Truyện ngắn của Trương Đình ToeỞ một làng nọ, trong ngôi nhà nhỏ, có hai ông bạn đầu bạc ngồi uống trà bên cửa sổ, tưởng chừng như thấy bóng câu[i]Nguyên xưa kia, thời Pháp thuộc, quê hương loạn lạc, hai người mới ở tuổi thiếu niên, đã phải chạy ra Hà Nội lánh nạn. Sau một người được cách mạng giác ngộ, theo Việt Minh lên rừng kháng chiến; một người ở đất Hà thành tần tảo kiếm ăn, hòa bình lập lại thì về quê. Thời chiến tranh chống Mỹ có tổng động viên, lên đường nhập ngũ. Năm 1975, chiến tranh kết thúc, ông lại về và làm phó thường dân. Bạn ông thì suốt hai cuộc kháng chiến, công tác ở Tây Bắc, thăng chức đến phó bí thư huyện ủy. Đến lúc nghỉ hưu, mới hồi hương. Bấy giờ lại nhớ đến người bạn thời thơ ấu và đến thăm.
Hai ông bạn già ngồi kể lại chuyện xưa. Ông phó bí thư thỉnh thoảng cứ than phiền, rằng đời người ngắn ngủi, rằng ông số phận chẳng may, tha hương từ nhỏ, xưa kia phải ở trên rừng…Ông phó thường dân thấy vậy, bảo rằng:
- Trên ngược hay dưới xuôi, ở đâu có ăn là được chứ quan trọng gì. Tôi dân đen, nhờ con cái bây giờ mới được mát mặt một chút, còn xưa kia vất vả suốt đời, bằng vạn lần ông. Tôi chẳng kêu thì thôi. Ông làm quan mà lại kêu khổ là cớ tại làm sao?
- Bây giờ xã hội tiến lên, nông dân các ông cũng sướng hơn ngày xưa nhiều. Ông còn nhớ năm 45 chết đói không?[ii]- 45 cái gì? – Ông phó thường dân trả lời - Năm 82, hồi ấy tôi đã phục viên, nếu không chia nhanh ruộng đất của hợp tác xã cho xã viên thì chỉ nửa năm nữa thôi là chết đói ráo, quá năm 45. Giờ thì cơm ngày mấy bữa đủ no, áo cũng không thiếu mặc, một tháng đôi lần có tý mỡ cải thiện. Thế là hạnh phúc lắm rồi. Chúng tôi chẳng có gì phải ca thán cả. Còn các ông thì khổ ư? Ông thử nhìn ngay địa phương ông, từ tay chủ nhiệm thôn, đến bí thư, chủ tịch xã…, ai mà không đất mặt tiền, nhà cao cửa rộng, của nả không biết bao nhiêu mà kể. Các ông khổ ở cái điểm nào?
- Có phải ai cũng thế đâu – ông phó bí thư bùi ngùi. – Như tôi đây bao nhiêu năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, làm cán bộ nhưng suốt đời liêm chính, đến lúc về hưu nào có cái gì? Có hơn gì ông.
- Thế thì ông dại! – Ông phó thường dân cười, nói - Ai bảo ông liêm chính?
- Sao ông lại dậy thế? Tôi đâu có làm được như người ta. Chỉ có điều đi lâu ngày quá, giờ về quê thấy buồn lắm, nên nói vậy thôi.
- Sao mà buồn?
- Anh em, bè bạn cùng lứa phần nhiều đã sang thế giới bên kia gặp các cụ Các Mác, Ăng Ghen cả rồi; bọn trẻ mới lớn thậm chí chẳng biết mình là ai. Đi họp chi bộ thì mấy cái thằng ranh con bằng tuổi con cháu mình mà lố bịch, trâng tráo. Chúng nó lại gọi tôi bằng đồng chí!
- Ô - Ông phó thường dân lại cười, bảo. - Ông là đảng viên, chúng nó chả gọi ông bằng đồng chí thì gọi bằng gì? Nhưng ông vẫn còn may là nhà cửa đất cát của ông ở quê tuy không dùng, nhưng chưa bán, nên mới có chỗ quay về vui thú điền viên. Chứ ngày xưa vô phúc lại bán đi thì ông thử nghĩ xem, „nắm xương biết gửi tử sinh nơi nào”?
Nhân nói đến bè bạn, ông phó bí thư sực nhớ đến nhà văn tên gọi Lờ Lôi, cùng quê với hai ông. Liền hỏi:
- Từ nhà ông đến chỗ tay Lờ Lôi có xa không?
- Khoảng dăm cây số - ông phó thường dân trả lời. – Nhưng sao ông lại hỏi đến Lờ Lôi?
- Tôi phải tạt sang thăm hắn một chuyến!
- Ông quen biết gì Lờ Lôi?
- Ngày xưa bộ đội, tôi ở cùng với hắn.
- Sau đó có chơi bời liên lạc gì không?
- Cũng phải đến hơn hai mươi năm rồi không liên lạc.
- Thế thì tôi xin ông – ông phó thường dân khuyên. - Ông đến chỗ Lờ Lôi làm gì? Người ta danh nổi như phao, tác phẩm được đăng tận bên Mỹ, tiền của như nước, dự án nọ kia, đất mấy chục héc ta, người người chen chân đến, thời gian đâu mà tiếp ông. Ông chức quyền hết rồi, ai còn cần ông nữa? Người ta tiếp ông thì được cái gì?
- Vâng, ông dạy cũng phải - ông phó bí thư nghe ra, thở dài - Thật là… „Bần cư thành thị vô nhân vấn, Phú tại sơn lâm khách hữu tầm”. [iii]Thấy bạn có vẻ buồn rầu, ông phó thường dân tiếp:
- Thôi, ông cứ ở đây với tôi. Nếu ông thích thì tôi sẽ đưa ông đi Hà Nội chơi.
- Vâng, nếu được ông đưa ra thăm thủ đô thì quý hóa quá. Tôi mấy chục năm công tác trên miền ngược cũng không có thời gian về Hà Nội. Mãi năm ngoái nghỉ công tác, trên đường về mới tạt qua một tý. Thời anh em mình còn ở đấy, Hà thành chỉ toen hoen một tý bờ Hồ và mấy phố lân cận. Bây giờ đi qua, tôi tối cả mắt, không biết chỗ nào với chỗ nào.
Ông phó thường dân có con gái, con rể định cư ở Hà Nội. Chiều hôm ấy, ông dắt bạn khăn gói ra đấy nghỉ nhờ. Ông hay đi lại, nên đường đất Hà thành rất là thông thạo. Tờ mờ sớm hôm sau các ông đã dậy, ra xe khách lên sân bay Nội Bài xem máy bay.
- Đi đến mấy giờ thì về? – Ông phó bí thư hỏi.
- Cánh ta có bận bịu gì, cứ hết ngày thì về. - Ông phó thường dân trả lời.
Lên đến nơi, ông phó bí thư đã năng nổ định vào tham quan.
- Khoan đã! - Ông phó thường dân ngăn lại. - „Vật chất có trước, tinh thần có sau”. Ông hình như theo duy vật chứ có duy tâm đâu. Các cụ nhà tôi thì dạy: „Có thực mới vực được đạo”. Phải tìm cái gì chén đã. – Rồi hai ông vào quán gọi mỗi người bát phở.
- Bát phở bây giờ cũng đầy đặn, nhiều thịt, chứ không điêu bạc như xưa. Đúng là cái gì cũng tiến bộ. - Ông phó bí thư nhận xét.
- Thế mới gọi là nền kinh tế thị trường, không thế thì người ta không ăn. – Ông phó thường dân giải thích.
Tòa nhà sân bay vĩ đại, cao lồng lộng, xung quanh toàn kính. Ông phó bí thư cứ ngửa mặt lên nhìn. Bước vào bên trong người đông nghìn nghịt. Ông phó thường dân khoác cái túi đi trước, ông phó bí thư lốc thốc theo sau. Ông phó thường dân ngoảnh lại bảo bạn:
- Ông chú ý, không lạc thì chết.
- Ông cứ yên tâm. Tôi vẫn bám đuôi ông đây. - Ông phó bí thư trả lời -Nhưng ông chú ý cho tôi cái túi của ông. Có cái gì ‘nó’ lại móc mất thì gay.
- Tôi có cái này. – ông phó thường dân giơ cái ô gấp lên, nói – Trông thấy thằng nào móc, tôi cứ phang cho một nhát vào ống tay là chết. Nhưng trong túi toàn giấy bổi, cho ‘nó, móc thoải mái cũng không việc gì.
Hai ông lang thang đi lại, ngắm nhìn hành khách, xem hàng quán, nghiên cứu, bình luận quy mô của công trình. Lại có hai cầu thang tự động, một lên, một xuống. Hai ông ra đi thử đến mấy lần. Chán trong nhà sân bay rồi thì các ông tìm chỗ xem máy bay cất cánh.
- Ông thấy chưa, toàn tầu bay phản lực. Cái kia là của Việt Nam Ai-lai.
- Hiện đại thật, không như máy bay „bà già” của tây ngày xưa.
- Bên trong nó to như tòa nhà, sang trọng lắm, ngồi thì êm như ru. Lúc bay, tôi đặt mãi cốc nước trên bàn mà không sánh ra hạt nào. À nhưng mà… -Ông phó thường dân khoe, rồi chợt hỏi. - Ông đã được bay tầu bay bao giờ chưa?
- Tôi đi đâu mà bay tầu bay?
- Thế thì ông làm quan mà vẫn kém tôi. Năm ngoái tôi được cháu mua vé cho bay sang Ba Lan, qua mấy nước liền. Lúc đi qua cả Pháp, lúc về qua Nga Xô.
- Tôi về quê cũng nghe nói cháu nhà ông được đi Ba Lan du học. Thôi thì con nhà nghèo, cũng là nhờ ơn đảng và chính phủ. – Ông phó bí thư nói.
- Vâng – ông phó thường dân trả lời. - Bây giờ cái gì mà chẳng nhờ ơn đảng, ơn chính phủ.
Ông phó bí thư lại chỉ tòa nhà sân bay tráng lệ mà rằng:
- Đấy, ông thấy không. Từ ngày có chính sách đổi mới, nước mình phát triển cũng kinh đấy chứ? - Ông phó bí thư tin tưởng, tự hào cũng phải. Những công trình hiện đại, kỳ vĩ kiểu này đều ngoài sức tưởng tượng, trước kia ông chỉ xem trên vô tuyến, có nhìn thấy tận mắt bao giờ. Ông suốt đời sống ở cái xứ sở mà thời gian hình như dừng lại, cảnh vật, con người vẫn như những năm 60-70 của thế kỷ thứ XX. Địa hạt của ông, núi non trùng điệp, đất rộng người thưa, phần nhiều là đồng bào thiểu số. Họ hiền lành, thật thà, chất phác, chứ chẳng được văn minh như ở miền xuôi. Tuy dân số cả huyện không bằng một xã dưới xuôi, nhưng khi xưa bà con cũng chấp hành nghiêm chỉnh chính sách sinh đẻ có kế hoạch của nhà nước. Tương truyền, khi cán bộ dưới xuôi lên hướng dẫn bà con cách thực hiện kế hoạch hóa gia đình, họ thường đeo bao cao su vào quả chuối xanh để minh họa cho bà con hiểu. Sau về nhà, bà con cũng bắt chước đúng như thế, đeo bao cao su cho quả chuối xanh rồi mới yên tâm ngủ được. Có ông còn cẩn thận đeo hai bao liền một lúc, cho nó chắc ăn.
Về đến Hà Nội, hai ông ra bờ Hồ dạo quanh một vòng rồi vào đền Ngọc Sơn xem con rùa chết đặt trong tủ kính. Ông phó thường dân nói:
- Nghe đồn, năm 1969 Bác chết thì con rùa cũng chết theo.
- Thật là linh ứng – ông phó bí thư bình luận.
- Còn một chỗ nữa – ông phó thường dân nói. -Tôi muốn đưa ông đến thăm.
- Chỗ nào?
- Khách sạn Đê-vu của Nam Triều Tiên.
- À, bọn lính Pắc-Chung-Hy!
- Bây giờ làm gì còn Pắc-Chung-Hy. Nó chết từ đời tám hoánh nào rồi. Thời nay cứ thằng nào nhiều tiền là thằng ấy tốt.
- Thôi được – ông phó bí thư nói. - Ông thấy chỗ nào đẹp, cứ dẫn tôi đi.
Hai ông bạn lại dắt nhau ra khách sạn Đê-vu. Vào cửa có anh lính mặc quân phục cúi đầu chào, nhưng hai ông không thèm đáp. Ông phó thường dân dẫn bạn đi thẳng đến chân cầu thang máy, bấm nút. Cửa thang máy tự động mở. Hai ông bước vào cái thang máy mạ vàng óng ánh. Ông phó thường dân đã vào đây nhiều lần, nên vẻ rất thông thạo, lại bấm nút. Cửa tự động đóng lại. Cái thang máy vùn vụt đưa hai ông lên tận sân thượng. Ở đấy có quán ngoài trời, bàn ghế bóng lộn. Cạnh mỗi bàn dựng chiếc ô lớn, trền đề chữ Coca-cola rất to, chẳng khác gì ở bên tây. Khách khứa toàn những ông bà mặt to tai lớn, ăn mặc là lượt, com lê, ca vát, áo dài rất sang trọng. Lại có cả một ông bà người tây. Từ đây có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố. Ông phó thường dân cười ha hả, bảo bạn:
- Đấy, ngắm đi. Thích chưa?
- Đúng là ngoạn mục – ông phó bí thư nói. – Không có ông thì chẳng biết bao giờ mới đến được những chỗ này.
Hai ông đương hàn huyên vui vẻ, bỗng cô gái nhân viên phục vụ trẻ cầm tập giấy con và cái bút đến chào, rồi hỏi:
- Hai ông dùng gì để cháu lấy ạ?
Cả hai ông già đều chột dạ. Các ông lên đây để ngắm cảnh, nào có ý định ăn uống gì. Ăn uống thì phải vào những quán vỉa hè mới rẻ, mà ngon thì cũng như nhau. Ăn ở đây, họ „chém” cho phải chết! Nhưng đã chót phải chét. Ông phó thường dân nói:
- Cháu cho mỗi ông chai hê-li-ken.
- Hay là uống bia Hà Nội cho nó dân tộc? – Ông phó bí thư hỏi.
- Đây chẳng có dân tộc nào cả. - Ông phó thường dân nói. – Dân tộc không sành điệu. Phải uống bia ngoại quốc cho nó máu!
- Các ông có ăn gì không ạ? – Cô nhân viên phục vụ lại hỏi.
- Chờ tý nữa đói các ông sẽ ăn sau. Tạm thời cháu cứ cho hai chai hê-li-ken.
Cô gái mang bia đến, rót ra cốc mời. Hai ông vừa nhấm nháp, vừa đàm đạo, vừa ngắm cảnh rất là hể hả. Được một lúc, ông phó bí thư để ý thấy trên ghế bành cạnh đấy có tờ báo ai bỏ quên, liền với lấy lẩm bẩm đọc. Bỗng ông ngẩng đầu lên bảo:
- Eo ôi. Báo chí gì mà chẳng tuyên truyền chủ trương đường lối của đảng và nhà nước, đưa toàn những tin tiêu tiêu cực như cướp bóc, ma túy, đâm chém, hiếp dâm… Mấy tay phóng viên này đáng phải thải hồi.
- Đường lối của đảng và nhà nước ai cũng hiểu rồi. Bây giờ phải viết thế thì người ta mới đọc, chứ ai bỏ tiền mua báo để đọc những chuyện chán như cơm nguội, kiểu câu trộm gà hay đánh bả chó ở nhà quê bao giờ.
Ông phó bí thư đọc tiếp rồi lại ngẩng đầu lên nói:
- Sao bây giờ lắm trò quái quỷ?
- Trò gì?
- Họ viết là có đến 50% các bà vợ, khi chồng đi công tác thì chuẩn bị bao cao su cho chồng ngoại tình!
- Chúng nó nói khoác – ông phó thường dân phản đối. – Làm gì có chuyện như thế.
- Thì ông nghe đây. – Ông phó bí thư nói rồi ề à đọc – Chị Hòa ở Bắc Ninh kể, do tính chất công việc, nhiều lần anh phải xa nhà 6-7 tháng. Lúc chuẩn bị hành lý cho chồng, chị nhắc khéo: ‘Em cất cả ‘ủng’ vào rồi. Nếu anh có quá chén, không đừng được thì cũng vì Em mà đeo vào nhé’. Anh thường lắc đầu, cười bảo vợ, cứ nghĩ liên thiên….
- Báo chí bây giờ toàn tuyên truyền bậy bạ. – Ông phó thường dân vẫn chẳng tin.
- Đây còn đoạn này nữa. – ông phó bí thư đọc tiếp - Dù ông xã rất hiền lành, đứng đắn, nhưng mỗi lần anh đi công tác, chị đều đặt vài chiếc bao cao su vào ví chồng. Rồi mỗi lần anh về, chị lại lén xem và thở phào khi "áo mưa” vẫn nằm yên chỗ cũ.
- Chúng nó viết để câu khách – ông phó thường dân vẫn khăng khăng phản đối. – „Vôi nào là vôi chẳng nồng, Gái nào là gái có chồng chẳng ghen”. Làm gì có cái thứ đàn bà lại khuyến khích chồng đi ngoại tình bao giờ.
- Vâng, ông nói cũng có lý – ông phó bí thư thừa nhận. – Con mẹ này chắc có mục đích đen tối, định đánh bẫy chồng. Thằng chồng mà dùng bao cao su của nó đặt xem, về nhà có chết với nó không.
- Toàn những chuyện bịa tạc. – Ông phó thường dân bỗng phì cười. - Nhưng bịa thế vẫn chưa hay! Phải tay tôi thì… - Đây cũng xin nói, ông tuy nhà quê, nhưng không phải chỉ biết cầy sâu cuốc bẫm, mà còn hơi hơi biết nghề viết văn. – Phải tay tôi thì tôi sẽ viết thế này: Đến nơi, anh giở ví mình ra, thấy bao cao su chị bỏ vào thì nhếch mép cười mà rằng: - „À, Thị mưu mô ác độc. Mưu ấy chỉ lừa gạt được những hạng như Tào Tháo, chứ làm sao che nổi mắt ta”! Liền mua mấy chục bao khác để dùng. Anh về, chị giở ví anh ra, thấy bao cao su mình bỏ còn nguyên vẹn thì mừng lắm. Từ đó càng yêu anh hơn".
Ông phó bí thư thích chí, phá lên cười. Nhân nghe nhắc đến Tào Tháo, ông cao hứng, liền mang ngay thơ Tam Quốc ra ngâm:
„Bạn đầu bạc ngư tiều trên bãi Mảnh trăng thanh gió mát vui chơi Gặp nhau hồ rượu đầy vơi Xưa nay bao nhiêu việc Phó mặc cuộc nói cười”.
Giải nghĩa: chữ “ngư” ở câu một - tức “ngư phủ”, là người đánh cá; còn chữ “tiều” - tức “tiều phu”, là người kiếm củi. Ông phó bí thư có ý ví bạn mình vẫn ở dưới xuôi, là người đánh cá; còn ông ở trên rừng mới về, nên có thể ví với người kiếm củi được. “Phó mặc cuộc nói cười” tức là bây giờ thì thôi, không quan tâm đến việc đời nữa. Nhưng thực ra chỉ là mơ ước thế thôi, nhiều khi muốn phẩy tay “phó mặc” cũng không được, nhiều việc ở đời cứ như gai đâm vào mắt!
- Ông có nhớ cảnh ngày xưa thằng tây nó đuổi đánh bọn mình ở hồ E-le không? – Ông phó bí thư sực hỏi.
- Đấy là ký ức tuổi thơ, quên thế nào được. – Ông phó thường dân trả lời và thêm - Tên E-le là tây nó đặt. Bây giờ người ta đổi thành hồ… - nhưng ông nghĩ mãi, vỗ cả tay lên trán cũng không thể nhớ ra - Bây giờ đầu óc nó cứ thế nào ấy. Hôm nọ con cháu nó nói rồi mà khổ thế đấy. Hình như là hồ Thống Nhất hay Lê Nin gì đó.
- Thống Nhất hay Lê Nin thì ông cũng cứ đưa tôi ra.
- Hôm nay tối rồi, hay là để đến mai? – Ông phó thường dân đề nghị, nhưng bạn ông nhất quyết không nghe.
Hai ông già lóc cóc ra đến hồ E-le thì đã tà chiều. Các ông lững thững dạo quanh bờ.
Ông phó bí thư không tài nào nhận được hồ xưa. Cảnh vật tuy không còn như cũ, nhưng lối đi, cây cối, thảm cỏ tỉa tót trông cũng rất đẹp. Chỉ có lắm rác rưởi hơn ngày xưa. Ông phó bí thư càng lạ, thấy trời chưa tối hẳn mà trên các ghế đá đã có những đôi nam nữ ngồi ôm ấp, hôn hít nhau. Nhiều vị đầu bạc trắng ôm những cô gái chỉ đáng tuổi con cháu mình. Ông đương ngơ ngác, bỗng có hai cô gái trẻ tiến đến. Một cô váy ngắn, chân cong, cầm cái máy ảnh, toe toét cười, bảo ông:
- Anh chụp giúp em một kiểu!
Ông bị bất ngờ, đứng ngây ra như phỗng. Bạn ông thấy vậy, cười ngặt nghẽo, bảo:
- Kìa, “anh” chụp hộ “em” nó một kiểu!
Ông phó bí thư vẫn không nói được câu gì. Các cô gái thấy vậy, bảo nhau:
- Hai lão nông quê, biết quái gì! – Rồi kéo nhau đi.
Bấy giờ ông phó bí thư mới lẩm bẩm:
- Anh với bố nó, chứ anh gì với nó!
- Không phải anh với bố nó mà phải anh với ông nó, hoặc với cụ nó!
- Ông phó thường dân tiếp lời:
- Ô, thế bây giờ xã hội nó lại thế này à?
- Vâng, bây giờ nó thế đấy.
- Thế này thì hỏng mất.
- Chẳng hỏng thì gì?
- Nhưng sao lại thế?
- Tôi biết đâu được? – ông phó thường dân trả lời – Chế độ là của các ông chứ của tôi đâu. Ông hỏi gì tôi? Những việc ấy bao giờ gặp các cụ Các Mác, Ăng Ghen mới hỏi được. Còn nói chuyện với người sống bây giờ có khác nào như mù nói chuyện về mầu, điếc tranh luận về âm thanh!
Bờ bên kia ánh đèn đã bắt đầu le lói. Hai ông bạn ra về. Ông phó bí thư lại như người bị cấm khẩu, chẳng nói năng gì.
Trương Đình Toe (queviet.pl)