Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Marek Cybulski

18/08/2009 26 phút đọc BBT
Mùa thu 1983  Chiếc máy bay của hãng hàng không Aeroflot đưa chúng tôi bay vút lên bầu trời trong xanh. Những hàng cây ,
Marek Cybulski

  Mùa thu 1983

 Chiếc máy bay của hãng hàng không Aeroflot đưa chúng tôi bay vút lên bầu trời trong xanh. Những hàng cây , những con đường nhỏ dần trong tầm mắt và cuối cùng chỉ còn lại những tảng mây trắng bồng bềnh dưới cánh máy bay. Tôi chăm chú quan sát bởi vì đây là lần đầu đi xa bằng máy bay. Trước đây, khi được đi học đại học ở Ba Lan chúng tôi vượt biên bằng tàu hỏa. Con tàu liên vận quốc tế đã chạy liên tục 13 ngày đêm qua Trung Quốc, Mông Cổ và xuyên qua Liên Xô dài dằng dặc. Sau này mỗi khi ngủ đêm ở đâu, nghe thấy tiếng còi tàu là tôi vẫn còn giật mình tưởng tượng ra những cánh rừng bạch dương đang lướt qua bên ngoài cửa sổ.

Trong người tôi đầy ắp những cảm xúc hỗn độn, mắt thì nhìn ra ngoài cửa sổ để tận hưởng những cảnh mà trước đây chỉ thấy trong phim „Tề Thiên Đại Thánh ” nhưng đầu thì lại lâng lâng những kỉ niệm về những người thày, người bạn mà đã hơn tám năm rồi tôi chưa được gặp lại.

Khi chờ ở sân bay Nội Bài tôi đã gặp giáo sư Urbanik, một nhà toán học, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Ba Lan. Ông  vừa sang thăm và thỉnh giảng tại Hà Nội, và tình cờ chúng tôi lại cùng bay về Ba Lan. Tôi lúng búng mấy câu chào và hỏi thăm ông bằng tiếng Ba Lan mà cảm thấy lưỡi cứ cứng lại. Thật là tệ hại, tám năm không dùng đến thứ ngôn ngữ này làm tôi tưởng chừng như quên hết cả.

Sau khi đã thỏa mãn trí tò mò về những gì xảy ra dưới cánh máy bay tôi quyết định đến ngồi gần giáo sư Urbanik để thông tuyến ngoại ngữ. Giáo sư có vẻ rất hiểu tâm trạng của tôi nên ông đã nói chậm rãi và cố tình hỏi tôi về những công việc đã làm kể từ khi tốt nghiệp về nước công tác. Tôi thật không ngờ, cái máy nói trong tôi như chiếc đồng hồ được lau dầu cứ dần dần chạy trơn tru như một sự tất yếu. Qua hơn 10 tiếng đồng hồ đi cùng ông tôi đã hoàn toàn yên tâm về vốn tiếng Ba Lan của mình.

Đoàn nghiên cứu sinh của chúng tôi có 5 người thì 4 người ở lại Warszawa, chỉ có mình tôi trở về trường cũ ở Wrocław. Tôi sách vali lên tàu, lòng buồn vui lẫn lộn. Cuộc sống mới sắp bắt đầu. Bây giờ tôi đâu còn vô tư như cậu học trò 18 tuổi xưa kia. Chuyến đi nghiên cứu sinh lần này tôi có hai mục đích rõ rệt. Một là để có được tấm bằng tiến sĩ để trở về tiếp tục đứng trên bục giảng, hai là để có được tí „kinh tế” cho vợ con đỡ nheo nhóc. Khi đó, nước ta vẫn còn chế độ bao cấp, cảnh xếp hàng mua gạo, mua dầu và hình ảnh những chiếc lốp xe đạp được băng bó bằng những mảnh săm cũ nhan nhản khắp nơi. Hai đứa con tôi giống như bao đứa trẻ khác chỉ biết được mùi vị của sữa đặc „Ông Thọ” mỗi khi có dịp lễ hay ngày Tết.

Tiếng còi tàu ngân vang kéo tôi trở về với thực tại. Những cánh đồng qua mùa gặt đã được cày ải. Rừng ngả màu vàng mang đậm nét của mùa thu châu Âu. Tàu chạy qua chỗ có con đường nhựa, chiếc barie ngăn lại những chiếc ô tô Fiat nhỏ bé và cả những chiếc xe ngựa chở đầy cỏ khô. Lòng tôi xe lại nhớ về kỉ niệm những ngày tôi theo lớp học tiếng về sống ở một làng quê Ba Lan.

Đó là lúc vừa kết thúc khóa học tiếng Ba Lan (hè 1970). Chúng tôi được những người nông dân của làng Platerówka mời về chơi mấy tuần để được „phát triển khẩu ngữ”. Họ là những người lính được giải ngũ nên ao ước được đón những người con của Việt Nam anh hùng chống Mỹ. Chúng tôi được chăm sóc ăn uống, được ra đồng giúp việc giống như con cái trong nhà . Mỗi buổi chiều từ cánh đồng trở về , ai cũng thích được ngồi nghễu nghện trên những chiếc xe ngựa chất đầy rơm rạ hoặc cỏ khô. Đợt này trở lại Ba Lan tôi nhủ lòng sẽ đến thăm họ. Chắc là cô bé Ewa 10 tuổi ngày nào đã có chồng rồi. Còn ông bà cho chúng tôi ăn ở trong nhà mà thường ngày chúng tôi vẫn gọi là mama và tata chắc sẽ vui lắm.

Những kỉ niệm cứ dồn dập ập đến theo tiếng xình xịch, đều đặn của con tàu.

Tôi được một anh bạn sang làm nghiên cứu sinh trước một năm ra ga đón. Wrocław vẫn như xưa. Cái nhà ga có mái vòm cũ kĩ muôn thủa, cầu treo Grunwaldzki sừng sững uy nghiêm. Viện Hóa và viện Toán của trường đại học tổng hợp Wrocław xây dựng xong trước khi tôi tốt nghiệp một năm giờ đây đã mang dáng phong trần. Tôi bồi hồi nhìn khu nhà „Dwudziestolatka” và nhà „Parawanowiec” qua cửa kính xe taxi. Những khu nhà đã ghi dấu chân của chúng tôi qua sáu năm học tập giống như những con ngựa già nằm lặng lẽ nhai cỏ.

Nhà trường cho tôi ở tại một tòa nhà cao tầng gần cầu „Pokój” bên dòng sông Odra. Tiêu chuẩn nghiên cứu sinh nên phòng chỉ có một người, cả tầng có nhà tắm và bếp nấu ăn chung. Một bà thường trực béo tốt, có nụ cười thường trực trên môi cầm chìa khóa lên tận phòng mở cửa và hướng dẫn tôi mọi thứ rất cặn kẽ. Bà tưởng tôi chỉ nói được tiếng Anh như anh bạn vừa đưa về nên cứ vừa nói vừa ra hiệu. Sau khi thấy tôi làm một tràng tiếng Ba Lan (tất nhiên là vẫn còn chưa được trơn tru lắm) thì bà sung sướng ra mặt, tỏ ý được nói chuyện với tôi hàng ngày. Tối hôm ấy sau khi anh bạn ra về, tôi xuống phòng thường trực, vừa để xem Ti vi vừa để bắt chuyện làm quen với bà. Tôi được biết về Marek từ buổi tối hôm đó.

Một ngày sau khi tôi đặt chân đến Wrocław, Marek đã đến thăm tôi, sau khi được mẹ giới thiệu. Rất tình cờ, chúng tôi lại cùng tuổi với nhau và tốt nghiệp đại học cùng năm. Chỉ có điều là khi đó anh học đại học Bách khoa còn tôi học đại học Tổng hợp. Marek có dáng người vạm vỡ, mới ngoài ba mươi tuổi mà bụng đã phưỡn về phía trước. Cái đầu của anh lại hói sớm nên trông cứ như một ông giám đốc. Tuy vậy Marek lại thua tôi về cái khoản vợ con. Anh vẫn còn lông bông giống như cô em gái anh nay cũng đã gần 30 tuổi. Đồng niên, đồng khóa nên chúng tôi dễ kết bạn với nhau. Tôi thường rủ Marek đến chỗ hội nghiên cứu sinh chúng tôi nhậu nhẹt và ngược lại Marek hay kéo tôi về nhà bù khú rượu chè. Bà già của anh cứ gọi tôi là con, hôm nào đi làm cũng hay mang quà cho tôi, lúc thì miếng bánh gatô, khi thì đĩa cá nấu đông mà bà tự tay làm lấy. Tôi vừa rời đất nước Việt Nam nghèo nên những miếng ăn và tình cảm của bà làm tôi rất cảm động. Khi đó Ba Lan cũng đang là thời kì khó khăn do khủng hoảng kinh tế sau những năm đấu tranh của Công đoàn „Đoàn kết”. Bà già lúc nào cũng kể khổ vì phải dùng tem phiếu để mua thịt, mua đường. Cá và trứng là những thức ăn mà thời sinh viên chúng tôi lấy làm chủ đề để trêu cười mấy ông nghiên cứu sinh thì giờ đây cũng khan hiếm, phải rình rập hoặc làm quen với mấy bà bán hàng mới mua được. Dù sao, so với ở Việt Nam lúc bấy giờ thì Ba Lan vẫn là tuyệt vời.

Trong cái khó khăn chung, tôi phải vắt óc suy nghĩ để làm kinh tế, giúp đỡ vợ con. Ở Warszawa lúc này người ta đã biết „đi quần bò”, „bám thẻ đỏ”, còn chúng tôi ở nơi xa „Sứ”, xa „Soái” này thì biết làm gì? Sau một tháng tôi nhận được những gói vòng xương và những chiếc áo vải xoa do vợ gửi sang. Nhưng cái nghề buôn bán thì từ bé đến giờ tôi chưa được học. Của đáng tội, khi đang còn là thày giáo ở trường đại học, tôi cũng đã có vài lần „buôn lậu”. Ấy là vì cái bà bán thuốc lá cuốn ở cổng trường bảo tôi nên kết hợp. Thuốc lá sợi Lạng Sơn ở quê tôi nhiều và rẻ gấp năm sáu lần ở Hà Nội. Mỗi lần về thăm quê tôi chỉ cần cho dăm cân vào bao tải, vất xuống sàn tàu rồi đưa đến cho bà. Công việc luôn suôn sẻ vì cán bộ phòng thuế thấy tôi dáng vẻ giáo sư, tưởng về xin được mẹ ít gạo mang ra cải thiện nên chẳng hỏi han gì. Nay thì tôi phải buôn thật sự. Sau khi gửi chỗ mấy ông bạn có vợ Tây được một phần, tôi liều mang vòng xương đến các cửa hàng bán đồ trang sức đặt giao. Ở Wrocław ít người Việt Nam nên tôi cũng được mấy cửa hàng tiếp nhận. Tôi mang chuyện bán vòng xương, áo xoa kể với Marek. Anh hăm hở xin giúp tôi mang đi bán cho bạn bè, người thân của mình. Thế là vòng và áo của tôi theo tay Marek đi khắp nơi trên đất Wrocław thậm chí còn vượt biên đến Kraków, Szczecin. Riêng nhà Marek thì mỗi người đều có đầy đủ các chủng loại, hình hài. Hiện nay trong nhà anh vẫn còn treo một chiếc mành ốc to bằng nửa bức tường có hình chùa một cột.

Tôi chắt chiu từng đồng, ra cửa hàng vải xếp hàng để mua mỗi lần 5 m vải đen và chờ dịp ai đóng hòm tàu biển thì gửi về cho vợ. Những năm tháng ấy thuốc Tây ở Việt Nam cũng rất hiếm và đắt. Mỗi vỉ kháng sinh gửi về có thể đổi được vài cân gạo, Cho nên chúng tôi chẳng nề hà gì mà không „muối mặt” ở các hiệu thuốc. Tôi nói là „muối mặt” chẳng ngoa chút nào bởi vì mỗi lần hỏi mua thuốc là mỗi lần phải nài nỉ, phải phân trần liên tục mà cũng chỉ được 1 đến 2 vỉ (thời bấy giờ, thuốc của Ba Lan bán theo giá bao cấp và phải có đơn). Tôi lại đem những tâm sự của mình ra than phiền với thằng bạn thân. Marek không nói gi, âm thầm đi đến các cửa hàng. Mỗi lần được vài ba vỉ thuốc hay dăm mét vải là cậu lại sung sướng gọi tôi đến lấy, cứ như là vào rừng kiếm được mấy cây nấm cuối mùa thu.

 Mùa thu 1993

Tôi lại được trở lại Ba Lan vào những ngày mùa thu. Những trận gió đầu mùa đã rung cây làm những lớp lá vàng phủ đầy trên đường phố. Công viên cũng một màu vàng rực.

  Mấy đứa con tôi lần đầu tiên được chứng kiến cảnh lá vàng rơi nên say sưa quay phim, chụp ảnh và gom nhặt những chiếc lá đẹp. Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ tôi đã trở về trường công tác, và giờ đây trở lại Ba Lan với chương trình hợp tác nghiên cứu. Tôi đưa vợ con về Wrocław chào Marek và gia đình anh. Mới có dăm năm mà cuộc sống đã có nhiều thay đổi. Bà già anh người mẹ hiền của tôi đã không còn nữa. Marek và cô em gái của anh đã có gia đình riêng và mỗi người đều có một cậu con trai. Vẫn vui vẻ và nhiệt tình như ngày nào, Marek mời chúng tôi về nhà bảo vợ nấu nướng, chiêu đãi các món ăn truyền thống của Ba Lan. Một thoáng buồn trên nét mặt khi anh nói viện thiết kế máy nơi anh từng làm việc đã bị giải thể và anh phải chuyển về dạy tại một trường dạy nghề tư nhân.

- Cậu thấy đấy, kinh tế thị trường mà. Nhưng không sao, cơ bản là mình vẫn có việc làm và vợ vẫn được làm công việc nội trợ là được.

Marek vẫn uống rượu nhiều và hút thuốc lá loại nặng. Ông già anh sau mấy năm đi làm thuê ở Mỹ đã về nghỉ hưu. Ông mua tặng con trai một chiếc Traban mới. Marek tự tay lái xe đưa chúng tôi về thăm quê vợ. Đó là một làng quê xinh đẹp sát gần biên giới Đức. Bọn trẻ nhà tôi được dịp thưởng thức những món ăn dân dã, được ra vườn hái những trái dưa chuột cùng những quả cà chua chen chúc trên cây. Chúng cũng rất thích thú khi được theo những chiếc xe ngựa ra đồng giống như bố của chúng hơn hai mươi năm về trước.

Những ngày cuối tuần vui vẻ nhanh chóng qua đi, chúng tôi phải tạm biệt Wrocław để trở về với công việc. Bây giờ chúng tôi đã  bắt đầu nhập cuộc với „sự nghiệp kinh doanh” ở Warszawa. Tôi tâm sự với Marek:

- Chúng mình phải làm kinh doanh thôi, chứ cứ cán bộ lương ba cọc ba đồng mãi khổ lắm. Ở nước mình đã vậy mà ở Ba Lan cũng chẳng hơn gì.

- Mình cũng thấy kinh tế thị trường đã bắt đầu có ở khắp nơi, nhưng chẳng biết làm gì thêm bây giờ, thôi cứ sống nghèo thế này cũng được.

- Mọi người buôn bán được tại sao mình không làm được- tôi cãi lại. Năm trước mình có thời gian làm nghiên cứu ở Cộng hòa liên bang Đức mới thấy một điều xưa nay hiếm thấy ở „Hệ thống Xã hội chủ nghĩa” . Cậu biết không, giáo sư và thương nhân thành đạt được tôn trọng như nhau đối với nhà nước và cả ngoài xã hội.

- Vậy là cậu bảo mình phải từ bỏ cái chân „giáo sư” lung lay này để lắp chân thương nhân vào phải không?

- Cũng không nhất thiết phải như vậy, có lẽ chúng ta thử đi vào thời kì quá độ,  bằng cả hai chân xem sao.

Sau đó chúng tôi sống xa nhau. Kinh tế thị trường ào ạt tràn vào đất nước Ba Lan. Các chợ trời mọc ra khắp nơi. Sân vận động mười năm trở thành chợ bán buôn lớn nhất châu Âu. Siêu thị mọc nhan nhản trong các thành phố lớn, len lỏi về tận các vùng quê. Chúng tôi chỉ hỏi thăm nhau bằng các cuộc điện thoại. Marek lúc nào cũng muốn mời chúng tôi về chơi Wrocław. Nhưng hầu như chỉ có tôi là thỉnh thoảng đi về được do có những quan hệ với trường cũ, bọn trẻ thì phải học hành, còn vợ tôi thì suốt ngày chợ búa chẳng dứt ra được. Bản thân tôi cuối cùng cũng bị cuốn hút vào cơn lốc thị trường đó. Tôi ham muốn trở thành doanh nhân từ lúc nào cũng không biết. Có những lúc lương tâm cắn dứt, muốn từ bỏ thương trường, nhưng cuộc tình đa đoan này dứt bỏ đâu phải dễ. Rồi lại việc nọ dính việc kia, không thể vừa làm nhà khoa học vừa làm thương nhân được. Mỗi lần điện thoại nói chuyện với nhau, Marek lại hỏi tôi bao giờ thì bỏ buôn bán để trở về với bục giảng. Tôi thấy anh vẫn chưa cảm thông được với công việc mới của tôi nên cứ phải nói dối là đang sắp xếp. Có thể do Marek từ nhỏ đến giờ luôn được sống trong cuộc sống tuy khiêm tốn nhưng đầy đủ, công việc ổn định nên anh không cảm thấy phải thay đổi cách sống. Với anh, sự yên bình là hơn tất cả. Còn tôi, tôi đã phải đi xa hàng chục cây số để dạy thêm, kiếm tiền nuôi con. Tôi đã phải trải qua những năm tháng gạo không đủ ăn, phải về quê xin mẹ mà mỗi lần đi tàu xe phải ngồi bệt cùng với mấy bà buôn cá, buôn gà hôi hám. Tôi đã phải năn nỉ mấy em học sinh là thương binh đi xếp hàng thay để mua gạo, mua rau cho đỡ mất cả ngày cả buổi. Tôi, con người đã thấm thía với những đoạn đời mà cái danh vị hão chỉ như cánh diều đẹp bay trong gió bão. Tôi nhận thấy một điều mà Marek không thể nhận ra được đó là: Tự mình phải cứu lấy mình.

 Mùa thu 2003

 Tôi nhận được điện thoại của Marek. Anh báo tin buồn rằng anh đã xung vào đội quân thất nghiệp đang ngày càng đông đảo ở Ba Lan. Cái trường tư mà anh hy vọng làm chỗ nương thân cho đến lúc về hưu giờ đây đã phải đóng cửa. Marek bắt đầu thấy lo. Từ trước tới nay mọi khoản chi tiêu cho gia đình đều do anh đảm nhiệm. Bây giờ thất nghiệp sẽ sống bằng gì? Anh hỏi tôi như thể một sinh viên hỏi giáo sư về đề tài luận án. Tôi cũng bần thần lo lắng:

- Bây giờ chỉ còn cách làm như tớ là đi buôn, cậu có chịu không?

- Tất nhiên rồi nhưng mã tớ thì làm sao mà buôn được. Hơn nữa, bây giờ người buôn và hiệu buôn nhan nhản khắp nơi rồi.

- Cứ thử vận may xem sao, dù sao thì bây giờ sẽ càng ngày càng khó, tôi an ủi Marek.

Tôi gợi ý cho Marek các kiểu kinh doanh. Bằng những kinh nghiệm của mình tôi phân tích cho anh điều hơn, lẽ thiệt. Marek chăm chú lắng nghe không bỏ sót lời nào. Ở cái thế tuyệt vọng này có phải nhảy vào lửa cũng làm huống hồ là buôn bán. Cuối cùng Marek chọn phương án thuê một kiôt ở chợ trời trong thành phố và lên Warszawa để lấy hàng. Ngày đầu tiên tôi đưa anh đi khắp chợ „Stadion”, chỉ cho anh những chỗ bán hàng này, hàng kia, giới thiệu cho anh những chủ hàng mà tôi quen biết để khi anh đến mua thì cho anh giá rẻ. Marek cứ hết nhìn hàng lại nhìn tôi, ra chiều thán phục. Mấy nghìn złoty tiền trợ cấp thất nghiệp loáng cái đã biến thành đống hàng thập cẩm chất đầy cốp ô tô. Cả hai vợ chồng Marek hăm hở vào cuộc. Các buổi tối khi điện thoại cho tôi, anh khoe đã bán được những gì rất tỉ mỉ (cứ làm như tôi là phản biện cho anh). Thế là đều đặn hai tuần một lần chúng tôi gặp nhau ở chợ „Stadion”. Mừng cho anh đã ổn định với công việc và đã bắt đầu có thu nhập, tôi cấp thêm vốn cho anh để mở rộng mặt hàng, những mong anh thành đạt.

Nhưng cuộc sống thật không đơn giản. Thị trường tự do từ khi Marek bước chân vào đã xảy ra cạnh tranh khốc liệt. Kể cả những người buôn bán sừng sỏ bây giờ cũng có khi thua lỗ. Ở chợ „Stadion” chuyện bùng hàng xảy ra như cơm bữa. Những người Việt Nam buôn bán đã tính chuyện ra về. Marek ngồi trên lưng hổ, anh bông đùa với tôi là tư bản đã bắt đầu giãy chết. Những câu chuyện điện thoại bây giờ chỉ là những câu than phiền về hàng hóa ế ẩm, tiền bán hàng cả vốn lẫn lãi không đủ trả tiền czynsz kiôt. Sự nghiệp kinh doanh mới đi được hơn nửa năm trời, một hôm Marek buồn bã gọi điện cho tôi:

- Tháng tới mình không buôn nữa, càng bán càng lỗ cậu ạ.

Tôi đã hiểu hết tình đầu và cũng không thể khuyên anh được điều gì hơn. Cái nghề buôn bán này là như thế, ngoài cái tâm còn phải có cái đầu. Mà đối với anh thì những kiến thức về buôn bán như cây còn non nớt lại đứng vào ngay thị trường đầy gió to bão lớn.

- Thôi được, tùy cậu, thế cậu định làm gì để sống tiếp.

- Mình sẽ đi xin việc, làm gì cũng được dù là dọn dẹp, khuân vác hay giẫy cỏ ở công viên.

- Cũng khó đấy, vì cậu đã ngoài 50 tuổi rồi, không biết có nơi nào nhận cho không? Còn số hàng tồn mang lên đây mình gửi bán hộ.

 Mùa thu 2005

 Tôi có chút việc phải về Wrocław  nên gọi điện trước cho Marek, báo sẽ ghé qua thăm anh. Chuyến tàu về đến ga chính đúng như dự kiến. Mới khoảng 18 giờ mà trời đã nhá nhem tối. Đường phố lấp lánh ánh điện, loang loáng trong làn mưa phùn ẩm ướt. Wrocław vẫn bình lặng, cuộc sống không ồn ào, hối hả như ở Warszawa. Những chiếc tàu điện với dáng dấp cũ kĩ đã mấy chục năm không thay đổi đường chạy. Tuy vậy,  tôi vẫn gọi một chiếc taxi cho an toàn. Chiếc xe cũ, hiệu Renaut chạy giật giật đưa tôi qua khu trung tâm với những siêu thị mới mọc lên, chen lấn, không đồng bộ với những dãy nhà cũ kĩ.

Khu nhà Marek ở có lẽ là một khu cổ nhất Wrocław không chỉ bởi màu đen kịt của bụi bám lâu năm mà còn bởi kiến trúc đặc trưng của thế kỉ 19. Tôi đang định đưa tay ấn vào số của Domofon thì thấy cánh cửa đã mở sẵn. Chiếc cầu thang gỗ dẫn lên gác hai mòn vẹt, chỗ giữa lõm vào như hình lưỡi liềm. Nghe tiếng chuông cửa, vợ Marek vui vẻ chào tôi. Chị có cái mặt lúc nào cũng tươi, có duyên, chỉ tội thân hình to béo quá nên đi lại lúc nào cũng bập bạch. Vốn sinh ra ở miền quê, lớn lên đi học nghề thợ may nhưng rồi lại phải bỏ nghề vì theo chồng về thành phố. Hai vợ chồng Marek thuộc typ người ưa sống trong chế độ bao cấp. Từ ngày về sống cùng chồng chị rất hài lòng với việc nội trợ và nuôi dạy hai đứa con. Cho nên từ khi phải dẹp bỏ cửa hàng và Marek không thể xin được việc làm thì chị rất buồn vì phải trở lại cái nghề cũ. Chị đi làm cả tuần, chỉ trừ ngày chủ nhật cho một xưởng may tư nhân. Cả tháng trừ tiền bảo hiểm được cầm tay hơn bốn trăm złoty. Tôi hỏi thế sao đủ sống, chị cười : Thì có gì ăn nấy chứ biết làm sao.

Có tiếng chìa khóa tra vào cửa kêu lạch kạch. Tôi đoán Marek đã về. Khi điện cho anh tôi đã nói không cần phải ra ga đón, nhưng anh vẫn cứ đi thành thử không gặp nhau ở ga. Những lần về Wrocław trước đây lúc nào Marek cũng mang ô tô ra ga đón tôi. Nhưng bây giờ chiếc Traban của anh đã nằm bẹp một chỗ. Chiếc xe thời Đông Đức thường xuyên hỏng hóc cộng với số tiền đóng bảo hiểm mỗi năm mấy trăm złoty đã đưa anh đến quyết định không dùng nó nữa. Marek bước vào, thở hổn hển như người vừa dừng lại sau cuộc chạy việt dã. Anh chào tôi mà thở chẳng ra hơi. Tôi chờ một lát mới hỏi được anh sao lại đến nông nỗi này. Phải mất thêm ba phút nữa, sau khi hít vào mũi một loại thuốc trợ giúp gì đó Marek mới hoàn toàn hồi phục và kể chuyện cho tôi nghe. Cái bệnh tim của anh tôi đã biết từ lâu nhưng bây giờ lại phát sinh ra bệnh phổi nên chỉ cần leo lên mấy bậc cầu thang là anh đã phải thở dốc. Đúng là „họa vô đơn chí”. Tôi còn nhớ khi bắt đầu thất nghiệp anh xăng sái đi hỏi khắp nơi để kiếm việc. Anh đọc báo tìm ra rất nhiều địa chỉ, sau đó chỗ xa thì viết thư, gọi điện thoại, nơi gần thì phóng xe đến. Mấy năm ấy anh chưa bị đau yếu như bây giờ nhưng nhìn thấy thân hình già nua và tuổi tác của anh cộng với cái bằng kĩ sư (sợ phải trả lương cao) nên chẳng đâu muốn nhận. Bây giờ lại thêm bệnh tật nữa. Người anh vẫn to béo, phốp pháp nhưng thật yếu ớt chẳng khác gì ông Baowan bằng tuyết. Từ đầu năm nay, anh đã hết hy vọng xin việc làm nên đi khám xét, giám định để xin trợ cấp mất sức. Anh lôi từ tủ ra cả một đống chứng từ, các bảng biểu phân tích máu, nước tiểu, các biểu đồ đo tim, não, các tấm phim chụp phổi, đường tiết niệu và cột sống . Bác sĩ đã liệt kê ra trong anh có tới 18 thứ bệnh trong đó nặng nhất là bệnh hen xuyễn, bệnh động mạch vành, viêm đường tiết niệu và viêm cột sống. Tôi hỏi đơn xin trợ cấp đã được chấp nhận chưa? Anh cười méo mó: Bị bác đơn rồi, mình đang kháng đơn.

- Mình không hiểu sao họ lại có thể từ chối đối với cậu?

- Tự mình cũng không thể hiểu được. Đến lúc bị bác đơn mình mới chợt hiểu hình như phải có lót tay thì bác sĩ giám định mới cho qua. Nhưng mình không thể làm như thế được.

Tôi gật gù. Quả thật Marek nghèo quá, tiền ăn còn chưa đủ, tiền nhà còn nợ cả đống ra kia làm sao mà có tiền lo lót. Những giọt nước mắt lăn trên má tôi tự lúc nào. Tôi nhìn hai đứa con anh, chúng còn nhỏ quá, biết bao giờ mới đi làm để giúp đỡ bố mẹ được đây. Mấy năm qua, cứ mỗi dịp lễ tết tôi lại mượn cớ gửi quà cho các cháu bằng những khoản tiền nho nhỏ những mong giúp vợ chồng anh giải quyết được phần nào những khó khăn. Tôi hỏi dò:

- Thế cần bao nhiêu thì „lo” đủ?

Marek biết ý nên nói giọng gay gắt:

- Tất nhiên là phải đến vài nghìn złoty, nhưng tớ quyết chẳng bao giờ làm việc đó. Mình nghèo thật và bệnh thật, cứ đưa đơn mãi chắc sẽ được.

Đêm hôm ấy Marek xếp cho tôi ngủ trên chiếc đệm đặt ngay trong phòng ngủ (và cũng là phòng khách) của nhà anh. Căn phòng thứ hai trước đây hay để cho khách ngủ bây giờ lạnh lẽo vì phải tiết kiệm điện sưởi. Buổi sáng sớm tôi thấy vợ anh đi làm phải rón rén đi qua chỗ tôi nằm.

Sau khi gói đồ ăn cho bọn trẻ đi học, Marek dọn bữa ăn sáng cho tôi. Anh vẫn cố gắng bày biện trên đĩa vài ba lát xúc xích mỗi loại, hai miếng cá rán tẩm bột (cá do cậu con trai đi câu được buổi chiều hôm trước) và hỏi tôi uống nước chè hay cà phê. Tôi không muốn làm phiền anh đành ăn uống qua loa rồi xin phép đi giải quyết công việc. Với đôi mắt đượm buồn anh hỏi:

- Xong việc cậu có quay lại đây nữa không?

- Có lẽ mình phải về Vác ngay cho kịp chuyến tàu chiều. Xin hẹn cậu dịp khác ta lại gặp nhau nhé.

- Cậu thì lúc nào cũng bận rộn với công việc. Noen này có đưa vợ con về đây chơi với chúng mình mấy mgày không?

- Mình chưa kế hoạch được, có gì sẽ gọi điện cho cậu sau.

Trong khi tôi đi giầy, mặc áo khoác, Marek lặng lẽ mang ra hai cái túi, một cái đựng hai gói gạo to và một cái đựng mấy gói sữa bột.

- Cậu mang về làm quà, đây là những thứ hội chữ thập đỏ trợ giúp cho nhà mình tuần trước. Nhà mình ít ăn gạo lắm còn sữa bột chỉ để làm bánh thôi nên không cần nhiều.

Tôi bàng hoàng, xúc động. Marek thật chu đáo và bao giờ cũng dành cho tôi những tình cảm hơn cả anh em ruột thịt. Làm sao tôi lại có thể đành lòng để cầm những món quà mà xã hội đã dành cho gia đình anh nên tôi phải từ chối với lí do là còn đi giải quyết công việc nên không mang theo được. Marek đành phải nhận lại nhưng lại giãy nảy lên khi tôi giúi vào túi áo anh mấy trăm złoty.

- Mình còn nợ tiền cậu mà lại cứ nay cho, mai cho. Mình không dám nhận đâu.

Tôi gượng cười, bảo Marek đó chỉ là thêm tiền thuốc men cho anh và không phải suy nghĩ gì về những chuyện ấy. Rồi chúng tôi ôm nhau chia tay. Tôi khép cửa nhanh để khỏi phải nhìn lâu vào mắt anh, sợ cả hai cùng òa khóc.

Warszawa tháng 11/2005Xuân Nguyên

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu