Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

GIA CÔNG HÀNG HÓA

07/11/2010 21 phút đọc Phượng Hồng
Truyện ngắn  Năm 2000 tôi được sang Séc theo tiêu chuẩn học bổng của chính phủ. Mang tiếng được đài thọ mọi chi phí
GIA CÔNG HÀNG HÓA
Truyện ngắn 

 

Năm 2000 tôi được sang Séc theo tiêu chuẩn học bổng của chính phủ. Mang tiếng được đài thọ mọi chi phí nhưng tiền vé máy bay chỉ được trả sau khi tôi tốt nghiệp và trở lại Việt Nam, nên tôi rất cần tiền để trang trải thêm chi phí và trả món nợ đã vay. Tranh thủ những ngày nghỉ tôi hay la cà ở chợ đồ buôn của người Việt, mong tìm việc làm bù đắp thêm cho túi tiền còm cõi của mình. Tuy chăm chỉ nhưng chả người quen thân, thời gian của sinh viên thì thất thường nên thu nhập thêm chỉ đủ bữa cơm ở chợ cho thỏa nỗi nhớ nhà. Một bữa thấy tôi ngồi đọc ké mãi, anh bán báo thương tình giới thiệu cho một chỗ làm gia công hàng hóa. Sẵn dịp đang nghỉ ôn thi tôi nhận lời ngay.

 

 Y hẹn, hôm sau anh gọi tôi ra chợ vào buổi chiều. Chúng tôi đến gặp một người đàn ông to béo tên T ở gần khu nhà bảy tầng.

Anh bán báo giới thiệu: “Đây là cô em tôi, mới sang chưa kiếm được việc gì. Ông xem có chỗ cho em nó làm với”.

Người đàn ông quay ra hỏi tôi: “Biết may không? Có mang về nhà làm được không?“  - Tôi hoảng quá nhìn sang anh bán báo cầu cứu.

- Mang thế nào được, nó đang ở cùng tôi. Chở đi chở lại kích rích lắm, nhà này lại không có thang máy, khuân lên khuân xuống có mà ốm.

- Ok. Vậy thế này đi, mai 7h gặp ở đây tôi sẽ chỉ chỗ.

- Có cần mang theo gì không anh? Tôi hỏi vớt vát.

- Không, có đồ nghề rồi, bao ăn trưa, lương theo sản phẩm, cần chỗ ở cứ bảo anh sẽ bố trí nhé. Thôi chào.

Anh ta chui tọt vào xe đi mất làm tôi chả kịp hỏi thêm.

Sáng lọ mọ dậy sớm ra chỗ hẹn, quá 7h vẫn chả thấy ai. Sau mấy cuộc điện thoại, một cái xe xuất hiện, lái xe bảo tôi sang ngồi cùng, dù quen biết nhau nhưng anh bán báo vẫn cẩn thận phóng xe theo với lý do “biết làm chỗ còn hướng dẫn cô em tự đi chứ„.

 

 Xe dừng trước một ngôi nhà, T nhảy xuống mở hai cánh cửa gỗ nặng nề một cách thành thạo. Chiếc xe lướt nhẹ vào trong. Ngay trên đường vào có chiếc cũi với hai con chó to tướng. Thấy người quen chúng chỉ hếch mõm lên ư ử. Tôi bước sau T đi qua một ngôi nhà khang trang, qua khoảng sân rộng mấp mô gạch vụn, cỏ mọc xanh rì hoang phế, rồi dừng trước một dãy nhà cấp bốn cũ kỹ. Cửa mở, mùi ẩm mốc xộc vào mũi, tối thui, tôi chưa kịp ngạc nhiên thì thấy T vén một bức mành. Ánh sáng nhàn nhạt tràn ra cùng với mùi nhựa dán, mùi cao su như thể ta mở một thùng dép nhựa ế đã lâu ra vậy. Giữa đống thùng chất chồng cao ngất thấp thoáng bóng người. Chả ai dừng tay khi có khách. T dẫn tôi đi đến cuối dãy nhà, vừa đi vừa nói. Đây là em H, sẽ làm ở đây từ hôm nay, tạm thời làm chung với tổ một. Vài mái đầu ngẩng lên đáp lại tiếng chào lạc lõng của tôi, rồi lại cúi xuống mải miết làm. Một thanh niên còn ít tuổi chỉ tôi đứng vào một góc cạnh dãy bàn dài, tay cầm một chiếc giày lên bảo: “Hàng chưa làm ở dưới chân, cái mác này bóc ra, dán cái này vào, chiếc bên phải lồng thêm giấy này. Đây là dao của chị, xong từng đôi xếp lần lượt trước mặt”. Lời hướng dẫn chỉ có bấy nhiêu nên tôi phải căng mắt ra nhìn từng động tác của những người cùng bàn mà bắt chước. Toàn những khuôn mặt trẻ măng, vẫn giữ nguyên nét chân chất của người thôn quê, chỉ có ba chị lớn tuổi có vẻ là có „thâm niên công tác“. Bóc, dán. Bóc, dán. Chỉ có vậy thôi mà cũng đau tay ra phết. Mới được vài đôi giày mà tay tôi keo dính bê bết, móng thì cái gãy cái còn. Thật tệ là keo cứ ăn chắc vào tay làm tôi thấy ngứa ngáy. L cô bạn ngồi bên cạnh thấy tôi như vậy cười bảo: “Không tránh được đâu chị ạ, vài bữa là quen ngay ấy mà”. Giữa trưa nghỉ tay ăn cơm. Tôi mò ra chỗ toalet rửa tay. Chao ôi là kinh hoàng, nền đất lệt sệt nước, cái lavabô cáu bẩn như còn sót lại từ kiếp nào, vòi nước chảy rỉ rả mà tôi không chắc có là nước sạch hay không vẫn phải nhắm mắt đưa tay vào. Cô bạn ngồi cạnh ghé vào tai tôi nói nhỏ: có nước là may đấy, nhiều khi em phải đem theo chai nước to ở nhà đi để dùng cơ. Có tiếng gọi: “Cơm thôi các em”. Tôi quay vào đã thấy khoảng tám người cả thảy, trên cái bàn lúc trước còn bề bộn giày dép giờ là hai nồi cơm điện to, mấy bát thức ăn đã nấu sẵn từ bao giờ được quay lại cho nóng. Múc và ăn, chỉ có tiếng nhai cơm trệu trạo. Vài người bê bát ngồi lên mấy thùng hàng cho khỏi mỏi. Có tiếng người nói: “Mai chị B làm cho thêm ít lạc nhé, ăn thịt không cũng ngán”. Thấy ánh mắt tò mò của tôi, L giải thích: “Anh T đưa tiền cho chị B mua thức ăn nấu sẵn từ trước ở nhà, ở đây chỉ đặt nồi cơm là xong. Bát đũa bẩn cho vào túi mang về nhà rửa. Làm cho hết công suất mà!

 

Ở đây con gái thì được ưu tiên hơn một tẹo là không phải bê các thùng giày, còn ai cũng phải lèn những hộp giày nhỏ vào thùng rồi lồng dây buộc lại như cũ.

 

 Buổi chiều, T từ đâu phóng vào như cơn lốc bảo to: dừng đi, chuyển sang mác khác cho tôi. C, V bê những thùng đã xong ra ngoài xe. Bốc mã 1328K vào làm trước mười thùng đã. Ai nấy răm rắp làm theo, chỉ một loáng đống mác và phụ kiện trên bàn được dọn sạch. Chị B với tay lấy quyển vở cũ nhàu cài trên cột nhà xuống, đếm đếm ghi ghi rồi bê từng hộp mác mới đặt lên bàn. Tôi tranh thủ đảo một vòng quanh nhà, thấy các cửa sổ đều bịt kín bằng vỏ thùng, điện được kéo từ đâu đấy vào chỉ dùng cho mấy ngọn đèn treo tạm bợ. Trong một góc nhà từng hộp to xếp  ngay ngắn toàn biểu tượng, mác hàng hóa làm bằng giấy, da thuộc, vải, nhựa ép, sắt mạ...Một chỗ khác có vài cái máy khâu Singer kiểu cổ lỗ sĩ xung quanh chất đống ba lô, túi xách và cả những cái ví, cái thắt lưng xinh xắn. Có lẽ họ đang làm dở nhưng chưa cần gấp nên dừng lại. Bịch! Bịch! Tiếng thùng giày buông xuống nền nhà gọi tôi về vị trí. Công việc lại chạy ào ào. Mọi người chắc đã quen nên làm thành thạo lắm, chỉ có mình tôi lóng ngóng, đôi tay chỉ cầm bút mãi vẫn chưa quen việc, thỉnh thoảng lại còn hắt hơi sụt sịt vì dị ứng với không khí nơi đây. Độ một tiếng đã xong việc. T bấm máy gọi đi đâu đấy, và chỉ đạo mọi người mang mẫu khác ra làm. Chỉ vài thao tác, những chiếc giày bình thường đã có nhãn mác mới trông thật bắt mắt. Trời đã chuyển sang tối tự lúc nào. Chị B ra dấu cho chúng tôi nghỉ. Người trước kẻ sau tản mát ra về.

 

Hôm sau, khi tôi đến nơi đã thấy mọi người cặm cụi làm. Quá trưa một chút thì hết việc, thế là được tạm nghỉ. Lúc này mọi người mới xúm lại tán chuyện. Phần lớn người làm ở đây đều từ Việt nam mới sang, có người không có gì ngoài tờ giấy nhập trại. Chưa biết làm gì ra tiền nên điều kiện thế nào cũng phải chấp nhận. Để tiết kiệm chi phí chủ thường thuê những chỗ rẻ tiền để tấp hàng và làm việc, vừa đỡ tốn vừa đỡ bị nhòm ngó, mà của rẻ thì thế nào ai chả biết. Thường là những nơi chả có người sử dụng đã lâu nên ẩm mốc bẩn thỉu, gạch lát nền đã bung nham nhở nên phải lót vỏ thùng cát-tôn khắp nền nhà. Nơi nào may mắn thì có chút nước và cái toilet dùng tạm, chứ như mọi người kể có nơi chỉ ra vườn đi bậy, ai không quen bí quá có khi phải chạy về ...nhà mới kịp. Gặp bữa trời mưa thì nước dột khắp nơi nên mưa to thì trùm áo mưa cho hàng rồi nghỉ. Có anh ra vẻ từng trải kể, chỗ này anh làm lâu rồi, trả công sòng phẳng, chứ vài chỗ trước nó tính gian sao mà làm cả tháng làm trầy vi tróc vảy chỉ được có chục ngàn. Cái gì chủ nó cũng nắm đằng chuôi, cãi làm sao được, chỉ có nước chuồn sang chỗ khác. Cố gắng, hàng nhiều thì tháng cũng được mươi lăm ngàn. Chờ mãi chưa có hàng mới về mấy người có xe tranh thủ chạy đi chơi, tôi cũng ngồi vào một góc tranh thủ mở quyển ngữ pháp ra đọc. Bịch bịch…tiếng động báo hiệu hàng đã về, ai nấy hối hả vào vị trí, hối hả làm như để bù lại quãng thời gian đã nghỉ. Dù gì cũng phải làm vì mọi chi tiêu đều trông vào đây cả, chắc cùng chung một suy nghĩ nên trời đã tối cũng chưa ai nhắc chuyện ra về.

 

Ngày thứ ba đi làm, quả thật tôi cứ như con lật đật. Cái mũi sau mấy ngày chả chịu làm quen với không khí nơi đây cứ chảy nước tong tỏng làm tôi vô cùng khó chịu. Đôi tay đã cắt hết móng vẫn đau buốt mỗi khi phải ráng sức. Có lẽ trông tôi uể oải quá nên gần trưa, T gọi tôi ra cửa bảo: anh thấy em không làm nổi việc này đâu, em ở đây ảnh hưởng đến năng suất của mọi người. Em cũng biết may, chỗ quen thân để anh chỉ em sang chỗ khác làm nhé. Chẳng cần biết tôi có ưng thuận hay không anh giúi vào tay tôi ba tờ 200 kurun rồi giục tôi lấy túi đi ngay.

 

Tôi chào và bước ra trong ánh mắt thông cảm của những người cùng làm. Có lẽ họ đã quá quen với cảnh ai đó xách túi ra đi vì không vào guồng công việc được.

 Mở cửa xe định ngồi vào, tôi ngẩn ra, chả có chỗ cho ai ngoài người lái. Tất cả ghế trong xe đã bị dỡ bỏ để lộ ra sàn xe mấp mô được che bằng tấm deka cáu bẩn. Anh T đưa tôi tờ báo và hất hàm bảo: Ngồi tạm vào đấy, phải làm vậy mới chở được hàng chứ. Vài thùng mất một chuyến xe tải có mà ăn bằng cám.

 

Vậy là tôi ngồi bệt ngay trên sàn xe, đầu ngóc lên nhìn ra ngoài, thầm cầu mong đừng có chú cảnh sát nào đi qua. Xe cứ hiên ngang chạy, chỉ chạy hai góc phố là dừng lại. Một chị khá xinh xắn chờ ở cửa đưa tôi vào nhà. Cũng nhà cấp bốn nhưng khá hơn nhiều so với chỗ làm giày. Trong nhà chất đầy các thùng carton mà tôi đoán là hàng. Chỉ có một phòng nền lát đá sạch sẽ với sáu máy thêu. Cũng phải thế chứ, toàn đồ làm bằng vải vóc mà dây bẩn thì có bán cho ma. Một lúc sau có thêm hai người nữa đến, sau mấy câu xã giao ai vào việc nấy. Chị M hướng dẫn tôi sử dụng máy thêu các loại. Đã từng dùng máy may công nghiệp nên việc sử dụng máy thêu với tôi chả có gì khó khăn. Phần mềm của máy đã cài sẵn mẫu mã, cần loại nào tôi chỉ việc bấm số, chọn chỉ và đặt kim vào đúng vị trí là xong.

 

Trưa muộn, chồng chị M ghé vào mang cho một ít thịt và rau. Chị bảo tôi ra ngoài bếp nấu cơm. Hóa ra ở đây có cả bếp, chủ nhà bảo khi nào nhiều việc thì ở lại đây luôn, có khi phải làm suốt đêm cho kịp. Cơm chín, mọi người ngồi xuống ăn vội vàng xong lại bắt tay vào làm ngay. Chỗ này dù sao cũng đàng hoàng hơn, có nước chè, caffe khát còn có cái uống. Tùy theo nhu cầu của người đặt làm mà chủ gọi thêm người nơi khác đến hỗ trợ hoặc rút bớt đi. Hàng cần thêu mới đủ các chủng loại quần áo mũ khăn, loại dày có, mỏng có, đông hè có tuốt. Sau khi thêu xong hàng được gấp lại cẩn thận, đóng vào túi ni lông rồi mới xếp vào thùng. Đôi lúc có cả quần áo lỗi mốt được mang đến cắt may lại. Có hôm làm muộn tôi còn được vợ chồng chị đưa về tận nhà. Việc sạch sẽ nên chúng tôi vừa làm vừa nói chuyện rôm rả. Một lần vui chuyện chị M kể: “…thỉnh thoảng mới có người chuyển hàng giả từ cảng vào. Còn có cả tự sản tự tiêu ngay tại chỗ. Hàng bình thường chèn cái mác xịn vào. Ai cần loại gì hôm sau là có, khỏi giữ lắm mệt người. Chị lè lưỡi kể cũng hút chết mấy lần, muốn chuyển không làm nữa nhưng lợi nhuận nhiều nên ham lắm…

 

Nghe chị nói tôi thấy có gì đó không yên lòng, hóa ra trong những công việc tôi làm những ngày qua có cả những việc có thể vi phạm pháp luật. Mang tiếng học nhiều nhưng những thứ ngoài xã hội tôi có phải va chạm bao giờ đâu và cứ hay ỷ lại rằng chỉ cần học giỏi là sẽ thành đạt, sẽ có mọi thứ. Không biết thì không sợ chứ biết rồi tôi chả còn tâm trí đâu mà làm. Vốn dút dát tôi đành dối chị là phải ôn gấp bài nên xin nghỉ. Cầm những đồng bạc trả công mấy ngày lao động trên tay tôi lại lang thang ở chợ.

 

Mãi sau này, khi đã trở thành ma xó nơi đây tôi mới thấy quyết định của mình lúc ấy là đúng đắn. Nghĩ dại, nếu chẳng may chỗ làm đó bị mấy bác cảnh sát sờ tới kiểm tra thì bị tống về nước là cái chắc ...Bao nhiêu công sức bao năm bố mẹ nuôi ăn học và nỗ lực phấn đấu mất toi. Đấy là bài học kinh nghiệm giúp tôi thay đổi cách tư duy, ngoài học ra tôi rất cẩn thận tìm hiểu mọi việc trong cuộc sống khác hẳn con mọt sách ngày nào.

 

Phượng Hồng

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu