưng chị ấy chán lắm, không được việc. Mấy hôm trước con cho nghỉ rồi.

- Ừ - bà Hiền lấy đó làm mừng. – Mẹ ở đây thì mẹ giúp cho, chứ việc gì phải thuê „ô sin” cho nó tốn kém.

Nhà to, dụng cụ nhiều, nào là máy hút bụi, máy giặt, tủ lạnh, bếp ga, máy rửa bát, máy pha cà phê, bếp đun bằng sóng điện từ…, thứ nào cũng hiện đại. Có những thứ cả đời bà chưa bao giờ nhìn thấy. Những cái bấm điều khiển ti vi và máy phát thanh thì một rổ, chẳng biết cái nào với cái nào. Nhưng được cái tuy nhà quê và đã già, bà Hiền vẫn tinh nhanh. Khoảng một tuần sau, mọi dụng cụ lỉnh kỉnh, bà đều sử dụng thành thạo. Ngày ngày bà ở nhà trông cháu, giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa, chờ các con đi làm về. Dẫu rất là vất vả , nhưng bà chẳng thở than. Bà cả đời sống vì con cháu, xưa nay vẫn lấy công việc làm niềm vui. Vấn đề làm bà bận lòng không phải là công việc, mà chính là… thằng cháu nội yêu quý của bà! Bà mới ở được mấy tháng mà xảy ra bao nhiêu việc rắc rối.

Cháu bà tên là Hùng, nhưng gọi Hùng thì nó không thưa, mà phải gọi bằng tiếng tây. Khổ, bà méo hết cả mồm cũng không phát âm nổi tên cháu, cứ gọi lơ lớ là thằng Ô Lệch. Nhưng Ô Lệch hay Ô Cân cũng đều không đúng cả. Thằng bé hay cáu kỉnh, sửa mãi mà bà phát âm vẫn chưa chuẩn thì nó bảo „bà ngu”. Bà mách bố nó. Bố nó quát: „Không được thế”. Rồi thanh minh với bà là cháu không thạo tiếng Việt nên không biết rằng nói thế là hỗn.

Một hôm thằng bé ăn kẹo, vứt giấy ra giữa nhà. Bà nhắc nó nhặt bỏ thùng rác thì nó không chịu, lại còn phụng phịu bảo bà ngoại quan trọng hơn bà nội và doạ sang ở với bà ngoại. Bà Hiền rất bực, bảo nó cứ nhặt giấy vứt đi, rồi muốn sang ở với bà nào thì ở. Tối về bà bảo bố nó thì bố nó giải thích:

- Cháu nó vẫn còn bé, nó chưa hiểu.

- Nhưng ai dậy nó phân biệt bà nội với bà ngoại? – Bà Hiền hỏi.

- Mẹ cứ hay để ý những việc vặt vãnh. – Bình kết luận.

Hết hè, Ô Lệch bắt đầu đi mẫu giáo. Trường cũng không xa nhà. Sáng ra, bà đưa cháu đi học, 4 giờ chiều lại đón cháu về. Một hôm hai bà cháu về gần đến nhà qua chỗ ngã tư có đèn xanh đèn đỏ. Hai bà cháu qua đường rồi, bỗng nhiên Ô Lệch giở chứng, đòi bà dắt quay lại. Bà cũng chiều cháu. Ai ngờ qua lại đến ba bốn lần mà Ô Lệch vẫn không chịu về, cứ lẵng nhẵng đòi đi nữa. Bà không đồng ý thì bất ngờ nó giằng tay bà, chạy ra vũng nước gần đấy, lăn ra giẫy đành đạch, khóc ầm ầm. Bà dỗ nó không nghe, doạ cũng không sợ. Người đi lại nhìn ngó, cứ tưởng bà già định ăn thịt thằng trẻ con. Cuối cùng có hai anh cảnh sát đến. Họ xì xồ với bà thì bà chẳng hiểu gì. Một anh liền cúi xuống nói với Ô Lệch mấy câu, bấy giờ nó mới lồm cồm bò dậy. Quần áo lấm như trâu đất, nước nhỏ tong tỏng. Rồi bà khóc, cháu khóc, dắt nhau về nhà. Buổi tối bà Hiền bảo Bình thì Bình nói: „Tại cái chị giúp việc. Chúng con không có thời gian, còn chị ấy không biết giáo dục bảo ban cháu, nên nó hư”.

Lại một hôm, 11 giờ đêm rồi mà Ô Lệch vẫn ngồi xem „Vườn cổ tích” phát từ đĩa, không chịu đi ngủ. Gọi mãi không được, mẹ nó liền ra tắt máy, không cho xem. Thế là thằng bé như điên như dại, vùng dậy lật đổ cả cái bàn. Ấm chén liểng kiểng, nước bắn tung toé. Rồi nó còn định chạy ra đập màn hình vô tuyến. Bố nó kịp ngăn lại thì nó lao ra tủ quần áo, dập cánh cửa và vung chân đá. Nhưng vô phúc đá phải tủ sắt, thế là ôm chân lăn kềnh ra nhà, khóc như cha chết. Bà Hiền được một phen sợ xanh mắt. Bây giờ bà mới hiểu, tại sao đồ đạc trong nhà lại toàn bằng sắt. Thằng bé hờn, không tài gì dỗ được. Mọi người đành mặc kệ. Cu cậu khóc chán, cuối cùng cũng chỉ còn ỷ ê cố gắng kéo dài. Bà và bố mẹ tưởng là sắp thoát tội, bỗng Ô Lệch lẩm bẩm ra miệng: ‘’khóc nữa đi! Khóc to lên”! Và tiếp theo là tiếng hét ‘’á á á…” inh tai. Cuộc làm mình làm mẩy lại bắt đầu từ đầu.

- Thế này thì hỏng mất – bà Hiền than thở. - Bà cả đời chưa trông thấy đứa trẻ nào bất trị như thằng cháu nội bây giờ. Ngày xưa bà một mình nuôi dậy hai con, nhưng bà chẳng nuông chiều, chị em Bình vớ vẩn, bà cũng quại cho bỏ mẹ. Về già thì lại không bao giờ nghĩ đến việc đánh các cháu. Nhưng hôm nay bà choáng quá, bảo Bình:

- Thỉnh thoảng anh cũng phải đét cho một trận vào đít mới được, chứ không một vài tuổi nữa nó sẽ làm loạn.

- Ở đây – Bình trả lời - pháp luật cấm bố mẹ đánh con.

Cháu và con trai đã vậy. Với con dâu thì cũng mỗi người một ý. Bà Hiền – như chính bà thường nói – đã sống quá hai phần ba đời người rồi. Nhớ năm xưa ở Việt Nam, thời chị em Bình còn nhỏ, nhiều khi ăn không có mà ăn, mặc không có mà mặc, đói rách không thể tưởng tượng được. Đến đời cháu thì ngược lại, quần áo hàng đống, sáng ra không biết chọn cái nào, ăn uống thì phí phạm bừa phứa. Ô Lệch là đứa trẻ cực kỳ phàm ăn. Mẹ nó lại rất cầu kỳ trong việc chăm sóc con. Chị vẫn thường dặn mẹ chồng ở nhà phải làm cho cháu ăn cẩn thận, nào là giò, chả, sữa, pho mát, hoa quả, gà tần, chim quay, tôm rán, cháo hạt sen…

- Gớm, chỉ vẽ vời - Bà Hiền nói. – Ngày xưa tôi nuôi bố nó với bác nó, cả tháng chẳng được tý mỡ, chỉ có con cua con ốc mà chúng nó cũng lớn như thổi, chẳng bệnh tật gì.

- Ngày xưa không có điều kiện thì phải chịu - Minh nói - Bây giờ cái gì cũng có, việc gì cháu phải khổ. Mẹ cố gắng chăm chút cháu hộ con.

- Thằng này béo. Chỉ sợ nó ăn nhiều quá, sinh bệnh, chứ mẹ đâu có quản ngại gì.

- Bọn trẻ con tây nhiều đứa cũng mập, nhưng lớn lên vận động nhiều, nó gầy đi. Chế độ ăn uống của cháu là con theo sách vở và báo chí cả. Ăn uống theo khoa học thì làm sao sinh bệnh được.

Nhưng khoa học ở đâu bà chẳng biết, bà già rồi, khoa học cũng không thuyết phục nổi bà. Sợ cháu béo phì, nên ở nhà bà vẫn hạn chế khẩu phần của thằng bé. Mẹ nó lại quá thương con, thỉnh thoảng thấy con có vẻ hơi đói thì xót ruột. Buổi chiều đi làm về, chị mua túi cánh gà cay ở quán KFC của Mỹ. Ô Lệch một mình ngồi ăn vã tem tẻm một lúc hết đến năm sáu cái. Bà Hiền không vừa lòng, nhưng chẳng dám nói gì. Ăn no, bụng thằng bé phình ra, mẹ nó vỗ thì tiếng kêu bung bung như cái trống cơm.

- Mấy hôm nay - Minh nói – cháu làm sao ấy, bụng lắm ga.

- Ăn toàn chất bổ, lại ăn nhiều thì lắm ga chứ sao – Bà Hiền bảo.

Minh nói phải gọi bác sĩ đến khám. Bà Hiền bảo không cần, ‘’lắm thày nhiều ma”. Nhưng Minh không nghe. Bác sĩ đến khám, kê đơn mua cả một túi thuốc. Ô Lệch uống đến một tuần mà vẫn không khỏi. Nhưng rồi vì hàng về nhiều, Minh đi sớm về trưa, nhọc quá quên không vỗ bụng con. Một tuần sau hàng vãn, chị mới vỗ thì không thấy kêu bung bung như trước nữa. Mẹ chồng bảo vì nó ăn ít đi; nàng dâu nói, bây giờ thuốc mới phát huy tác dụng. Lời qua tiếng lại, Bình ở giữa nhiều lúc nhức hết cả đầu.


Bà Hiền ở một thời gian thì con trai đưa ra nhập hội người cao tuổi. Tiếp xúc với người nọ người kia, dần dần bà mới biết hoàn cảnh Bình khi lấy vợ. Nhà Minh thuộc loại giầu có, mẹ cô có học vị tiến sĩ và nắm trọn ‘’binh quyền” trong gia đình. Nhiều khi cãi nhau với bà, ông chồng giọng mỉa mai: ‘’Vâng, tôi thì vô học, biết gì”. Nhưng nói thế là vì giận dỗi. Ông không là tiến sĩ, nhưng có học vị cử nhân, vậy không thể nói là vô học được. Khi Bình và Minh yêu nhau, chỉ có bố vợ tương lai ủng hộ, còn mẹ vợ tương lai thì kịch liệt phản đối. Bà nói anh không có ‘’cơ bản”! Không có ‘’cơ bản” nghĩa là anh thân cô thế cô và tay trắng, chẳng có gì. Bình bấy giờ vẫn còn làm nghề kéo xe ‘’wuzek”, chở hàng thuê trên chợ. Một ông bạn của gia đình đến chơi, khuyên bà chủ: ‘’Cái chính là nó – tức là Bình - thông minh, khoẻ mạnh, chịu khó, tốt bụng, đẹp trai hơn người, toàn là ưu điểm cả. Tìm cả chợ này cũng không có đứa con trai nào được thế. Nó thân cô thế cô mới là cái hay. Lấy con ông bà, nó chẳng bám vào gia đình ông bà thì bám vào đâu? Còn nói về tiền của thì đời chúng nó còn dài. Khi ông bà bằng tuổi nó đã có cái gì, vẫn mắt toét, chân đất, đi cái xe đạp bong sơn cọc cạch, hơn gì nó bây giờ”? Nhưng ông khách cũng không thuyết phục nổi bà tiến sĩ. Bà đã nhắm cho con gái đám khác. Lý do buộc bà cuối cùng phải đứt ruột gả con chính là lập trường của con gái bà. Minh doạ, nếu không lấy được Bình thì sẽ nhẩy xuống sông Wisla tự tử. Và hổ cũng chẳng bao giờ ăn thịt con huống chi là bà tiến sĩ. Đôi trẻ lấy nhau rồi thì bà cũng tha thứ và cho con rể vay lãi một khoản tiền để có vốn. Vợ chồng Bình mua được một chỗ bán hàng và làm ăn ngày càng phát đạt. Khi chỗ bán hàng lên giá, Bình quyết định tiến một bước xa hơn: bán chỗ, lấy tiền bay đi nước ngoài đặt hàng. Và khi người ta đã gặp vận vào guồng rồi thì cứ thế mà quay. Hàng của Bình vô địch trên thị trường, nhưng có người cười bảo rằng, thế mà anh không địch nổi vợ! Bà Hiền nghe chuyện con trai lấy vợ thì ghét bà dâu gia đến xương tuỷ. Con bà như vàng như ngọc, chứ cái ngữ ấy răng thì khểnh, lưng gù gù, chân cong cong hình cung tên…, ra cái gì mà còn định không gả? Và bà Hiền ghét lây ra cả con dâu.

Một tối bà Hiền nằm ngủ, thấy có cái gì kềnh kệnh dưới đầu. Lần xuống thì rút được từ trong gối tập tiền. ‘’Không hiểu tiền ở đâu mà lại chui vào trong gối của mình”? – Bà ngẫm nghĩ mãi cuối cùng rút ra kết luận: con dâu nó thử bà! À, quân này sấp mặt, mất dậy. Ngày xưa đi làm dâu thế thì người ta chém. Cả đêm bà không sao chợp mắt được. Tinh mơ sáng hôm sau, Vợ chồng Bình vừa dậy thì bà đã làm to chuyện. Minh xin lỗi bà và giải thích, lúc cô đương đếm tiền thì có ông tây đến ghi công tơ đo điện, nên vội cất vào đấy. Bà Hiền lại càng không tin. ‘’Chả lẽ – bà nói – chị vội, còn chạy lên tầng hai, mà không vào phòng chị, lại mò vào phòng tôi, để nhét vào trong gối? Chị thử hỏi cả thế giới này xem có ai người ta nghe được không”? Cả thế giới thì chẳng rõ, nhưng con trai bà nghe được. Bình hết lời khuyên giải mẹ, đưa ra mọi lý lẽ, rằng mẹ quá nóng nấy, chứng cớ chẳng rõ ràng, Minh cũng có khuyết điểm… Cuối cùng bà Hiền cũng thôi, sau đó không bao giờ đả động đến chuyện ấy nữa, nhưng trong bụng bà vẫn cứ hậm hục, không thể nào quên.

Minh cố nhiên cũng chẳng ưa gì mẹ chồng. Một hôm đi làm về, có mời hai cô bạn thân đến chơi. Thấy nhà chẳng có ai, chồng chưa về, mẹ chồng vào giờ này phải ra trường đón cháu. Các bạn gái được dịp chuyện trò cởi mở:

- Nhà Bình có nhiều anh em không?

- Có mỗi bà chị gái sinh đôi đương ở Việt Nam.

- Bà ấy ở nhà làm ăn có được không?

- Phát đạt ra phết.

- Thế thì đỡ phải cưu mang. Nhà tao anh em chồng đông lắm, toàn những loại bần cùng khố giây. Về chơi chia cho mỗi người tý quà cũng đủ ốm, chưa nói là thỉnh thoảng phải giúp người nọ người kia.

- Chị ngu như con chó ấy! Việc gì phải giúp? Em ấy à, bố mẹ em phải đầy đủ, anh chị em em phải đầy đủ, còn lại không cần biết. Mình nắm kinh tế trong tay, quyền sinh quyền sát, sợ gì thằng nào con nào.

- Đúng thế. Tiền của nhiều, dẫu có bỏ chồng cũng thiếu gì thằng nó rửa chân cho. Cần thì khối bọn đĩ đực, bây giờ thậm chí ở Việt Nam cũng có.

- Chứ còn gì nữa. Trinh mới chả tiết, ngày xưa cứ phải giữ gìn, thật phí cả cuộc đời. Bọn con gái trẻ bây giờ chúng nó sướng.

- Về Việt Nam, chán nhất là phải về nhà chồng. Về nhà chồng, chán nhất là phải gặp mẹ chồng. Nhìn cái mặt ấy mới ghét làm sao.

- Nhà tao cũng chỉ vì mụ mẹ chồng mà vợ chồng tao bỏ nhau. Hồi mẹ con tao về nước gặp mụ ngoài đường. Thằng Hiếu mấy con Thảo định chào thì tao bịt mẹ nó miệng lại. Về nhà, tao còn nện cho một trận cho chừa.

- Đấy là các chị còn ở xa. Em đang phải ở với mẹ chồng kia kìa.

- Tao trông thấy cái mặt mụ mẹ chồng, chỉ muốn bắn cho một phát súng cho chết.

- Đúng là cựu nữ chiến sĩ công an nhân dân võ trang rõ khác.

- Chị có súng không, cho em mượn một khẩu!

- Há há há… - Cả ba người cùng phá nên cười.

Mấy cô bạn mải mê tâm sự, không ngờ rằng, trong nhà không phải chỉ có các cô! Bà Hiền hôm nay bị sốt, trước đấy gọi điện cho Bình về sớm đi đón thằng Ô Lệch. Còn mình đóng cửa nằm nghỉ trong phòng. Nghe rõ mồn một con dâu nói chuyện với các bạn thì ruột bà đau như cắt. Thế này thì hỏng mất. Người vợ đáng ra phải là hậu phương của chồng, đằng này nó lại là cái hậu hoạ. Bà Hiền chua xót, nhưng chẳng biết tâm sự cùng ai. Có nói với con trai thì con trai cũng không tin, cho là mẹ già lẩm cẩm, chấp nhặt, đa nghi. Và nó thuộc hạng người chỉ nghe vợ chứ có đời nào nghe mẹ. Nhưng xét cho cùng, con dâu là con người ta. Mình cơm nặng áo dài gì với nó mà đòi hỏi thế này thế khác. Nó yêu mình mới là chuyện lạ, chứ nó ghét mình, đối xử kiểu ấy, âu cũng là lẽ thường tình ở đời, không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu có trách thì tốt nhất chỉ nên trách con mình chẳng chuộc u mê.

Nhưng mọi sự thực ra chưa đến nỗi tệ như vậy. Minh biết mình nói hớ, từ hôm ấy đối xử với mẹ chồng và chồng cũng muốn giải toả. Có lúc quan tâm, hỏi bà Hiền: ‘’Mẹ có uống nước cam không, để con pha”? Chồng đi làm về, đương tháo giầy thì chị đon đả cầm đôi dép, đặt trước mặt. Vấn đề ăn uống của thằng Ô Lệch, cũng có nhiều nhượng bộ. Và không hiểu tại sao, thằng bé dạo này có vẻ ngoan hơn. Bà Hiền vì vậy mà cảm thấy hài lòng, mọi chuyện cũng dần dần nguôi đi. Chỉ đối với bà dâu gia thì vẫn ghét. Vả lại một bà là tiến sĩ, một bà nhà quê, cố nhiên rất khó nói chuyện. Có ngồi với nhau cũng chỉ vì chung con chung cháu.

Một hôm bà tiến sĩ sang chơi. Hai bà dâu gia ngồi uống nước ngoài phòng khách, có Ô Lệch ở đấy. Thằng bé quả là béo thật. Nó mặc cái áo phông Trung Quốc, ngồi bệ vệ trong chiếc ghế bành, bụng phưỡn ra, trông không khác gì ông Phật Di Lặc. Thấy mặt nó cứ đờ đẫn thế nào ấy, Bà Hiền lo ngại, gọi: ‘’Ô Lêch”! Nó không thưa. ‘’Ô Lệch, Ô Lệch…” - Bà hoa tay trước mặt nó gọi to hơn. Nhưng đến hai ba lần, Ô Lệch vẫn như đứa mất hồn, chẳng phản ứng gì. Bình ở tầng trên nghe thấy thì giật bắn mình, lật đật chạy xuống, hốt hoảng kêu:

- Bà bà…, bà kệ cháu. Nó mà điên lên bây giờ thì chết!

Bà tiến sĩ không nhịn được, nhếch mép cười. ‘’À – bà Hiền thấy vậy thì lộn hết cả ruột gan - mụ lại cười con cháu bà”! Rồi không kiềm chế nổi, bà đứng phắt dậy, quát:

- Thằng Bình! Tao chán cái cung điện nhà mày lắm rồi. Mai mua ngay vé cho tao về nước! Một ngày tao cũng không thèm ở!

Và mấy ngày sau, người ta thấy bà Hiền khăn gói về Việt Nam thật.

 

Trương Đình Toe

 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu