Máy bay cất cánh khỏi sân bay Okecie - Warsaw. Ngồi trên máy bay, tôi cứ nhâm nhi cái cảm giác mà mình có được 10 ngày ở xứ sở Bạch Dương, đất nước đã sản sinh ra nhà thơ vĩ đại Adam Miskiewicz, thiên tài âm nhạc Chopin (Sô – panh)... Lạnh lắm, cái lạnh được nhân lên bởi những cơn mưa thay nhau rơi không dứt. Nhưng sao tôi không thấy lạnh. Tôi được sưởi ấm bởi tấm lòng bà con người Việt mình nơi xa xứ.
Trước khi đi Paris, bạn bè nói với tôi “Đã đi sang Pháp thì tranh thủ đi vài nước mà chơi. Vào được Pháp là đi được nhiều nước lắm đấy. Tranh thủ đi, chả mấy khi”. Ôi chao! Nghe thì đơn giản và cũng thấy thích, nhưng tôi có ai là người thân ở các nước đâu để mà đi. Hơn nữa, vốn “tham công tiếc việc” nên không có thời gian để “bổ túc” tí ngoại ngữ cho tiện giao tiếp. Mười ngày tôi ở Montpellier là mười ngày ra vào cơm nước cho con trai đi học. Cháu học phi công ở học viện hàng không Esma tại Montpellier. Thỉnh thoảng cũng được cháu cho lên thành phố Montpellier tham quan. Người đi lại mua sắm đông lắm. Tôi cố tìm xem có bóng dáng người “mình” để “vồ” lấy mà trò chuyện không? Nhưng chẳng thấy. Chả thế mà ở Việt Nam nhà nào có con đi du học hay có người thân ở nước ngoài mà được mời sang chơi thì “chẳng có ai bằng”. Nhưng đi một lần rồi, chắc chẳng muốn nữa đâu. Cứ cái cảnh như tôi thui thủi ở nhà một mình từ sáng tới tối. Con đi học về mới có người trò chuyện thì quả thật khó “dám” lần thứ hai.
Tôi sang Ba Lan thăm anh chị Thành – Dân, người quen của tôi. Anh chị sống ở Ba Lan đã lâu năm. Cũng ngoài sự chuẩn bị của chuyến đi. Tôi xin được số phone của anh và thông báo cho anh chị lịch đi - ở của tôi tại Pháp lần này. Anh căn dặn tôi đường đi nước bước từ Paris sang Ba Lan, cẩn thận lắm, đi tàu ra sao, máy bay thế nào, rồi xe buýt nữa… tôi nghe mà cứ ngỡ anh chỉ đường cho tôi đi tỉnh nọ sang tỉnh kia ở Việt Nam vậy. Đơn giản thật, nhưng với tôi chẳng đơn giản tẹo nào. Tôi lại “liều” một chuyến, một mình sang Warsaw và yên tâm vì xuống sân bay là đã có anh Thành đón. Lần đầu tiên đi Châu Âu mà, lớ ngớ lắm, nhưng cứ quanh quẩn ở “nhà” thì bao giờ mới khôn thêm được.
Máy bay sắp hạ cánh. Từ trên cao nhìn xuống, tôi đã nhận thấy thành phố Warsaw. Đẹp quá, tôi mang máy ra quay, tranh thủ ghi lại những khoảnh khắc đẹp để về nhà còn có cái mà “khoe”. Vì là ban đêm nên ánh sáng của đèn điện đã dệt thành phố như một bức tranh muôn màu rực rỡ. Sân bay Warsaw không rộng như Charge De Gaulle nhưng cũng đủ để cho tôi sải bước nhanh mới theo kịp mọi người ra chỗ lấy hành lý. Phần bị thất lạc hành lý, phần do gọi điện hoài cho anh Thành mà không được, tôi cảm thấy hơi lo lo. Loay hoay mãi trong sân bay gần 1 tiếng đồng hồ, cuối cùng cũng tìm được hành lý, do biết vận dụng thứ ngôn ngữ “khua tay”. Tôi đi ra ngoài với hy vọng anh Thành còn chờ tôi ở đó. Đến cửa, bỗng nghe một giọng phụ nữ nói tiếng Việt: “À! đây rồi!”; ngoảnh lại, thì thấy anh chị đang nhào lại phía tôi. Cả người được đón lẫn người đi đón đều có cảm giác như trút ào đi được gánh nặng trên vai. Hóa ra do vội, nên cả anh lẫn chị đều quên điện thoại ở nhà và đoán rằng tôi bị nhỡ chuyến. .
Ngay sáng hôm sau, anh đưa tôi vào trung tâm buôn bán ở Wólka Kosowska - nơi buôn bán của cộng đồng người Việt, cũng là nơi anh làm việc. Vùng Wólka Kosowska có gần chục trung tâm thương mại của các doanh nghiệp người Trung Quốc, người Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ. Đó là những trung tâm khang trang, ước tính có đến vài ngàn quầy từ 25 đến 300 m2; chủ quầy là người Ba Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ ... nhưng đại đa số vẫn là người Việt. Đầu tiên anh Thành đưa tôi đến quầy anh Hùng chị Thanh, anh chị là người Hà Nội. Mọi người thường gọi anh là “ca sĩ cộng đồng”. Khỏi phải nói tôi vui như thế nào khi được tiếp xúc với các anh các chị, bà con tiểu thương mình – Quý quá, thân thương quá, hình như sự xuất hiện của tôi đã được báo trước nên khi anh Thành giới thiệu “Đây là nghệ sĩ Hương Dung…” thì mọi người đã ồ lên “Có, biết rồi, nghe anh Thành nói từ hôm trước, không ngờ được gặp nghệ sĩ thật”. Thôi thì ríu ra ríu rít, tôi chẳng có cảm giác đây là nước ngoài nữa, ai cũng muốn tôi ghé vào quầy của mình một tý, từ những người lớn tuổi như anh Hùng, đến các cháu thanh niên, nhìn thấy tôi, đều gọi, người không nhớ tên thì “vợ thứ trưởng đấy – mẹ Cao Thanh Lâm đấy”. Rồi thì người đôi tất, đôi giày, người cái áo cái mũ,… ai ai cũng muốn tôi nhận tấm lòng của họ. Tôi đi đến đâu, mọi người cũng biết đến tôi, thậm chí còn kể vanh vách từng vai diễn của tôi trong những phim mà họ đã từng xem. VTV4 mang lại cho người Việt ở nước ngoài nói chung và người Việt ở Ba Lan nói riêng bớt đi phần nào nỗi nhớ quê hương. Ban ngày mải lo bận rộn buôn bán là vậy, tối về vẫn không quên bật tivi để vừa tranh thủ việc nhà vừa theo dõi chương trình “của ta”.
Thú thật, ở Việt Nam tôi rất ít khi vào những khu buôn bán, phần vì thời gian eo hẹp, phần vì phải chứng kiến những cảnh lộn xộn, giành giật không mấy đẹp mắt của người bán kẻ mua. Nhưng sang đến đây tôi thật sự bất ngờ. Mọi người đoàn kết và chia sẻ cho nhau nhiều lắm. Chợ bán buôn rất đông nhưng lại diễn ra trong trật tự và văn hóa. Hình như tình cảm của những người hàng xóm láng giềng, “tắt lửa tối đèn có nhau” ở nơi xa xứ được nhân lên gấp bội. Thời gian tôi lưu lại Ba Lan nhiều ngày nên đi tham quan ở đâu và lịch trình thế nào đều do anh Thành sắp xếp. Anh muốn giới thiệu cho tôi một số thắng cảnh của Ba Lan nhưng cứ tiếc cho tôi là vào thời điểm này thời tiết không thuận lợi nên phải hủy bỏ một số điểm. Anh bận điều hành công việc ở trung tâm nên cứ tranh thủ được lúc nào là tôi lại “bám càng” anh lúc đó. Anh đưa tôi vào trung tâm thành phố, lên tận tầng trên cùng của Cung Văn hóa nằm giữa thủ đô, ngắm nhìn thành phố trong một chiều mùa đông, Thành phố được xây lại sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhưng vẫn còn nhiều dáng dấp cổ, chen lẫn các nhà cao tầng, hiện đại, mọc lên san sát. Anh đưa tôi đến nhà Chopin, biết là đang sửa chữa không được vào nhưng tôi vẫn muốn đến dù là chỉ đứng ngoài chụp vài kiểu ảnh giữa cái giá, cái buốt của trời mưa.
Ngày hôm sau tôi lại theo anh vào trung tâm mua bán, tới một Trung tâm nữa cũng sắp khai trương, đó là “ASEAN EU”. Lại những lời chào gọi của bà con mình, tôi bắt đầu thấy tiếc cho thời gian trôi đi quá nhanh, giá như tôi đăng kí ở lại 15 ngày thì còn nhiều chỗ để đi, “Mỏ muối Wieliczka” nổi tiếng, cách Warsaw khoảng 300 km cũng là điểm đáng đến mà tôi không thể sắp xếp được. Tôi đi cùng anh sang khu buôn bán của người Trung Hoa, ở đây người Việt mình cũng nhiều và tôi lại bắt đầu nhận quà của mọi người.
Tại TTTM Asean EU - Wólka Kosowska
Anh dẫn tôi quay về “cơ sở 2” của anh, đó là quầy của anh Hùng, “ca sĩ cộng đồng”, anh khoe luôn bí mật của tôi với anh Hùng là tôi “hát được”. Thế là như “bắt được vàng”. Vàng bây giờ đang cao thì ví thế cho “có giá”, chứ so với thời gian trước khủng hoảng thì chả thấm tháp gì so với tiền anh chị kiếm được nhờ buôn bán. Tôi được anh Hùng mời hát song ca cùng anh nhân dịp cộng đồng tổ chức gặp mặt các nhà giáo và ra mắt trường dạy tiếng Việt – Lạc Long Quân. Mừng ít, lo nhiều, vì tôi có phải ca sĩ đâu, bảo tôi nói thì còn được, chứ hát thì lại là “cái sự liều” nữa rồi. Bà con cộng đồng mình cũng có nhiều ca sĩ, nghệ sĩ của các đoàn do mỗi người có một lý do riêng mà sang đây làm ăn, nên tôi “múa rừu” mà không qua được “mắt thợ” thì khéo đợt này tiếng tăm ảnh hưởng đến “thần tượng” trong mọi người chứ chẳng chơi. Thế là cả buổi tối anh chị Hùng – Thanh đến nhà anh chị Thành - Dân để cùng tôi luyện giọng, luyện lời, say sưa lắm đến tận gần 12h đêm mới nghỉ; còn chuẩn bị cho ngày mai vào trận nữa chứ. Buổi lễ bắt đầu vào chiều Chủ Nhật, 15. 11, tôi xuất hiện khi chương trình cũng vừa bắt đầu, lác đác có người nhận ra, tôi phải tránh mọi cặp mắt để mọi người tập trung vào người chủ trì chương trình. Buổi ra mắt trường tiếng Việt – Lạc Long Quân và kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam diễn ra rất long trọng, ngài đại sứ Việt Nam tại Ba Lan – Nguyễn Văn Xương cùng phu nhân tới dự, lại còn có cả hòa thượng Thích Minh Trí nhân chuyến đi công tác Châu Âu cũng lưu lại dự cùng. Tôi cảm thấy hồi hộp, bản thân vốn xuất thân là lính, lại là nghệ sĩ có chút dạn dầy nên giây phút đó cũng qua mau. Đến phần văn nghệ, qua vài ba ca sĩ, anh Hùng giới thiệu tôi lên sân khấu bằng những lời “có cánh”. Vốn thường xuyên cầm micro nói chuyện trước đông người, nhưng đây là lần đầu tiên lên sân khấu đứng hát, dõi theo tôi không phải là những khán giả bình thường mà là các nhà trí thức, nhà khoa học, nhà giáo và nhiều vị khách quý nữa; tôi chỉ biết thốt lên câu “ôi trời ơi”. Tôi nhận được những nụ cười, những tràng vỗ tay và đặc biệt những ánh mắt thân thiện, hơi ấm của tình người xa xứ lan tỏa trong tôi. Tôi hát, hát say sưa, hát cho người Việt mình nghe.
“...Như cánh chim ngóng trời lồng lộng, vương vấn yêu đương, ta hứng giọt mưa nguồn, một đời khát khao…” (Trên đỉnh Phù Vân).
Lại những tràng vỗ tay rôm rả, những ánh mắt nụ cười thân thiện hướng về phía tôi. Trong tôi dâng lên một cảm xúc đặc biệt...

Tại lễ ra mắt trường tiếng Việt Lạc Long Quân và kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam
Người Việt ở Ba Lan ban ngày bận công việc làm ăn, buôn bán, tối về phải lo cơm nước, lại còn nghỉ ngơi sau một ngày mệt nhọc, hiếm mới có thời gian gặp nhau. Mà có đến được nhà nhau thì nhà nọ cách nhà kia khoảng 20 - 30 phút chạy ô tô. Chả thế mà các anh chị có dịp gặp nhau ở nhà ai đó, thôi thì đủ chuyện để hàn huyên, chẳng thiết ăn gì đâu, chỉ thích nghe nhau kể chuyện thôi. Còn các anh thì luyện giọng hát karaoke để nhân kỷ niệm ngày lễ nào đó, làm được một chương trình văn nghệ “cây nhà, lá cộng đồng”. Rồi cũng đến lúc ai về nhà nấy. Thế nào cũng có lời hẹn tiếp cho cuộc hội ngộ lần sau. Tôi ở Ba Lan 10 ngày mà cũng được dự tới 4 cuộc hội ngộ như vậy. Biết thêm được bao nhiêu các anh, các chị nữa, bao nhiêu mẩu chuyện vui buồn nơi đất khách quê người...
Giờ đây, tôi đã rời khỏi Ba Lan, rời đất nước mà ngày đi học, tôi thuộc lòng câu thơ:
“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn…”
Tôi đến Ba Lan khi cây bạch dương đang trụi lá, không còn thời gian ở lại để ngắm tuyết rơi. Chia tay Ba Lan, tôi mang theo mình những kỉ niệm về những người như anh chị Thành – Dân và các bạn bè của anh chị. Ấn tượng về một cộng đồng người Việt đoàn kết, vững mạnh, một trung tâm buôn bán sầm uất và một đất nước Ba Lan êm đềm.
Chiếc va ly nặng trĩu, không còn là những món quà mà là tình cảm, là tấm lòng, là tình người ấm áp của cộng đồng người Việt trên đất nước này. Biết đâu, sau này đóng phim, mọi người lại nhận ra những món quà kỷ niệm tôi mang trên mình là chính do bà con tặng vào dịp tôi tới nơi đây.
Xin chào Ba Lan!
Hẹn gặp lại!
Monpellier
22-11-2009
Ns. Hương Dung