Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Bạn

17/09/2009 32 phút đọc Xuân Nguyên
Chúng tôi quen biết nhau từ những năm đầu của thập kỉ 90. Mọi người gọi cậu ấy bằng cái tên đầy đủ: Mohamet-Tomasz.
Bạn

Chúng tôi quen biết nhau từ những năm đầu của thập kỉ 90. Mọi người gọi cậu ấy bằng cái tên đầy đủ: Mohamet-Tomasz. Tôi thích gọi cậu bằng cái tên thân mật: MT. Ngược lại, MT không thể đọc nổi cái tên có dấu ngã của tôi nên chỉ gọi tôi theo họ. Cái tên (thực ra là họ) được phát ra thành 2 âm T+rân làm cho MT rất thích thú. Thời gian đó tôi thường đến hurt của MT lấy hàng về chợ Sân Vận Động bán. Có một lần, khi vừa đến hurt thì đã có một người đồng hương của tôi đứng chỉ trỏ vào các thùng hàng áo len vừa được dỡ xuống từ xe Tia, đang nằm lổn nhổn khắp nơi. Tôi đang sung sướng vì thấy hàng của MT về lần này có mẫu mã và mầu đẹp hết xẩy thì được người đồng hương cho biết là anh ta đã mua hết để đưa sang Nga. Tôi buồn rầu chạy vào hỏi MT tại sao báo cho tôi đến lấy hàng mà nông nỗi lại như vậy. MT phân vân vì anh chàng kia cũng là khách ruột của cậu ấy. Tuy nhiên, sau đó thì cậu ấy đã giải quyết bài toán đúng kiểu con nhà nòi về buôn bán, nghĩa là ai cũng có phần, nhiều ít phụ thuộc vào lượng hàng đã đặt. Từ đó chúng tôi chơi rất thân với nhau. Ngoài chuyện ưu ái trong buôn bán, chúng tôi thường mời nhau đến nhà chơi trong những dịp nghỉ lễ, ngày tết. Tôi thích món cà tím nướng theo kiểu Thổ và nườc chè đen thường bao giờ cũng được rót ra những ly thủy tinh nhỏ. Nước chè Thổ có vị đậm đà và mùi hương thoang thoảng, đã uống một lần chẳng thể nào quên. Vợ chồng MT khi đến nhà tôi thì bao giờ cũng thích món nem rán và lạc rang húng lìu để uống rượu. Sau cùng là một bát phở bò nhỏ nhưng phải đủ các gia vị của hồi, quế và hành nướng.

   Bây giờ MT đang là chủ tịch hội đồng quản trị của một trung tâm thương mại lớn. Còn tôi vẫn là một anh chàng đứng bên quầy, hàng ngày tươi cười chào hỏi những vị khách quen, đếm hàng và chở hàng ra xe ô tô cho họ. Tất nhiên chỗ đứng của tôi cũng nhờ có MT mà được ấm cúng, đàng hoàng hơn, cơ thể tôi không bị gió rét tàn phá.

   MT là con thứ ba trong một gia đình quốc tịch Đức, gốc Thổ Nhĩ Kì. Anh có hai đứa con. Con gái đầu đã học xong đang làm việc bên Mỹ, còn cậu thứ hai được sinh ra trên đất Ba Lan thì đang học trường quốc tế ở Warszawa.

   Tôi nhớ có một lần đọc ở đâu đó một câu nổi tiếng của một nhà văn: „Đằng sau mọi tài sản lớn đều là tội ác”. Đem áp dụng câu nói này vào trường hợp của MT tôi đâm nghi ngờ về giá trị của câu văn đó. MT có khuôn mặt rất hiền, sáng sủa. Bộ râu quai nón bao giờ cũng cắt tỉa chu đáo. Từ giọng nói đến cách đi đứng của MT luôn toát ra thể chất của một con người đàng hoàng, lịch thiệp. Trong công việc kinh doanh, do hai người ở hai vị thế khác nhau nên tôi cũng không biết MT có lường gạt hay cạnh tranh không lành mạnh với các đối tác hay không. Còn đối với tôi và những người bạn tôi, đã từng buôn bán với MT, đều được đối xử đẹp và chu đáo. Có lần khi nghe tôi nói Ban từ thiện Việt Nam đang quyên góp tiền ủng hộ đồng bào bị lũ lụt trong nước, MT đã đòi gặp bằng được Ban từ thiện để xin được đóng góp chút đỉnh. Anh nói, có được đức tính này là do bố mẹ anh truyền lại.

   Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nước Đức bại trận. Một phần ba lãnh thổ được bảo lãnh bởi quân đội Liên Xô và hai phần ba còn lại mang tên Cộng hòa Liên bang Đức. Chiến tranh đã để lại cho nước Đức nhiều thành phố và làng quê tan hoang. Chính quyền CHLB Đức phải tuyển mộ các lực lượng lao động nước ngoài. Trong số những cư dân xuất khẩu sang Đức lao động hồi ấy nhiều nhất là dân Thổ. Trong bối cảnh nền kinh tế tư bản đang dần được hồi phục, nhiều chợ trời đã mọc lên để đáp ứng nhu cầu về ăn, mặc và phương tiện sản xuất cho người dân. Tại khu Tiegel của Tây Berlin một khu chợ rất lớn đã xuất hiện với hàng nghìn người Thổ tham gia buôn bán. Sự lớn mạnh và thành công của chợ trời Tiegel gắn liền với sự thành đạt của nhiều gia đình người Thổ, trong đó có gia đình của ông bà Ephend – bố mẹ của MT.

   Ông Ali Ephend vốn là một cử nhân được nhà nước Thổ Nhĩ Kì đưa sang Đức tu nghiệp để trở thành doktor giỏi. Năm 1950, sau khi đã bảo vệ xong luận án, định khăn gói về nước thì ông gặp một người bà con từ Thổ mới qua. Từ đó ông được biết kinh tế trong nước đang còn yếu kém lắm, giáo sư các trường đại học còn phải đi kiếm việc làm thêm bằng lao động chân tay để nuôi con. Trong khi đó, đồng lương giáo sư của Thổ không bằng đồng lương anh công nhân xây dựng ở Đức. Bấy giờ nước Đức thiếu lao động nên việc nhập cư, xin quốc tịch rất dễ. Người bà con của Ali sau ba tháng đã xin được định cư bèn rủ Ali ở lại buôn bán. Vốn thông minh, tiếng Đức giỏi lại có thâm niên hơn ba năm sống ở đây nên Ali dễ dàng nhập cuộc vào „con đường tơ lụa” từ Thổ qua Đức. Công việc buôn bán ngay từ đầu đã suôn sẻ làm cho ông yên tâm khước từ những hứa hẹn của trường Đại học Istambul.

   Những người lao động trong các nhà máy bỏ ra chợ buôn bán ngày càng nhiều. Ali móc ngoặc được với ông chủ chợ cho thầu hơn một trăm quầy hàng chạy dọc bờ sông. Nói là quầy nhưng thực ra chỉ là những ô nhỏ chừng 15m2 được ngăn cách bởi những tấm tôn cứng trong dãy nhà cũng lợp mái bằng tôn và được chống đỡ bằng những thanh sắt chữ U. Sau chiến tranh, những vật liệu này rẻ lắm. Mỗi quầy, riêng khoản xây dựng Ali thu lời từ 5 đến 7 nghìn DM.

   Người buôn từ các nơi tấp nập về cất hàng. Những năm đầu, hàng gì cũng bán được. Mỗi container hàng về chỉ vài ngày đến một tuần lễ là tiêu hết. Sau 3 năm Ali đã có tiền dư dật. Bước ngoặt đầu tiên của cuộc đời ông là lấy vợ. Bà Ephend vốn là một cô gái xinh đẹp, nết na, làm việc ở xí nghiệp dệt may Gesen. Thấy việc buôn bán ở chợ trời thuận lợi bà đã bỏ nhà máy ra  làm một đầu mối tiêu hàng cho Ali. Khi ấy, các chàng nghiên cứu sinh, thực tập sinh vừa đi học vừa đi buôn sáng giá lắm. Vậy nên, nhiều đôi uyên ương đã xây tổ ấm nhờ quan hệ buôn bán này. Sau khi lập gia đình, Ali để cho vợ quản lí phần hàng hóa giao bán trên chợ và trở về Thổ xây dựng một nhà máy sản xuất áo len. Theo ông, nước Đức là nơi trung chuyển hàng hóa tốt nhất cho vùng Tây và Bắc Âu, cái vùng mà ba phần tư thời gian trong một năm phải dùng đến đồ len dạ. Từ đó áo len của nhà Ephend với thương hiệu Erker đã có mặt khắp nơi mà đầu mối bán buôn của nó chính là chợ Tiegel.

   Ali trở thành nhà tư bản lớn trước sự khâm phục của bạn bè. Tuy vậy, ông không bao giờ tỏ ra kiêu căng, hợm hĩnh. Những người đồng hương thuê quầy của ông và bán hàng cho ông đều được ông chăm lo chu đáo. Ông lập ra quỹ từ thiện ( chủ yếu là tiền của ông và cho con gái ông đứng tên) để xây nhà thờ, giúp đỡ những người bị tai nạn, ốm đau hay bị mất cắp hàng hóa.

   Trong cái chợ Tiegel lúc bấy giờ hầu như các ông chủ lớn đều là người Thổ. Cánh nhà Shaton quản lí, thu tô từ các dịch vụ ăn uống. Mấy anh em nhà Matakhan thì chăn dắt các sòng Casino và các quầy bán đồ mác mỏ đểu. Có những „ông chủ” chuyên lo về kho tàng, vận chuyển hàng hóa. Nhiều kẻ chẳng phải có học thức nhưng do liều lĩnh và làm bừa cũng trở thành những trọc phú giàu có. Những thói huyênh hoang, lừa gạt, đểu giả không thiếu ở cái chợ trời này. Hàng hóa ở chợ thì thật đa dạng, thượng vàng hạ cám cái gì cũng có. Đến chợ Tiegel người ta có thể mua được những chiếc mũ lính thời Napoleon, huân chương của Sa Hoàng hay những chiếc rìu của người da đỏ. Khách du lịch từ Ba Lan, Liên Xô sang, chỉ cần đứng ở lối đi, vắt tay mấy cái mũ lông, đôi giày hay con búp bê cũng bán được hết. Kẻ nhiều tiền thì về đây cất hàng, mua đồ cổ, người ít tiền thì tìm mua những đồ giá rẻ, vừa túi của mình. Cho nên những ngày chủ nhật chợ đông đến nỗi len chân không nổi.

   Tiegel càng trở nên sầm uất thì các tệ nạn xã hội như buôn lậu, cờ bạc, đĩ điếm, trấn lột cũng ngày một nhiều lên. Giữa thành phố Berlin văn minh, hiện đại nó như một cái ung nhọt làm cho chính quyền cảm thấy nhức nhối. Nhưng cũng phải đến 20 năm sau nhà nước Đức mới đủ sức xóa sổ cái chợ đó ( Khi nước Đức đã thống nhất – năm 1991, chợ Tiegel vẫn còn nhưng nhỏ lắm. Đến đó người ta có ý đi chơi chợ hơn là để mua sắm). Sau khi dẹp chợ Tiegel nhng chủ buôn bán người Thổ rủ nhau chuyển đến một khu phố mới. Từ đó hình thành một phố Thổ với những cửa hàng lớn, buôn bán đàng hoàng. Siêu thị len dạ lớn nhất trên phố này là của công ty Erker.

   Công ty Erker có hàng nghìn công nhân nhưng mãi đến những năm 80 ông bà Ephend mới có người kế nghiệp. Người con trai cả của ông bà học trường kinh tế nhưng theo chuyên ngành tài chính ngân hàng nên sau khi tốt nghiệp đã đến Franfurt làm việc cho một công ty tài chính lớn. Cô con gái thứ hai thì có năng khiếu âm nhạc nên sau đó đã theo hẳn ngành nghệ thuật, chỉ lo đi biểu diễn Piano khắp nơi trên thế giới. MT đã có lần cho tôi hay rằng, khi anh còn nhỏ, có ông thầy bói đã xem quẻ và quả quyết rằng sau này anh sẽ là một ông chủ giàu có hơn cả bố anh. Nhiều người trong gia đình anh cũng tin như thế bởi lẽ khi anh vừa lọt lòng thì có một ngôi sao trên trời lóe sáng, đó là năm mà người Trung Hoa gọi là năm Khỉ Vàng. MT đã theo lời khuyên của bố mẹ theo học chuyên nghành quản trị kinh doanh và sau đó trở thành một nhà buôn của dòng họ Ephend. Đúng vào lúc MT đã chững chạc trong vai trò một ông chủ thì thị thường tự do ở Đông Âu mở cửa. Những conteiner hàng áo len Erker từ Thổ qua Ba Lan, rồi lại từ Ba Lan đi tới các vùng của Đông Âu không biết bao nhiêu mà kể.

   Đến giai đoạn này thì không cần MT kể tôi cũng biết những gì đã xẩy ra với mặt hàng áo len Erker của cậu ấy. Bây giờ ngoài khu chế xuất len dạ rất lớn ở Thổ, MT còn là chủ nhiều tòa nhà khách sạn sang trọng ở Đông Âu. Trung tâm thương mại MOTIMA ở Warszawa chỉ là một phần tài sản của nhà Ephend.

   Hôm nay MT mời tôi đến nhà nói chuyên gẫu cho vui. Thực tình thì cậu ấy cũng có chút bức xúc về cái chuyện biểu tình của những người buôn bán ở trung tâm thương mại bên cạnh. Cái chuyện biểu tình, đình công ở nơi này, nơi kia trong thế giới tư bản thì MT có lạ gì. Ngay như  bên nhà máy của cậu ấy chuyện đó cũng đã nhiều lần xảy ra. Tuy vậy, những người buôn bán ở đây biểu tình đòi không được tăng tiền czynsz thì MT thấy không ổn .

   Sau khi dạ dày đã được chất đầy đến hai phần ba món thịt bò thăn nướng cùng món cà nướng và ớt nướng, salat trộn với dầu ô liu và những ly rượu Martini đặc trưng của vùng Địa Trung Hải thì câu chuyện mới được bung ra. MT lên tiếng trước: „Tại sao họ lại làm một chuyện ngu ngốc thế, buôn bán đang bình yên bỗng nhiên làm cho các cơ quan chính quyền để ý đến. Cậu tưởng khi mọi chuyện bung ra, nội bộ nói xấu lẫn nhau thì chính quyền để cho chúng ta yên à?”

   Tôi chưa hiểu cái từ yên bình mà MT nói đến thuộc khía cạnh nào. Chợ búa thì bao giờ chả đối xử với nhau theo kiểu chợ búa. Chính quyền để cho họp chợ tức là họ cũng muốn có cái chợ ở địa phận mình, có lợi cho cả hai phía. Họ thích cho yên thì được yên, còn không thích cho yên thì thiếu gì cớ, đâu phải vì chuyện biểu tình, chống đối lẫn nhau. MT thấy tôi suy nghĩ mà không nói gì thì lại tiếp tục: ” Cậu thử nghĩ coi, chợ có tốt thì giá quầy mới lên chứ. Mà một khi đã bán hàng tốt, có lãi nhiều thì tiền czynsz tăng lên có ảnh hưởng là bao”. Tôi bình tĩnh giảng giải:

- Đúng là ở trung tâm này người ta bán hàng tốt hơn hoặc trước đây bán tốt hơn ở các trung tâm khác thật. Nhưng mà cậu có biết không, những năm đầu khi chưa thành chợ, những người dũng cảm vào ngồi ở đây đã phải chịu thiệt thòi bao năm trời. Những người vào sau tuy được lợi thế là chợ đã sầm uất thì lại phải chịu giá sang tay ngất ngưởng, vài năm buôn bán chắc gì đã hoàn lại được vốn.

   Tôi lấy giấy bút ra thống kê cho MT những con số về giá quầy, tiền sang tên, tiền đặt cọc rồi sau đó là tiền czynsz hàng tháng. Đáp số cuối cùng cho thấy là mỗi ngày một quầy phải có được bao nhiêu tiền lãi, và với lãi suất như chúng tôi bán hiện nay thì phải tiêu được bao nhiêu thùng hàng. Đấy là chưa kể những rủi ro khi phải bán chịu cho khách hàng. Thời buổi này khách bùng hàng, khách nợ hàng mất tăm xảy ra như cơm bữa. Rồi còn „đô” lên, „đô” xuống nữa chứ. MT nhìn vào những con số cứ trợn tròn mắt ra. Bây giờ cậu ấy mới hiểu được tại sao mà những người buôn bán trực tiếp cứ phải vất vả từ sáng sớm đến tối ngoài chợ, muốn nghỉ một tuần để đi du lịch cũng khó vì sợ mất khách, vì sợ thu không đủ chi. Cái lưới vô hình cứ ôm chặt lấy chân họ, cột họ vào quầy hàng, giống như vay nợ của ngân hàng, buổi sáng mở mắt ra đã thấy mình mất đi số tiền lớn nếu ngày hôm nay không kiếm ra được.

   MT vẫn chưa chịu. Sau khi rót thêm cho mỗi người một ly rượu, cậu ấy đặt tay lên vai tôi rồi nói: „ Thôi thì cứ cho những điều cậu nói là đúng sự thật. Thế thì tại sao họ không sang tên quầy đi với giá cao để sang những chỗ khác, giá quầy rẻ hơn mà tiền czynsz lại thấp hơn?”. Tôi cảm thấy bực mình với những lời ngu xuẩn của MT. Có lẽ do cậu ấy sinh ra đã được làm ông chủ rồi nên không thể tính được bài tính của những người làm thuê. Và bây giờ nếu giải thích cho cậu ấy theo nội dung câu châm ngôn của Việt Nam rằng: „Của rẻ là của ôi, của đầy nồi là của không ngon” thì sẽ mất nhiều thời gian lắm mới làm cho cậu ấy hiểu được. Thấy tôi ngồi im, MT uông hết ly rượu rồi giục tôi trả lời. Tôi bèn lấy thí dụ về việc chơi chứng khoán để cậu ấy dễ hiểu. Tại sao có những mã chứng khoán có giá vài trăm đô la mà người ta vẫn mua, trong khi với số tiền tương đương có thể mua được số lượng nhiều hơn mã chứng khoán rẻ chỉ vài đô. Vấn đề là người chơi chứng khoán luôn nhận thấy (hoặc cảm thấy) sự sinh lợi từ cái cổ phiếu mà mình đang mua. Cuộc chơi này ai cũng biết có nhiều rủi ro nhất. Người chủ sàn chứng khoán đều biết những người chơi chứng khoán có lúc hốt bạc nhưng cũng có những lúc cháy túi. Cho nên không vì thấy người chơi đang hốt bạc mà họ tăng tiền dịch vụ của mình lên cao và nói rằng anh đang thắng thì cũng phải cho tôi một tí chứ. MT cũng phải thừa nhận với tôi rằng chợ chứng khoán chỉ hoạt động hoàn toàn theo quy luật thị trường. Sự gắn bó giữa những người điều hành sàn chứng khoán và những người buôn bán chỉ là những dịch vụ chu đáo và cung cấp thông tin đầy đủ. Còn ở chợ này, người thuê quầy và chủ quầy còn có một sự gắn bó về tình cảm và nghĩa vụ. Từ khi trung tâm mới mở ra, những người thuê quầy đã đóng góp cả về tinh thần lẫn vật chất để nó thành chợ. Bây giờ khi chợ đã ra chợ rồi thì cần coi nó như thành quả chung của mọi người thì mới phát triển bền vững được.

   MT im lặng. Sự im lặng kéo dài đủ thấy cậu ấy đã có phần đuối lí. Tuy vậy, cái máu ông chủ vẫn hằn rõ trên nét mặt. MT xoa dịu không khí, rằng cậu ấy luôn sống có tình, có nghĩa, luôn giúp đỡ người nghèo. Dù Sao, vấn đề tiền tăng czynsz vẫn là cần thiết khi chợ đã phát triển và để đảm bảo quyền lợi cho giới chủ.

- Mình nghĩ rằng những người thuê quầy không quen với việc bị cắt xén túi tiền của họ thôi, chứ nếu như họ không trụ được thì tại sao họ cứ bám lấy chỗ đó, có ai bắt họ phải buôn bán ở đó đâu.

   Tôi cảm thấy men rượu đã ngấm sâu vào máu, Không khí trong nhà ngột ngạt, khó thở. Cả hai cùng cảm thấy phải ra ngoài ban công để hút thuốc. Bầu trời mùa hè đầy ắp sao đêm. MT nói một câu buông thả: „Cảnh đêm ở đây thật ngoạn mục, có lẽ do trăng rằm đêm nay sáng quá”. Tôi ngao ngán ngắm nhìn bầu trời, thương cảm cho những ngôi sao li ti đang lung linh, lấp lánh mà chẳng được ai ca ngợi hay đưa vào những áng thơ hay. Có thể chăng là tại chỗ đứng của chúng mà người ta cảm thấy chúng mờ nhạt, xa xôi và nhỏ bé. Chúng chỉ được coi là những gì bổ xung, tôn tạo cho bầu trời rực rỡ trong ánh trăng rằm.

   - MT ơi, có bao giờ cậu để ý đến bầu trời mùa đông, khi nó bị những đám mây đen giăng giăng che phủ? Cậu có để ý khi đó mặt trăng cô đơn, đôi lúc bươn được ra khỏi những đám mây, hắt xuống không gian những tia sáng lạnh, lạnh đến ghê người?

Xuân Nguyên

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu